Nguồn : Vững Đại Phát
Thực ra, tất cả những gì chúng ta đang cảm nhận có phải chỉ là giả
thuyết và cấu trúc trừu tượng trong suy tưởng?… Vì sợ sệt những gì
“không biết” nên chúng ta khư khư ôm lấy huyền thoại của quá khứ và quên
đi tương lai?… Tôi ghé thăm Paris bất cứ khi nào có dịp. Tôi yêu Paris
đến độ không bao giờ nghĩ là sẽ sống nơi đây vì sợ mình sẽ thất vọng khi
gần kề người yêu mỗi ngày…
Gần đây, tôi không có duyên với kinh
tế tài chánh. Mấy bài viết cứ bị tháo gỡ, đục bỏ, lắc đầu vì quá nhậy
cảm. Tôi biện hộ là khi dính đến túi tiền của tôi và người dân thì bắt
buộc phải nhậy cảm chứ? Một bà biên tập khác khuyên là anh nên sửa đổi,
viết theo thị hiếu của bạn đọc, chuyên mục về “cướp, hiếp, giết” thì
tương lai viết lách của anh sẽ sáng sủa hơn. Tôi nghĩ thầm, bà này mù
rồi, không thấy các bài viết của tôi chỉ toàn là “cướp, hiếp, giết” hay
sao? Bà tưởng tôi viết về kinh tế đấy chắc?
Nhưng thôi, đành nghe
bà ta vậy. Một đề tài rất nhậy cảm với tôi là Paris, thành phố mà tôi
vẫn gọi là “người tình muôn thuở”. Tôi yêu Paris như rừng yêu lá, như
núi yêu sông, như chim yêu nhạc. Tôi ghé thăm Paris bất cứ khi nào có
dịp. Tôi yêu đến độ không bao giờ nghĩ là sẽ sống nơi đây vì sợ mình sẽ
thất vọng khi gần kề người yêu mỗi ngày.
Paris của tôi là
Montmartre những ngày còn Hemingway, Fitzgerald, Faulkner; là giòng sông
Seine cùa Truffaut, Bardot, Piaf; là những bức tranh của Monet,
Matisse, Lautrec trong những museé nhỏ bé; là những kiến trúc thần kỳ
thăng trầm qua bao thế hệ; là những quán vỉa hè của cô đơn lúc đêm về
sáng; là khu vườn Luxembourg của mùa thu lá vàng như mái tóc người yêu ;
là nhửng con đường lạnh buốt dấu chân trên tuyết trắng. Nói làm sao cho
hết những kỷ niệm và hoài tưởng về Paris thời mới lớn? Viết làm sao cho
đủ những phong cách và hình tượng về Paris thời xế chiều?
Tôi
đến Paris lần đầu khi còn là sinh viên năm cuối của đại học. Trước đó,
như phần lớn người Việt, tôi luôn mang tâm trạng “yêu-ghét” nước Pháp.
Yêu vì lớn lên với văn chương, nghệ thuật, và triết học của các nhà văn
hóa Pháp, nhồi vào đầu sọ mỗi ngày như thói quen ca bài La Marseillaise
mỗi buổi sáng chào cờ. Ghét vì tôi bị bọn bảo vệ Tây bắt gặp và đánh
thừa sống thừa chết ba bốn lần khi trèo lên cây me nhìn trộm mấy bà đầm
tắm trần ở Cercle Sportif (bây giờ là vườn Tao Đàn) lúc tuổi chưa đủ 11.
Paris thay đổi mọi cảm nhận xưa cũ. Thành phố của lịch sử chào đón chú
du khàch trẻ non dại với những cảnh quan thơ mộng, những bữa ăn tuyệt
vời dù chỉ chút bánh mì với fromage, những con người Parisian biết hưởng
thụ với class, bao quanh trong những mẩu chuyện ngắn đẹp hơn cổ tích.
Như phần lớn các du khách trẻ nhiều hormone, tôi phải dành dụm tiền để
vào Moulin Rouge, để đi coi Crazy Horse; để ra Bois de Boulogne thuê một
cô gái điếm.
Tôi gặp Gisele ở đó. Con bé có mái tóc vàng óng,
khuôn mặt đẹp và cặp mắt xanh như dòng sông Danube (dĩ nhiên, khi hồi
tưởng thì trí nhớ hay lầm lạc. Có thể con bé xấu và mập, nhưng không một
anh sinh viên hứng tình nào có thể suy ra điều này). Sau khi đã đồng ý
giá cả, Gisele đưa tôi về một căn hộ tồi tàn cạnh Sorbonne. Tôi hồi hộp
như Armstrong lúc vừa bước xuống mặt trăng.
Con bé cởi đồ, lên
giường rồi ôm tôi hỏi,” sao mắt anh buồn quá vậy?” Tôi ậm ừ, dù muốn trả
lời rằng khi máu lên đến đầu thì mắt thằng đàn ông nào chả mù và buồn?
Sau khi ôm tôi hơn 10 phút, Gisele nói “tôi không thích làm việc đêm
nay, mình ngồi tâm sự đi.” Tôi nghĩ chắc mình bị lừa rồi, nhưng Gisele
trả lại tôi đống tiền franc lúc nãy rồi bắt đầu độc thoại.
Nàng
kể về một xứ Nga của tuổi nhỏ, đẹp và êm đềm. Cho đến ngày cha nàng bị
bắt đi Siberia chỉ vì tội là một trí thức Do Thái, thích hỏi vớ vẩn. Mẹ
nàng tự tử vài năm sau đó. Mới 16 tuổi, Gisele phải qua tay bao nhiêu
người đàn ông lợi dụng sự cô thế của nàng. Năm 20, Gisele chạy thóat
khỏi Nga, rồi làm đủ mọi nghề ở Paris, kể cả làm điếm. Nhưng nàng vẩn đi
học và mơ một ngày không xa, nàng sẽ đến California và mua một căn nhà
cạnh biển. Nàng hỏi tôi đủ mọi chuyện về xứ Mỹ xa xôi, trong khi tôi chỉ
có một ước muốn duy nhất là làm chuyện đồi bại, hủ hóa với đầu óc trống
rỗng. Nhưng vì mệt sau khi lê lết cả ngày trên metro, và cũng vì Gisele
có bộ ngực khá thoải mái, nên tôi và nàng ôm nhau ngủ say như hai đứa
trẻ.
Sáu giờ sáng, nàng đánh thức tôi và hai đứa ra một quán cà
phê nhỏ gần đó làm 2 cái croissants. Không phấn son, giản dị trong chiếc
áo thun mầu trắng, Gisele đẹp dịu hiền như một ma soeur. Hơi sương còn
lành lạnh, xe cộ còn thưa thớt, tôi thanh bình trong ánh nắng đầu ngày,
quên đi mọi chuyện đêm qua, cũng như mọi thứ chung quanh. Chỉ có Gisele
và ly espresso thơm ngọt.
Tôi không bao giờ gặp lại Gisele, nhưng tôi yêu Paris kể từ đêm đó.
Nhưng như tôi đã nói, tôi không bao giờ muốn sống ở Paris, người tình
muôn thuở. Vì Paris không cung ứng đầy đủ ý thích đặc thù cho cá nhân
tôi. Tôi thích cái tiện nghi của những căn nhà hiện đại ở Mỹ, những công
việc kinh doanh tài chánh đầy thử thách của Wall Street, những trải
nghiệm khắp năm châu với nhiều văn hóa đa dạng, với những người tình đủ
mọi sắc mầu. Dù tuyệt vời, nhưng với tôi, Paris vẫn chỉ là một huyền
thoại, dựng lên từ lịch sử, văn hóa và trí tưởng tượng của những tâm hồn
nghệ sĩ. Thực ra, tất cả những gì chúng ta đang cảm nhận có phải chỉ là
giả thuyết và cấu trúc trừu tượng trong suy tưởng? Đây có phải là cái
tháp ngà trí thức mà chúng ta chạy vào ẩn náu khi gặp khó khăn?
Cái tháp ngà thường cho chúng ta những cảm giác an toàn nên mọi người an
phận và không ai muốn quấy rối cho thuyền xao động (Mỹ gọi là rock the
boat). Vì sợ sệt những gì “không biết” nên chúng ta khư khư ôm lấy huyền
thoại của quá khứ và quên đi tương lai. Chúng ta thường chỉ nghĩ đến
bản thân và cố quên rằng còn cả một xã hội ngoài kia với những vấn đề
không ai trăn trở và giải quyết. Như những tín đồ tôn giáo, chúng ta ôm
lấy những cuốn kinh thánh đã viết ra từ mấy ngàn năm để tìm câu trả lời
cho bài toán thời Internet.
Mùa thu vừa đến, đem chút nhung nhớ
về Paris của thơ nhạc. Nhưng thực tế luôn can thiệp. Tôi chợt nhớ là các
nhân viên bên Trung Quốc đang chờ câu trả lời của tôi về tài khỏan vàng
và ngoại tệ, về những bất ổn của cuộc đình công ở nhà máy Triết Giang,
về hồ sơ kế toán phải nộp cho ngân hàng trước cuối tháng. Paris và huyền
thoại phải đợi vậy.
T/S Alan Phan, Chủ tịch Quỹ đầu tư Viasa
(Bài đã đăng trên Vietnamnet/ Tuần Việt Nam vào 20 tháng 10 năm 2011)
T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai.
Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở
Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn
niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm
việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ),
MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA
tại Southern Cross (Úc). Ông đã xuất bản 7 cuốn sách bằng Anh và Việt
ngữ. Email của ông là aphan@asiamail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.
Chủ Nhật, 17 tháng 5, 2015
Niêm yết sàn Mỹ: Ra biển lớn trước khi có bão
Bài Viết Ngày: 29 / 09 / 2011
(VEF.VN) – Cửa sổ của cơ hội vẫn đang còn mở với các doanh nghiệp VN khi ra biển lớn để tìm vốn trên sàn Mỹ. Trên hết, sàn Mỹ vẫn có một thanh khoản rất cao vì dòng tiền đầu tư đang quá dư thừa. Giá chứng khoán vẫn gia tăng kỷ lục trong 2 năm qua, dù tình trạng vĩ mô toàn cầu đang bị đe dọa với rất nhiều rủi ro.
Niêm yết sàn Mỹ: Ra biển lớn trước khi có bãoGần đây mỗi lần về lại VN, tôi thường bị bao vây bởi những doanh nghiệp đang tìm đường hướng ngoại, nhất là trong vấn đề tìm vốn. Với sự tê liệt của thị trường chứng khoán địa phương và một lãi suất vay ngân hàng hơn 20%, các doanh nhân VN bám vào bất cứ phao gì trên mặt nước, từ chiến thuật M&A (mua lại và sát nhập) đến chuyện niêm yết ở các sàn ngoại.
Cuốn sách “Niêm Yết Sàn Mỹ” của tôi xuất bản vào năm 2008 đang nằm ế ẩm như một cô đào già trên các kệ sách thành phố bỗng bán chạy một cách bất ngờ. Dù không ai thực sự muốn trả phí, nhưng anh trợ lý của tôi vẫn được khá nhiều doanh nghiệp hỏi và đề nghị hợp đồng tư vấn để tìm cơ hội lên sàn Mỹ.
Thay vì quảng cáo cho một dịch vụ mà tôi không còn liên quan, tôi lại phải mất nhiều thì giờ để cảnh giác về những thách thức và rào cản của việc Niêm-Yết-Sàn-Mỹ. Theo cảm nhận của tôi, phần lớn các doanh nghiệp VN vẫn chưa sẵn sàng. Những điều kiện để tìm vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hay trái phiếu nghe qua thì khá dễ dàng, nhưng cho đến nay, vẫn chưa một doanh nghiệp VN nào thực hiện được mục tiêu này. Vài ba công ty VN đã được niêm yết, nhưng không có thanh khoản, thị giá thấp kém, rốt cuộc chẳng làm được gì. Bốn lý do chính:
1. Tư duy của ban quản lý: Tôi lập đi lập lại những nguyên tắc căn bản không thể thiếu được khi lên sàn Mỹ: minh bạch (transparency), trung thực và khai báo đầy đủ (full disclosure), kỹ cương đạo đức của công ty và cá nhân ban quản lý (corporate governance); nhất là những mâu thuẫn lợi ích (conflict of interest). Mọi người đều nghe và gật đầu đồng ý; nhưng có lẽ không ai tin vào việc thực thi nghiêm túc các yếu tố này.
Do đó, giống như trải nghiệm của tôi với các công ty bên Trung Quốc, sau một thời gian niêm yết, nhiều công ty đã bị SEC (Cơ Quan Chứng Khoán Mỹ) phạt và loại trừ, một số không toại nguyện nên tự ý rút lui và một số sống vất vưởng chờ thời.
Trong 18 năm từ khi các công ty Trung Quốc bắt đầu niêm yết sàn Mỹ, chỉ hơn 10% các doanh nghiệp là đạt được mục tiêu mong muốn. Tôi nghĩ tỷ lệ thành công của các doanh nghiệp VN cũng sẽ không khá hơn gì. Không có một tư duy điều hành công ty theo đúng đòi hỏi về luật lệ và chuẩn mực của SEC, của cổ đông, của nhà phân tích đầu tư, của thị trường… thì sớm muộn gì, doanh nghiệp cũng thất vọng với sàn Mỹ.
2. Chuyện Niêm Yết và chuyện Bán Cổ Phiếu: Tôi cũng nói rất nhiều lần là chuyện niêm yết trên sàn Mỹ thực sự khá dễ dàng; bạn chỉ cần một bản Cáo Bạch có luật sư chuyên về chứng khoán và một kiểm toán gia có tên trong danh sách của PCAOB ký nhận là SEC sẽ chấp nhận đơn xin niêm yết. Không một đòi hỏi nào khác về doanh thu, lợi nhuận. lịch sử của doanh nghiệp, giấy phép đặc biệt hay những gì khác.
Tuy nhiên, không như ở VN hay Trung Quốc, chuyện bán được cổ phiếu cho các nhà đầu tư lại là một chuyện vô cùng khó khăn. Toàn thế giới, có khoảng 36,000 cổ phiếu đủ loại (sàn Mỹ có hơn 12,000) để các nhà đầu tư lựa chọn. Bạn phải có một lý do khá độc đáo để thuyết phục nhà đầu tư mua cổ phiếu của công ty bạn thay vì Google hay Apple.
Ngoài ra, với những công ty vừa và nhỏ (SME), nếu thị giá của bạn không cao hơn 1 tỷ USD, hay lớn hơn 3 USD/cổ phiếu, phần lớn các quỹ đầu tư lớn (mutual funds) sẽ không được phép mua, dựa trên điều lệ thành lập của quỹ. Do đó, bạn phải biết giới hạn chương trình tiếp thị vào một số nhà đầu tư cá nhân và các quỹ đặc biệt, với những tiêu chí lựa chọn rất đặc thù. Vì vậy, vấn đề bán cổ phiếu của công ty bạn phức tạp và gian nan hơn mọi ước tính.
3. Phí tổn để được tiếp tục niêm yết: Với một công ty nhỏ, giản dị (chỉ có một hình thức kinh doanh độc nhất), phí tổn hàng năm cho các luật sư và nhà kiểm toán cũng phải hơn 150,000 USD; chưa kể đến những chi phí về IR-PR (liên hệ đầu tư, investor relations), tư vấn tài chính, phí để lưu trữ hồ sơ đầu tư (transfer agent), phí đăng ký với các cơ quan chính phủ v.v… Một công ty có chừng 10 công ty con, phải nhân lên gấp 5 lần số tiền nói trên. Do đó, nếu công ty bạn không tìm được một dòng tiền để thỏa mãn nhu cầu này, thì việc lên sàn là một đầu tư không hiệu quả, và khó đạt được mục tiêu ban đầu.
4. Vai trò các tư vấn: Vì không thể mướn đủ nhân viên để lo đầy đủ cho mọi đòi hỏi của việc niêm yết và bán cổ phiếu (lương bên Mỹ rất đắt), nên bạn phải sử dụng đến nhiều nhà tư vấn độc lập. Sự chọn lựa và điều tra kỹ lưỡng về khả năng và kinh nghiệm của các nhà tư vấn này là một điều bắt buộc. Sau đó, phải nhắc nhở Ban Quản Lý cộng tác chặt chẽ với họ để đạt hiệu quả cho mục tiêu. Ham tiết kiệm khoản chi phí này, đôi khi sẽ dẫn đến hậu quả trái ngược.
Ngoài 4 yếu tố căn bản trên, đây là những vấn đề khác phải suy nghĩ về việc Niêm-Yết-Sàn-Mỹ:
- Công ty tư nhân lớn nhất của VN là Ngân Hàng ACB có doanh thu khoảng 900 triệu USD và có thể đựơc xếp hạng là công ty nhỏ (small cap). Còn lại các công ty khác thường thuộc loại công ty siêu nhỏ (mini hay micro cap), theo tiêu chuẩn Mỹ. Khi đầu tư vào các công ty nhỏ, các nhà đầu tư quốc tế thường chọn những cổ phiếu có tính đột phá mạnh và có lợi thế về công nghệ với khả năng phủ hàng khắp thị trường toàn cầu. Các ngành nghề được ưa thích là công nghệ IT, sinh hóa học (biotech), năng lượng xanh, dược phẩm, truyền thông trên mạng hay các công ty có sức sáng tạo độc đáo. Các ngành nghề không ai muốn đầu tư là xây dựng hay địa ốc (các công ty Mỹ Âu đang bị te tua về ngành này), sản phẩm tiêu dùng (bị những công ty đa quốc lớn độc chiếm thị trường), nhà máy sản xuất hàng thông dụng (dư thừa nguồn cung trên thế giới), hay các dịch vụ không thể phát triển ngoài nội địa.
- Các nhà đầu tư vào các công ty SME thường có tính phiêu lưu giống như các quỹ mạo hiểm. Họ không có một chiến lược lâu dài (hơn 3 năm) và không có kiên nhẫn để chờ đợi kết quả (với giá cổ phiếu). Do đó, khi chọn đây là khách hàng mục tiêu, doanh nghiệp sẽ phải điều chỉnh các hoạt động thiên về M&A để phát triển nhanh chóng, tạo thanh khoản (nhờ những PR ồn ào) và làm tăng giá cổ phiếu. Các chiến lược bài bản về chất lượng có thể bị hy sinh cho những mục tiêu ngắn hạn theo đòi hỏi của các cổ đông loại này. Vì vậy, đây sẽ là một vấn nạn đạo đức về chiến lược khó giải quyết.
- Gần đây, các cổ phiếu SME của Trung Quốc bị khám phá là có nhiều vấn đề về khai báo và đang tạo ra một tiếng xấu tệ hại (tương tự với vấn đề an toàn thực phẩm của Trung Quốc). Một phong trào tẩy chay các cổ phiếu Trung Quốc đang được cổ súy lan tràn trên mạng và trong giới đầu tư ở Âu Mỹ. Những bùa phép thủ thuật để lèo lái cổ phiếu cũng như đạo đức cá nhân của các nhà quản lý đang bị phơi trần hàng ngày, cùng với lời kêu gọi SEC phải “mạnh tay” hơn trong việc xử lý các vi phạm của doanh nghiệp Trung Quốc. Vì sự thiếu hiểu biết, giới tài chánh Âu Mỹ thường cho VN và Trung Quốc là “cá mè một lứa”, nên ảnh hưởng xấu này có thể làm hại đến cơ hội lên sàn Mỹ của các công ty VN.
Nói tóm lại, cửa sổ của cơ hội vẫn đang còn mở với các doanh nghiệp VN khi ra biển lớn để tìm vốn trên sàn Mỹ. Trên hết, sàn Mỹ vẫn có một thanh khoản rất cao vì dòng tiền đầu tư đang quá dư thừa. Giá chứng khoán vẫn gia tăng kỷ lục trong 2 năm qua, dù tình trạng vĩ mô toàn cầu đang bị đe dọa với rất nhiều rủi ro.
Thực ra, nhiều chuyên gia phân tích đang cảnh báo về một “thiên nga đen” (black swan) có thể xảy đến vào 2012. Nếu công ty bạn có thể vượt qua các thách thức kể trên dễ dàng, tôi khuyên là nên tạo kế hoạch ra biển lớn thật nhanh trước khi bão đến. Trên mọi thị trường tài chính, qua bao thăng trầm, nắm bắt thời điểm vẫn là tất cả (timing is everything).
T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là aphan@asiamail.com và Web site cá nhân là www.ghinalan.com.
T/S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa
Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015
Tư Liệu: NIÊM YẾT SÀN MỸ QUA ADR
Nguồn : Vững Đại Phát
Con Đường Ngắn Cho Doanh Nghiệp Đã Niêm Yết
Alan Phan
Định nghĩa ADR
ADR (American Depositary Receipt) là một chứng chỉ phát hành bởi một ngân hàng lớn của Mỹ chứng nhận người sở hữu là chủ nhân của một “số lượng cổ phần” của một “công ty nước ngoài”. ADR thường tương đương với giá trị của cổ phần đang được lưu hành tại sàn chứng khoán nước sở tại. Chẳng hạn, nếu cổ phiếu ADR của HSBC tại Mỹ (NYSE) có giá $49; thì giá trị của số cổ phiếu trong một ADR của HSBC cũng có một giá trị tương đương trong ngày tại sàn Hong Kong.
Khác biệt là giá cổ phiếu của nước ngoài dùng ngoại tệ như Euro tại châu Âu, yen tại Nhật, AUD tại Úc, thì ADR đều được hoán chuyển và giao dịch bằng US dollar. Mọi rủi ro, số cổ tức hay trồi sụt về giá cả cổ phiếu đều do giao dịch tại sàn chứng khoán nước sở tại (nơi công ty niêm yết chính thức) quyết định.
Lý do các nhà đầu tư Mỹ chuộng ADR vì ADR thuận tiện cho việc kế toán tại Mỹ, không bắt người sở hữu phải lo lắng về thuế vụ nước ngoài hay phí tổn hành chánh. ADR thường được niêm yết trên các sàn NYSE, AMEX, Nasdaq hay OTC nên mọi giao dịch đều có thanh khoản cao.
Mục Tiêu Vốn của ADR
ADR có thể dùng để gây vốn cho doanh nghiệp như một cổ phiếu đã đươc niêm yết trên sàn Mỹ.
Vốn đến từ IPO, phát hành thứ cấp (secondary offering), trao đổi cổ phiếu trong M&A, bán riêng tư (private placement – Rule 144A của SEC), bán ngoài nước Mỹ (Reg S của SEC), trả lương cho nhân viên, đối tác hay tư vấn…
Số tiền gây được tùy vào tầm cỡ, tình trạng tài chánh, chương trình tiếp thị của doanh nghiệp; cũng như thanh khoản của thị trường vốn.
Lợi điểm ADR so với các phương cách khác
ADR tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp bạn có một kênh gây vốn ngoài Việt Nam; và sẽ làm gia tăng thanh khoản của cổ phiếu doanh nghiệp.
Thủ tục ADR
Để được phép phát hành ADR, ngân hàng bảo lãnh phải nộp đầy đủ hồ sơ về doanh nghiệp (Form F-1) cho SEC và lo thủ tục quản kho (custodian). Ngoài ra, doanh nghiệp cần tư vấn về mặt kế toán, pháp lý, ngân hàng, tiếp thị, PR và iR (investor relation); nhất là filing hàng năm (20-F).
Nguyên tắc để thành công trong ADR
Minh bạch (transparency) và hoàn toàn khai mở (full disclosure).
Các information khác
Xin liên hệ info@usaseanfund.com; or jackusaseanfund@gmail.com
Xin vui lòng xem chi tiết thông tin tại:
http://www.gocnhinalan.com/
Con Đường Ngắn Cho Doanh Nghiệp Đã Niêm Yết
Alan Phan
Định nghĩa ADR
ADR (American Depositary Receipt) là một chứng chỉ phát hành bởi một ngân hàng lớn của Mỹ chứng nhận người sở hữu là chủ nhân của một “số lượng cổ phần” của một “công ty nước ngoài”. ADR thường tương đương với giá trị của cổ phần đang được lưu hành tại sàn chứng khoán nước sở tại. Chẳng hạn, nếu cổ phiếu ADR của HSBC tại Mỹ (NYSE) có giá $49; thì giá trị của số cổ phiếu trong một ADR của HSBC cũng có một giá trị tương đương trong ngày tại sàn Hong Kong.
Khác biệt là giá cổ phiếu của nước ngoài dùng ngoại tệ như Euro tại châu Âu, yen tại Nhật, AUD tại Úc, thì ADR đều được hoán chuyển và giao dịch bằng US dollar. Mọi rủi ro, số cổ tức hay trồi sụt về giá cả cổ phiếu đều do giao dịch tại sàn chứng khoán nước sở tại (nơi công ty niêm yết chính thức) quyết định.
Lý do các nhà đầu tư Mỹ chuộng ADR vì ADR thuận tiện cho việc kế toán tại Mỹ, không bắt người sở hữu phải lo lắng về thuế vụ nước ngoài hay phí tổn hành chánh. ADR thường được niêm yết trên các sàn NYSE, AMEX, Nasdaq hay OTC nên mọi giao dịch đều có thanh khoản cao.
Mục Tiêu Vốn của ADR
ADR có thể dùng để gây vốn cho doanh nghiệp như một cổ phiếu đã đươc niêm yết trên sàn Mỹ.
Vốn đến từ IPO, phát hành thứ cấp (secondary offering), trao đổi cổ phiếu trong M&A, bán riêng tư (private placement – Rule 144A của SEC), bán ngoài nước Mỹ (Reg S của SEC), trả lương cho nhân viên, đối tác hay tư vấn…
Số tiền gây được tùy vào tầm cỡ, tình trạng tài chánh, chương trình tiếp thị của doanh nghiệp; cũng như thanh khoản của thị trường vốn.
Lợi điểm ADR so với các phương cách khác
ADR tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp bạn có một kênh gây vốn ngoài Việt Nam; và sẽ làm gia tăng thanh khoản của cổ phiếu doanh nghiệp.
Thủ tục ADR
Để được phép phát hành ADR, ngân hàng bảo lãnh phải nộp đầy đủ hồ sơ về doanh nghiệp (Form F-1) cho SEC và lo thủ tục quản kho (custodian). Ngoài ra, doanh nghiệp cần tư vấn về mặt kế toán, pháp lý, ngân hàng, tiếp thị, PR và iR (investor relation); nhất là filing hàng năm (20-F).
Nguyên tắc để thành công trong ADR
Minh bạch (transparency) và hoàn toàn khai mở (full disclosure).
Các information khác
Xin liên hệ info@usaseanfund.com; or jackusaseanfund@gmail.com
Xin vui lòng xem chi tiết thông tin tại:
http://www.gocnhinalan.com/
Think and Grow Rich
Nguồn : Vững Đại Phát
Cuốn Sách Mọi Doanh Nhân Cần ĐọcTác giả: Lâm Minh Chánh – Theo Doanh Nhan Saigon - 5 May 2015
Cuốn sách “Think and Grow Rich” là kết quả của công trình nghiên cứu hơn 20 năm của tác giả, dưới sự bảo trợ của nhà tài phiệt Andrew Carnegie.
Tác giả đã phỏng vấn Henry Ford, William Jennings Bryan, George Eastman, John D.Rocketfeller, Clarence Darow, và hàng trăm người thành công và giàu có khác. Từ kết quả phỏng vấn, tác giả tổng hợp thành 13 nguyên tắc được ví như 13 nấc thang của hành trình làm giàu.
Cuốn sách này không trình bày sâu về cách làm giàu, mà tập trung vào “suy nghĩ giàu” và truyền tải thông điệp: nếu biết cách và rèn luyện suy nghĩ của mình, chúng ta sẽ thành công và giàu có
Think and Grow Rich liên tục nằm trong danh sách bán chạy từ khi nó được xuất bản năm 1937.
Tác giả Naponeon Hill (1883 – 1970) được xem là người sáng lập và là tác giả hàng đầu của dòng sách về thành công cá nhân. Ông cũng là cố vấn của Tổng thống Franklin D.Roosevelt từ năm 1933 đến 1936.
Những tác phẩm của ông, đặc biệt là cuốn Think and Grow Rich (Nghĩ giàu và làm giàu) đã giúp cho rất nhiều người thành công và giàu có.
13 nấc thang trong hành trình làm giàu
Nấc thang thứ nhất: Khao khát
Khao khát đơn thuần không chỉ là hy vọng hay ước mơ. Khi khao khát, chúng ta mong muốn một cách mãnh liệt và rõ ràng. Chính sự khao khát cháy bỏng này đã giúp những người sau đây đạt được ước mơ của mình.
Henry Ford chế tạo thành công xe hơi – một phương tiện vận chuyển không dùng ngựa; Thomas Edison chế tạo thành công bóng đèn điện; anh em nhà Wright chế tạo chiếc máy có thể bay, Mme.Schumann – Heink đã trở thành nữ ca sĩ opera nổi tiếng bất chấp sự bắt đầu rất không thuận lợi; Edwin C.Barnes – một người hết sức bình thường cuối cùng đã trở thành đối tác của nhà sáng chế Thomas Edison…
Họ và những người thành công vượt bậc khác sẵn sàng đặt cược vào khát khao cháy bỏng của mình. Edwin C.Barnes đã đặt cược cả tương lai của mình và làm mọi thứ để được Thomas Edison chấp nhận làm đối tác.
Để trở nên giàu có, trước hết chúng ta cần có một khát khao giàu có mãnh liệt, và thực hiện những bước sau đây để biến khát khao đó thành sự thật:
Bước 1: Xác định số tiền mà chúng ta muốn có. Chú ý là số tiền phải được xác định chính xác thì mới có ý nghĩa.
Bước 2: Xác định chính xác những gì chúng ta phải “hy sinh”: thời gian, công sức, những đầu tư khác… để có được số tiền trên.
Bước 3: Thiết lập thời gian cụ thể để đạt được khoản tiền đó.
Bước 4: Lập kế hoạch cụ thể cho việc thực hiện, và bắt tay vào thực hiện ngay, không chần chừ vì bất cứ lý do nào.
Bước 5: Viết một tuyên bố ngắn gọn mô tả 4 bước trên.
Bước 6: Đọc tuyên bố này thật to trước khi đi ngủ và ngay sau khi thức dậy. Khi đọc hãy hình dung, cảm nhận và tin tưởng rằng chúng ta đang sở hữu số tiền đó.
“Nếu chúng ta không sở hữu số tiền này bằng trí tưởng tượng thì số tiền này cũng khó mà nằm trong tài khoản ngân hàng của chúng ta”.
Nấc thang thứ hai: Niềm tin
Niềm tin là một trạng thái của nhận thức, được hình thành bằng việc khẳng định những suy nghĩ lặp đi lặp lại trong tiềm thức thông qua nguyên tắc tự động nhắc – hay còn gọi là tự ám thị.
Mặc dù rất khó để xây dựng, nhưng niềm tin là điều tối cần thiết để thành công.
Niềm tin biến những rung động của ý nghĩ thành sức mạnh tinh thần, và giúp chúng ta khai thác trí tuệ vô hạn vốn tiềm ẩn trong mỗi con người. Niềm tin là thuốc giải hiệu quả đối với thứ độc dược mang tên thất bại.
Những bí quyết xây dựng niềm tin:
- Tự tin năng lực của mình trong việc chinh phục mục tiêu, kiên trì và thực hiện những hành động để đi tới thành công
- Nhận biết rằng những suy nghĩ sẽ ảnh hưởng tới hành động, và do đó mỗi ngày sẽ tập trung 30 phút vào việc suy nghĩ về con người mà chúng ta muốn trở thành.
- Sử dụng 10 phút hằng ngày để xây dựng sự tự tin.
- Viết rõ ràng mục đích chính xác trong cuộc đời của chúng ta.
Cam kết sẽ làm theo lẽ phải và công bằng, không làm gì đi ngược lại lợi ích chính đáng của mọi người xung quanh. Trí tưởng tượng và niềm tin của Charles M.Schwab chính là nhân tố cốt lõi cho sự ra đời thành công của tập đoàn thép hùng mạnh và giàu có hàng đầu nước Mỹ.
Nấc thang thứ ba: Tự ám thị
Tự ám thị nói về sự tự nhắc lại và tự kích thích nhận thức thông qua năm giác quan. Tiềm thức của chúng ta giống như một khu vườn màu mỡ. Nếu chúng ta xao lãng, không kiểm soát thì những hạt giống xấu – những ý nghĩ tiêu cực, thất bại sẽ mọc um tùm. Nếu chúng ta biết kiểm soát và sử dụng đúng, thì tự ám thị sẽ gieo những hạt giống tốt – những suy nghĩ tích cực.
Mục tiêu của tự ám thị là xây dựng tiềm thức cho thành công. Bước thứ sáu của khát khao yêu cầu chúng ta đọc một tuyên bố của bản thân hai lần mỗi ngày. Khi làm như vậy, chúng ta gắn khát khao vào tiềm thức và xây dựng niềm tin.
Nhưng nếu chúng ta đọc những tuyên bố cá nhân của mình mà không có một cảm xúc nào đi kèm, thì sẽ không đem lại kết quả vì tiềm thức chỉ chấp nhận những suy nghĩ có cảm xúc mà chúng ta tin tưởng. Do vậy, những suy nghĩ, những ngôn từ của chúng ta dùng trong ám thị phải có cảm xúc và niềm tin thì mới có thể tác động, tạo ảnh hưởng lên tiềm thức.
Chúng ta cần tập trung cao độ khi thực hiện tự ám thị. Khi đọc lại tuyên bố khát khao của cá nhân, chúng ta cần phải tập trung suy nghĩ và tưởng tượng chính xác số tiền mà chúng ta khát khao muốn sở hữu.
Cách để thực hiện tự ám thị hiệu quả: Ở một mình tại nơi yên tĩnh, chẳng hạn như trên giường vào ban đêm, nhắm mắt lại và lớn tiếng lặp lại tuyên bố về số tiền mà chúng ta khao khát có. Hãy hình dung là chúng ta đang sở hữu và sử dụng số tiền đó. Dán bản tuyên bố đó nơi chúng ta có thể thấy và đọc vào mỗi buổi sáng và buổi tối cho đến khi thuộc lòng.
Nấc thang thứ tư: Kiến thức chuyên ngành
Kiến thức tổng quát và những gì được dạy một cách chính thống không giúp chúng ta làm giàu. Những người giàu có là những người biết tổ chức, sử dụng kiến thức của mình để xây dựng những kế hoạch hành động thực tế, và hướng đến những mục đích rõ ràng.
Henry Ford là một người không có nhiều kiến thức tổng quát, nhưng không có nghĩa là ông ngu dốt như một tờ báo ở Chicago đã phỉ báng ông. Trong phiên toà kiện tờ báo, ông đã không trả lời được những câu hỏi chi tiết về kiến thức tổng quát do tờ báo đưa ra. Ông cho rằng ông không cần thiết phải tự trả lời, những người làm việc cho ông – giỏi về kiến thức tổng quát – có thể trả lời những câu hỏi này. Ông đã thắng phiên toà này. Ông đã chứng minh rằng kiến thức của một người không đo bằng những gì họ biết mà đo bằng khả năng tìm những câu trả lời.
Để có khả năng biến khát khao thành tiền, chúng ta cần có kiến thức chuyên ngành về dịch vụ, hang hoá, hoặc nghề nghiệp mà chúng ta định hướng sẽ làm để đạt sự giàu có.
Khi đã xác định kiến thức cần tiếp thu, chúng ta cần tiến hành tiếp thu từ những nguồn sau: học vấn và kinh nghiệm của cá nhân chúng ta; tri thức và kinh nghiệm của những người khác, đặc biệt là Nhóm Trí Tuệ (gồm những người trí tuệ mà chúng ta thành lập trong tưởng tưng); các trường đại học, trung học; thư viện, những khoá huấn luyện chuyên ngành.
Nấc thang thứ năm: Trí tưởng tượng
Trí tưởng tượng chắp cánh cho khát khao, và cũng là công cụ trong việc tạo ra các kế hoạch để thành công. Những thành tựu to lớn mà loài người đã đạt được giúp chúng ta khẳng định rằng chúng ta hầu như có thể thực hiện được những gì chúng ta tưởng tượng ra.
Có hai hình thức của trí tưởng tượng: trí tưởng tượng tổng hợp và trí tưởng tượng sáng tạo.
Trí tưởng tượng tổng hợp dựa vào kinh nghiệm, kiến thức, và quan sát của chúng ta. Nó giúp chúng ta sắp xếp những khái niệm, ý tưởng, hay kế hoạch.
Trí tưởng tượng sáng tạo giúp chúng ta khám phá ra sức mạnh của trí tuệ vô hạn. Trí tưởng tượng sáng tạo chỉ được kích hoạt những khi nhận thức của chúng ta hoạt động với tốc độ cao, chẳng hạn như khi nó được kích thích bởi một khát khao cháy bỏng.
Thương hiệu Coca-Cola – thương hiệu hàng đầu và đắt giá nhất thế giới – được sinh ra từ một ý tưởng, một công thức đặc biệt mà Asa Candler đã sáng tạo ra. Chính trí tưởng tượng tuyệt vời của ông đã biến chiếc nồi cũ trị giá 500 đô la Mỹ thành những nhà máy tuyển dụng hàng triệu người và chế tạo ra hàng tỷ chai nước giải khát Coca-Cola được tiêu thụ khắp thế giới.
Chính nhờ trí tưởng tượng mà Tu sĩ – Tiến Sĩ Frank W.Gunsaulus đã nhận được 1 triệu đô la tài trợ từ ông Philip D.Armour để xây dựng trường Đại học Công nghệ Armour.
Cũng nhờ trí tưởng tượng của ông Andrew Carnegie và khát khao của tác giả mà cuốn sách “Nghĩ giàu và làm giàu” đã được ra đời, giúp cho hàng triệu người đạt được ước mơ giàu có.
Nấc thang thứ sáu: Lập kế hoạch
Quá trình làm giàu bắt đầu với khát khao cháy bỏng, với sự tưởng tượng, và cuối cùng được thể hiện qua việc lập kế hoạch.
Các bước để phát triển một kế hoạch:
- Thành lập một Nhóm Trí Tuệ gồm những người cần thiết để giúp chúng ta thực hiện kế hoạch.
- Xác định những lợi ích – có thể không phải bằng tiền – chúng ta đem lại cho các thành viên của nhóm.
- Gặp gỡ các thành viên của nhóm ít nhất 1 tuần 2 lần cho đến khi chúng ta xây dựng được kế hoạch cụ thể.
- Tạo mối quan hệ tốt giữa các thành viên của nhóm.
Chúng ta có thể tự lập kế hoạch, nhưng những chi tiết và kế hoạch cần phải được kiểm tra và nhận được sự chấp nhận của các thành viên trong Nhóm Trí Tuệ.
Nếu kế hoạch đầu tiên thất bại thì chúng ta phải thay thế nó bằng một kế hoạch khác, và sẵn sàng thay thế kế hoạch mới cho đến khi thành công.
Thomas Edison đã thất bại 10.000 lần trước khi ông hoàn thiện việc phát minh bóng đèn. Edison đã không thất bại, ông chỉ thất bại tạm thời cho đến khi thành công. Chúng ta phải biết chấp nhận những thất bại tạm thời và chỉnh sửa kế hoạch hành động cho đến khi thành công.
Lãnh đạo và thừa lệnh là 2 kiểu người khác nhau. Những người lãnh đạo nhận được thu nhập cao hơn nhiều lần so với những người thừa lệnh. Nếu là người thừa lệnh, chúng ta hãy là người thừa lệnh thông minh, để có cơ hội học hỏi từ những nhà lãnh đạo của mình.
Các phẩm chất của nhà lãnh đạo thành công: lòng dũng cảm, tự kiểm soát, công bằng, quyết đoán, có kế hoạch cụ thể, thói quen làm nhiều hơn thu nhập nhận được, tính cách dễ gần, cảm thông và thấu hiểu, nắm vững các chi tiết, sẵn lòng chịu mọi trách nhiệm, hợp tác.
Những sai lầm dẫn đến thất bại của các nhà lãnh đạo: không có khả năng tổ chức sắp xếp các chi tiết; không sẵn lòng đảm trách những việc “khiêm tốn”; kỳ vọng được nhận thu nhập dựa trên những gì họ biết chứ không phải những gì họ làm dựa trên sự hiểu biết đó; sợ hãi, lo lắng từ sự cạnh tranh của cấp dưới; thiếu trí tưởng tượng; ích kỷ, chỉ lo cho bản thân; thiếu khả năng kiềm chế; không chung thuỷ, trung thành; nhấn mạnh đến quyền hạn của người lãnh đạo, nhấn mạnh đến chức vụ.
Nâng cao chỉ số QQS. Để quảng bá cá nhân hiệu quả, chúng ta phải nâng cao chỉ số QQS – chất lượng dịch vụ (Quality of Servic), số lượng dịch vụ (Quanlity of Service) và tinh thần làm việc (Spirit of Service).
Chất lượng dịch vụ là sự hoàn thiện đến từng chi tiết liên quan tới công việc của chúng ta với tinh thần không ngừng làm tốt hơn.
Số lượng dịch vụ là thói quen mở rộng và thực hiện các công việc với kỹ năng ngày càng hoàn hảo.
Tinh thần làm việc là thói quen làm việc một cách hoà hợp và hợp tác tốt với đồng nghiệp, đối tác.
Nấc thang thứ bảy: Quyết đoán
Một trong những lý do hàng đầu khiến mọi người thất bại là sự do dự, trì hoãn. Để thành công, chúng ta phải quyết đoán trong việc đưa ra quyết định và hành động. Đa số những người giàu có ra quyết định nhanh và nếu có thay đổi thì khá chậm. Những người không giàu có thường quyết định chậm, nhưng khi thay đổi quyết định thì nhanh chóng và thường xuyên.
Những nhà lãnh đạo quyết đoán ra quyết định một cách nhanh chóng và chắc chắn vì họ biết rõ mục đích của mình. Và nhờ tính quyết đoán, thông thường họ sẽ đạt được mục đích của mình.
Nấc thang thứ tám: Kiên trì
Kiên trì, bền chí là một nhân tố cần thiết trong quá trình biến khát khao, mong muốn thành những thành quả hiện thực. Chính sức mạnh ý chí cùng với sự kiên trì bền chí đã đem lại thành công cho đa số những người giàu có.
Trong khi hầu hết chúng ta đều sẵn sàng từ bỏ mục tiêu và dự định của mình khi vấp phải những khó khăn đầu tiên, thì những người thành công vượt trội không chịu đầu hàng trước bất cứ khó khăn nào. Đó chính là những người như Ford, Carnegie, Rockefeller, Edison…
Tiểu thuyết gia Fannie Hurst đã bị nhà xuất bản gửi thư từ chối đến 36 lần. Thế nhưng, bà vẫn kiên trì viết và gửi tác phẩm trong suốt 4 năm trời. Cuối cùng, sự kiên trì của bà đã được đền đáp. Các nhà xuất bản tranh nhau xuất bản sách của bà.
Ca sĩ Kate Smith đã kiên trì hát không công, không tiền, không giải thưởng trong một thời gian dài và cuối cùng đã được Broadway công nhận và trở thành ca sĩ hàng đầu tại Broadway.
Việc áp dụng những nguyên tắc trong cuốn sách này để làm giàu cũng vậy. Chúng ta cần áp dụng tất cả 13 nguyên tắc với sự kiên trì thì mới có thể thành công.
8 nhân tố để tạo nên sự kiên trì là: xác định mục đích rõ ràng, khát vọng, tự lực, có kế hoạch chi tiết, có kiến thức, tinh thần hợp tác, sức mạnh ý chí, thói quen.
4 bước để phát triển tính kiên trì:
1/ Mục tiêu rõ ràng cụ thể dựa trên khát khao cháy bỏng.
2/ Một kế hoạch chi tiết bao gồm những hành động liên tục.
3/ Độc lập về nhận thức, không bị ảnh hưởng của sự chỉ trích, ý kiến tiêu cực từ những người khác.
4/ Được sự khuyến khích để theo đuổi mục tiêu và thực hiện kế hoạch. Sự khuyến khích không ngừng này đến từ một hay vài người bạn của chúng ta.
4 bước này cực kỳ quan trọng. Chúng không chỉ giúp chúng ta phát triển tính kiên trì mà còn giúp cho chúng ta thành công trên bất cứ lĩnh vực nào.
Toàn bộ 13 nguyên tắc cũng giúp chúng ta biến chúng trở thành thói quen.
Nấc thang thứ chín: Sức mạnh trí tuệ
Những kế hoạch sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng ta không đủ sức mạnh để biến chúng thành hành động.
Sức mạnh giúp chúng ta tích luỹ tiền và duy trì tiền đã được tích luỹ. Sức mạnh là kiến thức được tổ chức và định hướng một cách thông minh.
Ba nguồn kiến thức chính để tạo nên sức mạnh: trí tuệ vô hạn, trải nghiệm, thí nghiệm và nghiên cứu. Kiến thức được thu thập từ các nguồn trên sẽ trở thành sức mạnh nếu chúng ta biết cách tổ chức chúng thành kế hoạch và biến những kế hoạch thành hành động.
Làm chủ nhận thức để tạo ra sức mạnh là sự phối hợp hài hoà kiến thức và nỗ lực của hai hay nhiều người – Nhóm Trí Tuệ – để đạt một mục tiêu nhất định.
Việc sử dụng Nhóm Trí Tuệ sẽ đem đến cho chúng ta lợi ích kinh tế và lợi ích tinh thần. Nghiên cứu cho thấy tất cả những người giàu có đều sử dụng Nhóm Trí Tuệ một cách vô thức hay có nhận thức.
Andrew Carnegie xác nhận rằng ông thành công và trở nên giàu có nhờ sự góp sức của Nhóm Trí Tuệ – gồm 50 người với cùng mục đích sản xuất và bán thép. Sự nghiệp kinh doanh của Henry Ford trở nên thăng hoa nhờ vào sự hợp tác và hỗ trợ của người bạn – nhà phát minh Thomas Edison.
Nấc thang thứ mười: Chuyển hoá tính dục
Chuyển hoá tính dục là chuyển hoá cảm xúc tính dục – một trong những cảm xúc mạnh mẽ nhất của con người – thành năng lượng sáng tạo.
Mong muốn tính dục là một trong những mong muốn mạnh mẽ nhất của con người và có thể tạo ra những rủi ro cho chúng ta. Nhưng khi được kiểm soát và định hướng, dục năng có thể trở thành một sức mạnh sáng tạo trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tích luỹ và làm giàu.
Nghiên cứu khoa học cho thấy: những thành tựu xuất sắc thường là của những người có bản chất tính dục phát triển mạnh và biết được cách chuyển hoá tính dục; nhiều người giàu có hay thành công phần đông đều được tạo động lực nhờ ảnh hưởng của tình yêu sâu đậm đối với một người nào đó.
Nấc thang thứ mười một: Tiềm thức
Chúng ta không thể hoàn toàn kiểm soát tiềm thức của mình, nhưng có thể chủ động “cấy” vào tiềm thức của mình bất cứ kế hoạch, suy nghĩ, hay mục tiêu giúp chuyển hoá tiềm thức thành vật chất hay tiền bạc.
Điều này quan trọng bởi vì tiềm thức làm việc một cách tự động không ngơi nghỉ. Tiềm thức phản ứng với những khát khao, suy nghĩ thống trị trong nhận thức của mỗi chúng ta.
Có nhiều bằng chứng cho thấy tiềm thức chính là con đường kết nối giữa trí tuệ hữu hạn với trí tuệ vô hạn. Khả năng của những nỗ lực sáng tạo kết hợp với tiềm thức gần như là vô tận mà chúng ta chưa thể hiểu hết.
Bảy cảm xúc tích cực: khát khao, niềm tin, tình yêu, tình dục, nhiệt tình, lãng mạn, hy vọng.
Bảy cảm xúc tiêu cực: sợ hãi, ghen tị, thù hận, trả thù, tham lam, mê tín, giận dữ.
Nhận thức của chúng ta không thể cùng lúc chứa cảm xúc tích cực và tiêu cực. Một trong hai nhóm cảm xúc sẽ đóng vai trò chủ đạo. Nhiệm vụ của chúng ta là tạo ra một thói quen để giúp cho cảm xúc tích cực thống trị trong tâm thức của chúng ta.
Nấc thang thứ mười hai: Bộ não
Bộ não là trung tâm của con người, vừa là trạm thu vừa là trạm phát sóng. Tiềm thức là trạm phát tín hiệu của bộ não, phát đi những xung lực ý nghĩ. Còn trí tưởng tượng sáng tạo là trạm thu sóng, nơi thu nhận những xung lực ý nghĩ.
Nấc thang thứ mười ba: Giác quan thứ sáu
Thông qua giác quan thứ sáu, trí tuệ vô hạn sẽ giao tiếp một cách tự nguyện mà không cần chúng ta phải nỗ lực hay yêu cầu.
Giác quan thứ sáu là một phần của tiềm thức vốn được đề cập như trí tưởng tượng sáng tạo. Giác quan thứ sáu cũng được xem như thiết bị thu sóng. Nó thu nhận những ý tưởng, kế hoạch, và đặc biệt là những suy nghĩ vừa loé lên. Những suy nghĩ vừa loé lên này gọi là cảm hứng hay linh cảm.
Giác quan thứ sáu gần như là nơi trung gian giữa trí tuệ hữu hạn của con người với trị tuệ vô hạn. Nó là sự pha trộn giữa tinh thần và trí tuệ. Nó cũng là điểm tiếp xúc giữa nhận thức của con người và nhận thức của vũ trụ.
Sau khi nắm vững những nguyên tắc trên đây, chúng ta – hoàn toàn không mê tín – sẽ nhận thấy rằng: Với sự trợ giúp của giác quan thứ sáu, chúng ta sẽ được cảnh báo kịp thời về những hiểm nguy sắp xảy ra để kịp thời né tránh, cũng như được thông báo về những cơ hội để nắm bắt và làm giàu.
Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015
Loạt Bài Về Hướng Đi Cho Nông Nghiệp Việt
Nguồn : Vững Đại Phát
Bài 3: Israel thành cường quốc nông nghiệp bằng cách nào?
Tổng Hợp: Thu Thảo (Theo Israel21c) 02 tháng 4, 2015
Trên đất sa mạc, Israel đã nhanh chóng thành nhà xuất khẩu lương thực hàng đầu của thế giói. Tại sao?
Lý do là vì người Israel đã không ngừng tìm tòi, sáng tạo và liên tục vận dụng những công nghệ tiên tiến nhất để tạo nên những điều thần kỳ cho nền nông nghiệp nước nhà. Không những thế, sự phát triển của Israel thậm chí đã làm thay đổi diện mạo nền nông nghiệp thế giới.
Tưới nhỏ giọt
Nước và đất là hai yếu tố không thể thiếu đối với trồng trọt. Trong khi đó, lượng mưa trung bình của Israel chỉ khoảng 50mm/năm, phần lớn diện tích là sa mạc. Cái khó đã khiến những người dân Do Thái trăn trở và sáng tạo nên hệ thống tưới nước nhỏ giọt.
Với công nghệ này, chỉ có một lượng giọt nước nhất định được đưa qua đường ống và dẫn vào gốc cây mỗi ngày, vừa đảm bảo sự sinh trưởng của cây, vừa tiết kiệm nước một cách tối đa.
Và cũng nhờ tưới nhỏ giọt, sản phẩm công nghệ của Israel đã giúp 700 hộ nông dân ở Senegal canh tác 3 vụ/năm thay vì chỉ một vụ vào mùa mưa như trước đây. Kết quả tương tự cũng đã đạt được tại Kenya, Nam Phi, Benin và Nigeria – những quốc gia có điều kiện khô hạn tương tự Israel.
Túi khổng lồ bảo quản lương thực
Sau mỗi một vụ thu hoạch, khoảng 50% ngũ cốc và 100% sản lượng đậu bị côn trùng, ẩm mốc tấn công khiến chất lượng lương thực bị suy giảm nghiêm trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành
Để giải quyết vấn đề này, người Israel đã nghĩ việc dùng một chiếc túi khổng lồ, đơn giản và rẻ tiền, nhưng có công dụng bảo quản lương thực, tránh tiếp xúc với không khí và độ ẩm.
Hiện, những chiếc túi như thế này đã và đang được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước ở châu Phi, Trung Đông.
Diệt sâu bọ bằng phương pháp sinh học
Dựa trên đặc điểm sinh học tự nhiên của các loài vật, các kỹ sư Israel đã lai tạo ra các giống côn trùng có ích cho quá trình sản xuất nông nghiệp.
Cụ thể, sau khi lai tạo thành công, những con côn trùng này sẽ được thả vào những khu vườn, những nông trang để chúng tự do tiêu diệt các loài sâu, bọ sống ký sinh, tàn phá thực vật.
Một ví dụ điển hình là giống nhện màu cam đã giúp những khu vườn dâu tây ở Mỹ không bị sâu bọ “quấy rầy” và giúp nông dân Israel giảm tới 75% lượng thuốc trừ sâu so với trước đây.
Chăn bò bằng… máy tính
Israel là quốc gia đầu tiên trên thế giới phát triển công nghệ chăn nuôi bò sữa tập trung theo quy mô nông nghiệp. Theo đó, từ việc cho ăn, vệ sinh chuồng, vắt sữa… đều được quản lý, giám sát thông qua hệ thống máy tính.
Một số quốc gia trên thế giới đã và đang học tập công nghệ này.
Giải pháp nông nghiệp trực tuyến
Hế thống kiến thức nông nghiệp trực tuyến (AKOL) ra đời với mục đích giúp nông dân dễ dàng tiếp cận với các thông tin về nông nghiệp, thị trường, kỹ thuật canh tác, chăn nuôi…
Ngoài ra, bằng việc truy cập vào hệ thống, nông dân còn được tư vấn, giải đáp trực tuyến những thắc mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình sản xuất.
Khoai tây giữa sa mạc
Khoai tây thông thường chỉ trồng được ở những nơi có khí hậu lạnh và bắt buộc phải tưới bằng nước ngọt. Nếu vậy, Israel chỉ còn biết nhập khẩu khoai tây.
Nhưng không, các nhà khoa học Israel đã lai được giống khoai tây mới chịu được khí hậu nóng, khô và tưới bằng nước mặn, thích hợp trồng ở sa mạc. Giải pháp mới này thậm chí đã giúp Israel xuất khẩu khoai tây.
Nông nghiệp Israel trong thế kỷ 21
Báo Tia Sáng – 27/07/2010
Nền nông nghiệp Israel nổi tiếng trên toàn thế giới đang phải làm gì để đối mặt với những khó khăn ngày càng gia tăng ở thế kỷ 21? Bài viết dưới đây, lược dịch từ một bài báo của Jon Fedler, Tổng biên tập tạp chí Agrictech giải thích các lý do, trong đó chủ yếu là vai trò của khoa học và công nghệ đã mang lại thành công không chỉ ở hiện tại mà cả tương lai cho đất nước này.
Vào khoảng năm 2020, dân số của Israel dự tính sẽ tăng 42% so với hiện nay, đạt con số 8,5 triệu người. Nhu cầu về sản xuất nông nghiệp cũng như các sản phẩm nông nghiệp lúc đó sẽ gia tăng đáng kể. Cùng với đó, diện tích đất đô thị và lượng nước sử dụng chung của cả đất nước cũng ngày một lớn hơn, đặt ra nhiều vấn đề đối với phát triển nông nghiệp. Để đối phó với tình trạng này, Israel tiếp tục phải nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.
Theo một nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Israel, vào năm 2020, lượng nước tưới tiêu cho nông nghiệp của nước này chỉ còn một nửa (700 triệu mét khối/năm) và diện tích đất dành cho nông nghiệp cũng giảm 18% so với hiện nay (360.000 ha). Như vậy, để đạt một sản lượng nông nghiệp tăng khoảng 48% so với mức của năm 1993, nông nghiệp Israel cần có mức tăng trưởng thực khoảng 1,5%/năm.
Nông nghiệp của Israel đã có mức tăng trưởng khá ổn định (trừ một giai đoạn ngắn của những năm 1980), và đóng một vai trò quan trong trong nền kinh tế của nước này. Hiện nay, nông nghiệp đóng góp 2% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chiếm khoảng 3,5% xuất khẩu của Israel. Doanh thu nông nghiệp của Israel vào năm 2000 đạt mức 2 tỉ USD trong đó 70% thuộc về xuất khẩu.
Thành công của nông nghiệp Israel nhờ sự kiên định và sáng tạo liên tục của các nhà khoa học cũng như nông dân đất nước này. Đặc biệt trong điều kiện thời tiết và địa hình không thuận lợi của Israel (hơn một nửa diện tích đất là sa mạc và đất nước có nhiều loại hình khí hậu rất đa dạng, khác biệt).
Nghiên cứu và phát triển
Sản lượng nông nghiệp liên tục tăng trưởng ở Israel mặc dầu các điều kiện khắc nghiệt về nước tưới tiêu và hạn chế về diện tích đất canh tác. Đây là kết quả của một “hiện tượng Israel”, có một không hai trên thế giới dựa trên sự hợp tác tích cực và chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu, hệ thống mở rộng nông nghiệp, nông dân, các dịch vụ và công nghiệp phụ trợ.
Các ứng dụng R&D có định hướng trong nông nghiệp đã được tiến hành tại Israel từ đầu thế kỷ 20. Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của nước này hầu như gắn chặt với khoa học và công nghệ, với các tổ chức Chính phủ, các viện nghiên cứu, công nghiệp và hợp tác xã. Tất cả phối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp để giải quyết các vấn đề trong nông nghiệp mà nước này gặp phải. Đối mặt với hàng loạt các vấn đề, từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh tác trên đất cằn, R&D trong nông nghiệp của Israel đã phát triển các công nghệ để tạo ra sự biến chuyển ngoạn mục không chỉ trong số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm nông nghiệp của đất nước. Chìa khóa của thành công này là nhờ các thông tin hai chiều giữa bản thân các nhà khoa học và các nhà nông. Thông qua mạng lưới dịch vụ mở rộng nông nghiệp (và sự tích cực tham gia của nhà nông vào toàn bộ tiến trình R&D), các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếp tới các nhà nghiên cứu để kiếm tìm giải pháp. Từ đó, các kết quả nghiên cứu khoa học cũng được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng để thử nghiệm, thích nghi và điều chỉnh.
Động lực muốn đạt mức tối ưu trong sản lượng nông nghiệp và chất lượng giống đã dẫn tới việc ra đời các loại giống mới, đối với giống cây trồng hoặc súc vật nuôi, tới các cải tiến trong tưới tiêu, phân bón, thiết bị nông nghiệp, tự động hóa, hóa học, canh tác và thu hoạch. Nhờ vậy, các phát kiến khoa học và công nghệ này không chỉ phục vụ nông nghiệp trong nước mà rất nhiều trong số đó đã được xuất khẩu ra nước ngoài.
Cơ giới hóa và công nghệ nông nghiệp
Nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng sản lượng, cải thiện chất lượng và tiết kiệm nhân công, các sáng chế về máy móc nông nghiệp cũng như thiết bị điện tử phụ trợ đã được ra đời và áp dụng nhanh chóng và rộng rãi vào đời sống. Đặc biệt là các máy móc, thiết bị phục vụ đất trồng trọt, chống xói mòn, các máy gieo hạt, thu hoạch và các thiết bị phù hợp cho thâm canh tăng vụ, tưới tiêu (tự động hóa)… Nhiều thiết bị tự động khác cũng được sử dụng trong chăn nuôi như máy vắt sữa, máy thu hoạch trứng, các hệ thống cho ăn tự động… Rồi thì các máy móc phục vụ sau thu hoạch như máy phân loại sản phẩm, máy đóng gói, hệ thống kho trữ và đặc biệt là hệ thống vận tải chuyên biệt. Những công nghệ phát triển trong nước cũng chú trọng tới việc kiểm soát bón phân tự động hóa (thông qua hệ thống máy tính), có thể bón phân qua nước tưới tiêu, các biện pháp kiểm soát độ ẩm, tạo môi trường trong lành cho trồng hoa, các thực phẩm trái mùa…
Sự can thiệp của Chính phủ
Bộ Nông nghiệp Israel hỗ trợ và kiểm soát toàn bộ các hoạt động nông nghiệp của đất nước, gồm cả việc duy trì các tiêu chuẩn cao đối với các sản phẩm cây trồng và vật nuôi, đề ra các kế hoạch thúc đẩy, phát triển nông nghiệp thông qua các hoạt động nghiên cứu và thị trường (kể cả marketing). Từ nhiều năm nay, nông nghiệp Israel được Chính phủ nước này kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống trợ cấp sản xuất và định mức nước tiêu thụ cho mỗi mùa vụ. Hiện nay, nước này cũng kiểm soát định mức sản xuất và chất lượng của một số sản phẩm nông nghiệp như sữa, trứng, gà con và khoai tây.
Các chương trình nghiên cứu nhằm gia tăng lượng nước để tưới tiêu cũng đang được tiến hành, chủ yếu thông qua tăng lượng nước mưa (tạo mưa nhân tạo), khử mặn trong nước và sử dụng các hệ thống lọc nước để tái sử dụng. Các nghiên cứu mới đã dẫn tới việc khai thác nước mặn ở các bể chứa nước khổng lồ tại sa mạc Negrev, dùng cho một số giống cây phù hợp.
Việc kiểm soát lượng nước tiêu thụ bằng định mức chủ yếu được thực hiện thông qua biện pháp giá, kiểm soát nước được bơm từ lòng đất và các dự án cung cấp nước sắp ra đời. Một chương trình kiểm soát nước mới được ra đời trong đó cắt giảm lượng nước sạch cung cấp cho nông nghiệp, thay vào đó, gia tăng việc tái sử dụng nước đã qua sử dụng ở các khu vực đô thị, mở rộng việc sử dụng nước được khử mặn, giảm việc thâm canh sử dụng nhiều nước, tăng cường các hệ thống trữ nước vào mùa lũ, phát triển các ngôi nhà xanh thân thiện với môi trường và đặc biệt là đẩy mạnh quá trình khử mặn trong nước biển.
CNC trong nông nghiệp
Các nhà kinh tế thường tranh luận xem liệu sự lựa chọn của nông nghiệp sẽ như thế nào nếu cứ trồng và xuất khẩu một cân khoai tây với giá khoảng 5 USD với việc bán ra nước ngoài, cũng là một cân giống khoai tây lai, có giá lên tới 7.000 USD. Và muốn làm được như vậy, không có cách nào khác là phải sử dụng tới công nghệ cao trong nông nghiệp. Và Israel cũng nhận thức rõ rằng đây là con đường duy nhất để nông nghiệp nước này tiếp tục tồn tại. Trên thực tế, mãi lực thị trường trong nước và nước ngoài, sự hiếm hoi đất nông nghiệp, nhân công hạn chế và đặc biệt là thiếu nước tưới tiêu đã là các động lực lớn nhất biến đổi toàn bộ nông nghiệp Israel
Một xu hướng ngày càng phát triển ở Israel là đang có bước chuyển giữa các trang trại thâm canh tăng vụ, các nhà sản xuất nông nghiệp truyền thống lớn sang các loại hình sản xuất dựa trên khoa học và R&D, thí dụ như sản xuất các loại khoai tây lai có khả năng kháng virus cao, hay các loại chuối cây thân nhỏ nhưng năng suất cao.
Bên cạnh đó, nông dân Israel cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh lớn. Một mặt, họ phải đương đầu với nông sản giá rẻ nhập khẩu từ các nước láng giềng, mặt khác là phải phù hợp với các tiêu chuẩn mới về nhập khẩu nông sản theo Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Cũng như nhiều nước khác, nông nghiệp Israel cũng phải chịu áp lực bởi lượng nhân công phục vụ trong lĩnh vực này ngày càng ít đi (giảm 40% từ năm 1960 tới năm 1996). Mặc dầu vậy, lượng nhân công ít ỏi trong nông nghiệp ngày nay lại đem lại sản lượng lớn hơn so với trước kia. Trong đầu những năm 1950, một nông dân có thể cung cấp đủ lương thực cho 17 người thì vào năm 1994, mỗi người trong số họ đã có thể nuôi được 90 người.
Phần lớn nông nghiệp của Israel được tổ chức theo hình thức hợp tác xã, hình thành từ các thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Thúc đẩy bởi cả ý tưởng và hoàn cảnh thực tế, các nhà tiên phong đã tạo ra hai hình thức nông nghiệp mới: kibbuttz, một cộng đồng tập thể với phương tiện sản xuất chung và mỗi thành viên được hưởng lợi ích từ công việc của chính mình. Và moshav, kiểu hợp tác xã của làng trong đó mỗi thành viên sử dụng đất của mình để sản xuất, nhưng đầu vào và đầu ra (kể cả marketing) được thực hiện tập thể, theo một đầu mối. Cả hai hình thức lao động tập thể này đều được tạo ra để hiện thực hóa giấc mơ cộng đồng nông nghiệp dựa trên bình đẳng xã hội, hợp tác và tương trợ lẫn nhau. Ngày nay, sản lượng nông nghiệp của các hợp tác xã này vẫn chiếm đa số áp đảo trong sản xuất nông nghiệp, kể cả phục vụ thị trường nội địa lẫn xuất khẩu.
Hoàng An dịch
Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015
Cam Việt Trồng Ở Đức
Nguồn : Vững Đại Phát
Hỗn chiến ở chợ Đồng Xuân (Berlin)
Tác Giả: Handlarz Wiatrem – Theo Đàn Chim Việt – TTHN – 13 May 2015
Hôm thứ bảy sang Berlin chơi nhà bà cô, hôm sau bà cô bảo chở ra chợ Đồng Xuân mua đồ. Vừa mới đậu xe bên đường nhà hàng Đồng Xuân Quán đã thấy tiếng hò hét, đập phá vang trời. Mình biết ngay là có đánh nhau, vội chốt cửa xe lại không cho bà cô ra.
Toàn choai choai đầu xanh, đầu đỏ người miền Trung các bác ạ. Chả hiểu tụi này ăn nhạu cùng bàn với nhau, đến mấy chục đứa nhân dịp gì tụ tập ăn nhâu, cuối cùng chia hai phe choảng nhau. Còn kinh hơn phim hành động. Vác ghế, vác đồ đuổi đánh nhau từ nhà hàng Đồng Xuân Quán ra khắp quanh chợ. Mấy chục thằng thanh niên hỗn chiến thì các bác hiểu kinh hoàng, ầm ĩ đến mức nào rồi.
Kết cục là xe cứu thương đến chở hai hay ba thằng đi viện, máu me nhoe nhoét.
Lần trước mình sang, mới vào cổng chợ thấy một tốp 7 thằng choai choai người miền Trung như là Quảng Bình, Nghệ An gì đó, thằng tóc dựng, tóc trọc, tóc xiên xẹo đủ kiểu đi thành đoàn ra chỗ đợi tàu điện trước cửa chợ. Bọn nó nói năng , chửi tục ầm ĩ ngoài đường. Mình nhìn mà cứ ngỡ đang ở Việt Nam chứ chả phải ở Châu Âu.
Còn một đống người Di Gan đứng bán điện thoại ở cửa chợ, cứ khách nào vào là dí cái Samsung hay iphone6 của Tàu Khựa ra mời.
Bây giờ nói lại vụ đánh nhau kia, dân tình xa như mình nhìn thấy thì vỡ hết mật. Còn dân chợ hay người Việt ở Berlin thì chắc quen rồi hay sao, thấy dửng dưng như không. Mình lân la hỏi bà cô. Bà ấy bảo bọn này toàn đứa mới trốn sang đây qua đường du lịch bên Nga, rồi băng rừng qua Lát Vi A hay U Cờ Rai Na qua Ba Lan vào Đức. Mày ở Ba Lan thì lạ gì, chúng mày chuyên chở từ bên đó sang đây biết quá bọn này còn hỏi. Giờ bọn nó đầy nhan nhản ở Berlin, giấy tờ không có, đi làm chui, bán thuốc lá, đồ ăn cắp, đồ giả. Bọn nó cứ chục đứa thuê một cái nhà trải đệm ra ở. Sống bất cần đời, chả có gì để mất nên chúng chẳng ngại gì cả.
Mình hỏi ông bán hàng ở chợ. sao bảo vệ chợ đâu mà không ngăn, nghe nói chủ chợ Hiền Đồng Xuân máu mặt lắm mà.
Ông bán hàng nói bảo vệ chợ chả là cái đinh, thuê bảo vệ người Đức đấy. Thế mà có lần bọn nó đánh cho cả bảo vệ Đức toét đầu, bây giờ bọn bảo vệ Đức cũng chờn.
Mình thắc mắc thế cảnh sát Đức không bắt được à, ông bán hàng nói đến người Đức bị đánh còn chả tìm được ra đứa nào đánh, nói chi bọn Việt Nam đánh nhau.
Quay về nhà hỏi chồng bà cô, ông này phán.
- Chúng nó bỏ mười mấy ngàn oi rô sang đây, luồn lách bờ bụi, vượt rừng, sông suối. Tưởng đến thiên đường. Nào ngờ vào đây nghiêm, có giấy tờ, biết tiếng làm còn mửa mật ra. Huống chi toàn thanh niên lêu lổng ở quê, nghề ngỗng tiếng tăm chả có. Thằng nào lành thì đi làm lậu cho người Việt tích cóp tiền rồi nhận bố. Nhận bố thế mất vài chục ngàn. Thằng nào thiếu kiên nhẫn thì sống bất cần, trộm cắp, bán thuốc lá giả…đủ kiểu.
Mình hỏi nhận bố là thế nào. Ông chồng bà cô giải thích.
- Là có một con nào đấy, nó có giấy tờ hợp pháp, nó có con với mày, nó cho mày nhận làm bố, thế là mày được ăn theo con. Có giấy tờ, mất vài chục ngàn. Cứ vào các chỗ dịch vụ có biển treo đầy chợ này hỏi là có chi tiết đầy đủ hết.
Mình hỏi thế còn phụ nữ thì sao, ông ấy nói.
- Bọn con gái cũng thế, trốn sang đây toàn trẻ ranh. Nó kiếm thằng nào có giấy tờ để đẻ đứa con, thằng kia nhận bố, con mẹ và đứa con được giấy tờ, mất vài chục nghìn cho thằng nhận bố . Thời gian sau đứa con gái đấy là đẻ đứa nữa, cho thằng khác nhân làm bố. Kiếm lại số tiền trước kia. Dư ra hai đứa con, nhà nước Đức trợ cấp cho 3 mẹ con, sống khoẻ re. Mỗi tội con cái tùm lum không biết đứa nào con bố nào.
À, thế thì mình hiểu vì sao mấy lần trước qua chợ Đồng Xuân bên này, thấy các bà mẹ trẻ đi nườm nượp, đứa thì dắt tay, đứa thì nằm xe nôi mẹ đẩy. Ít thấy bà mẹ nào có chồng đi cùng. Người ta còn bảo đi quá chợ Đồng Xuân một tí, có cả khu phụ nữ Việt Nam ở, chả ai có chồng cả. Người Việt ở Berlin gọi đó là Bến Không Chồng.
Mình hỏi thấy quảng cáo chợ Đồng Xuân sắp làm kỷ niệm 40 năm người Việt hội nhập ở Đức. Các đoàn thể, sứ quán, hội hè đông đảo lắm. Tại sao họ không hướng dẫn cho các bạn trẻ kia có cách sống tốt hơn. Ông chú nói.
- Ở đây nó thế, thằng thì buôn cứ buôn lo kiếm tiền. Thằng nào thích làm chủ tịch hội lấy oai với họ hàng quê nhà thì cứ làm lấy oai. Thằng nào sống bất hợp pháp thì cứ sống kiểu bất hợp pháo. Chả thằng đéo nào bảo được thằng nào cả, xứ tự do mà. Hội hè, đoàn thể để lấy mẽ chụp ảnh phô trương. Bố thằng đoàn hội nào dám gặp bọn bất hợp pháp để mà hướng dẫn, khuyên bảo cái gì. Ngay cả các hội đoàn còn chửi nhau như mổ bò, kiện cáo nhau quanh năm. Đủ thứ kiện, kiện xúc phạm danh dự, kiện quỵt tiền hội, kiện cướp hợp đồng này nọ. Mày bên đó đọc báo thì tưởng bên này gắn bó, đoàn kết, sống tốt. Chứ thực ra thì mày tận mắt thấy đấy, dân vô học thì đánh nhau toé máu. Dân có học tí thì kiện tụng nhau ra toà, thuê luật sư tới tấp.
Mình hỏi thế thì kỷ niệm hội nhập cái gì.?
Ông chú bảo.
- Thì cũng có một số ít người ta sang khi xưa, có học hành, tri thức họ đi làm công sở cho Đức hay mở nhà hàng kinh doanh cũng được. Nhưng chả đáng là bao so với cộng đồng, nhất là giờ thêm bọn trẻ nó trốn sang từ Nga nữa. Nói về hội nhập thành công may ra có bọn thuyền nhân tị nạn. Bọn đấy thì gần như chúng nó toàn bộ có học hành, làm trong công sở người Đức. Bọn đấy thì chả bao giờ chúng nó dây dưa đến mấy cái hội đoàn Berlin này. Hội đoàn ở đây làm cái gì cũng hỏi ý kiến sứ quán, họp hành gì cũng mời sứ quán đến dự. Bọn tị nạn thì nó còn biểu tình phản đối nhà nước mình, làm sao mà chúng nó tham gia ba cái hội đoàn như vậy được.
Đến bữa cơm, bà cô dặn ông chồng.
- Đấy, ở chợ bây giờ sợ lắm anh ạ. Đi ra đó là phải cẩn thân, nhìn thấy bọn choai choai là phải tránh ra xa không thì phải đầu, phải tai. Chả ai làm gì được chúng nó đâu.
Ông chồng lẩm bẩm chửi thề.
- Mẹ nó chứ, đi cả nước Đức này ở đâu cũng thấy an toàn. Thế mà đến chợ người Việt của mình, toàn người dân tộc mình lại phải sợ mới nhục cơ chứ.
Dân ngu hay ngu dân?
Nguồn : Vững Đại Phát
Dân ngu hay ngu dân?
Tác Giả: Ngô Nhân Dụng – Người Việt – 13 May 2015
Những người tranh đấu đòi thiết lập chế độ dân chủ đồng ý với nhau một điều: Tốt nhất là để dân chúng chọn người cai trị. Suy nghĩ như vậy là đặt niềm tin trên óc phán đoán của người dân; họ có khả năng lựa chọn đúng. Nếu họ chọn sai thì rán mà chịu những hậu quả. Một thứ bảo đảm cho người dân, là nếu họ lỡ dại, chọn sai, thì sau đó hai, ba năm, nhiều nhất là năm, bảy năm, họ có quyền thay đổi.
Nhưng nếu dân chúng cứ sai lầm mãi thì sao? Chế độ dân chủ đặt trên niềm tin rằng, “Lâu lâu anh có thể đánh lừa tất cả mọi người; anh cũng có thể đánh lừa một số người mãi mãi; nhưng anh không thể đánh lừa tất cả mọi người mãi mãi được.” Abraham Lincoln nói như vậy, trong lúc đang tranh cử năm 1856. Những chế độ độc tài xảo quyệt nhất cũng có ngày bị lật mặt nạ.
Không phải ai cũng chia sẻ niềm tin này. Nhiều người không tin vào khả năng suy nghĩ của dân chúng. Niccolo Machiavelli (1469-1527) chẳng hạn. Trong cuốn Il Principe (Phan Huy Chiêm dịch sang tiếng Việt tựa là Quân Vương), ông nhận xét: “Dân rất cả tin và cũng rất mau quên.” Cho nên ông khuyên các vương hầu nên làm cho dân sợ, hơn là chờ được dân yêu. Trước Machiavelli hơn 17 thế kỷ, Hàn Phi Tử (Han Feizi, 韓非子,ca. 280–233 TCN) ở Trung Hoa còn nói toẹt ra rằng dân chúng là con nít. Trong chương 50, Hàn Phi viết: “Cái trí của dân không thể dùng được, nó giống như bụng dạ trẻ con vậy.” (Dân trí chi bất khả dụng, do anh nhi chi tâm dã – chương Hiển Học; 民智 之不可用,猶嬰兒之心也 – 顯學).
Tất nhiên các chế độ độc tài đồng ý với Hàn Phi Tử và Machiavelli. Ðể duy trì ách chuyên chế họ thường nêu ra một lý do là “dân trí còn thấp quá.” Nói cách khác, dân ngu, dân là đám trẻ con chưa đủ lớn khôn, không có khả năng chọn lựa cho chính mình. Chỉ có đảng là thông minh cho nên đảng phải quyết định mọi việc cho chúng nó được nhờ. Họ viết vào Hiến Pháp, điều số 4: “Ðảng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Thế đến bao giờ dân trí mới đủ cao để khỏi bị đảng “lãnh đạo?” Họ không nói. Ðến cái mục tiêu tối hậu của họ là tiến lên Chủ nghĩa Xã hội họ cũng chưa biết nó ra thế nào, thế mà vẫn nhắm mắt chạy tới và bắt cả nước chạy theo hết hơi! Chính họ chưa đủ khôn lớn, làm sao họ biết bao giờ dân mới hết ngu?
Các nhà chính trị không bao giờ tuyên giảng lý thuyết Dân Ngu này cả. Bởi vì không thể nói thẳng cho dân biết họ nghĩ gì khi còn muốn lợi dụng cái ngu của dân. Trái lại, họ nịnh nọt, vuốt ve dân, cho dân ăn đủ thứ bánh vẽ. Các bạo chúa chỉ cần áp dụng lý thuyết Dân Ngu bằng cách khích động bản năng và tình tự của con người. Những bản năng bình thường nhất như sợ đói, sợ đánh đập, sợ tra tấn, khiến dân phải vâng lời bạo chúa. Những tình cảm cao quý nhất, như lòng yêu nước, tình thương người đồng loại, thì được khích động để dân hy sinh cho các lãnh tụ hưởng.
Nhà văn Mikhail Shishkin mới viết một bài, dịch đăng trên The New York Times ngày 8 Tháng Năm năm 2015, cho thấy các bạo chúa Nga lợi dụng cái ngu của dân như thế nào. Ông kể chuyện thân phụ ông tình nguyện đầu quân năm 18 tuổi, tham gia cuộc chiến bảo vệ “Tổ Quốc Nga” chống Ðức Quốc Xã. Người con vẫn hãnh diện đem khoe bức hình chiếc tầu ngầm bố mình đã phục vụ. Mỗi năm đến ngày 9 Tháng Năm, ông cụ lại mặc quân phục, đeo đủ các huy chương, đó là ngày nước Nga kỷ niệm Ðại Chiến Thắng. Người lính đã làm tròn nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. Nhưng ông cũng bảo vệ một chế độ đã bắt cha mình (ông nội tác giả) cho đi đày mút mùa, chết tối tăm trong một trại “học tập cải tạo gulag.” Cụ đã góp tay vào cuộc chiến thắng, kết quả là bạo chúa có thể kéo dài chế độ nô lệ hóa dân chúng lâu hơn. Cuối đời, cũng như các bạn đồng ngũ khác, cụ chỉ uống rượu tiêu sầu. Vào những năm 1980, khi nước Nga đói, đám cựu chiến binh như ông cụ nhận được những gói quà cứu trợ. Trong đó họ thấy những thực phẩm do dân Ðức gửi tặng. Ðối với ông cụ, đó là một sỉ nhục. Ông uống say khướt, hỏi: “Nhưng chúng ta thắng trận kia mà?” Ông bật khóc, tiếp tục hỏi mà không cần ai nghe: “Này, có phải mình thắng trận không? Hay mình thua trận?”
Năm nay, Mikhail Shishkin nhận định: Ðức Quốc Xã bại trận, dân Ðức đã thắng. Họ chứng tỏ cho ai cũng thấy một dân tộc có thể đứng dậy, sống như những con người, không còn bị chiến tranh làm cho mê muội nữa. Ngược lại, ở nước Nga, trong Ngày Chiến Thắng họ không nhắc tới khát vọng hòa bình và tưởng niệm các nạn nhân. Ông Putin đem biểu diễn các vụ khí mới, khích động dân Nga bằng tình yêu nước, để đe dọa Ukraine. Shishkin kết luận: “Các lãnh tụ Nga đã ăn cắp dầu lửa của dân, ăn cắp những cuộc bầu cử, ăn cắp đất nước, và ăn cắp chiến thắng của dân.” Năm nay, ông mới trả lời cho cha mình: “Bố ơi, chúng ta đã thua trận!”
Tại sao một dân tộc chiến đấu dũng mãnh, chịu bao nhiêu đau khổ, thắng kẻ địch trên chiến trường mà lại thua trận trong thời bình, ngay trên đất nước của mình?
Machiavelli và Hàn Phi Tử sẽ nhún vai trả lời: Chúng tôi đã nói mà. Dân chúng đời nào cũng chỉ là một đám con nít!
Nhưng chúng ta có thể hỏi ngược lại Hàn Phi Tử và Machiavelli một câu: Dân chúng là con nít, nhưng thưa các cụ, năm 1989 dân Ðông Ðức đã phá bức tường Berlin, dân Nga năm 1991 cũng xóa bỏ chế độ Cộng Sản rồi. Trong nháy mắt lịch sử lật sang một trang mới, mỗi biến cố diễn ra chỉ trong một đêm. Tại sao dân chúng có thể làm được như vậy?
Câu trả lời, là thông tin. Dân Ðông Ðức vẫn lén lút coi đài truyền hình Tây Ðức bao nhiêu năm. Chỉ nhìn một cảnh sinh hoạt trên đường phố ở Tây Ðức trên màn ảnh họ cũng biết tất cả những lời tuyên truyền của đảng và nhà nước là láo khoét. Những người Ðông Ðức trốn thoát chế độ Cộng Sản vẫn gửi tin tức về nhà. Mà họ không cần đưa tin tức, chỉ những gói quà họ gửi về cũng đầy những thông tin rồi. Tin tức giúp dân mở mắt ra nhìn sự thật.
Các bạo chúa không hoàn toàn tin ở Thuyết Dân Ngu, nhưng họ biết phải làm cho dân ngu, càng ngu càng dễ trị. Họ biến những người không ngu cũng thành ngu, đã dốt rồi thì cảng thêm dốt nát. Từ Stalin, Mao Trạch Ðông tới ……, Pol Pot, đường lối giản dị nhất của họ là bưng bít thông tin. Dân càng ngu các bạo chúa càng kéo dài ách thống trị. Muốn dân tiếp tục ngu thì không cho tự do ngôn luận, cấm báo chí độc lập bên ngoài guồng máy đảng. Chính sách Ngu Dân này được áp dụng tại khắp các nước độc tài. Nhưng không ở đâu triệt để bằng trong chế độ Cộng Sản. Ðảng chiếm độc quyền điều khiển các báo, đài, chiếm độc quyền giáo dục, độc quyền in sách giáo khoa.
Machiavelli và Hàn Phi Tử không hề biết ngày nay có thứ gọi là Internet.
Không hề biết có những người can đảm làm blog, làm Câu Lạc Bộ Báo Chí Tự Do. Ðó là những đợt xung phong tấn công chế độ độc tài, phá tan chính sách ngu dân, bưng bít. Bằng những ý kiến mới mẻ, bằng những tin tức “lề trái,” người dân sẽ càng ngày càng hiểu, biết nhiều hơn. Cho nên mới có những thanh niên như Nguyễn Việt Dũng. Dũng Phi Hổ hay Hoàng Tử Thuốc Lào, người xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, ra đời sau khi chiến tranh chấm dứt 9 năm. Nhưng anh nhận được những thông tin ở đâu không biết, đã phán đoán rằng chế độ Việt Nam Cộng Hòa tốt hơn chế độ Cộng Sản. Anh di biểu tình ở Hà Nội, mặc áo chữ T, trên ngực in phù hiệu binh chủng Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Chúng ta có thể tin tưởng rằng dân chúng không ngu; ở bất cứ nước nào cũng vậy, họ không phải là con nít. Chỉ khi thiếu thông tin thì họ khó suy nghĩ đúng. Khi có đủ tin tức thì trí óc tập thể của người dân đủ sức phán đoán, quyết định, chọn lựa cho chính họ – không cần đứa nào “lãnh đạo” cả. Trong bức thư gửi cho Richard Price, năm 1789, Thomas Jefferson viết: “Khi dân chúng được thông tin đầy đủ, có thể tin tưởng họ sẽ biết tự cai trị. Khi có điều gì kỳ cục làm cho họ chú ý, có thể tin là họ sẽ chỉnh đốn được. (Whenever the people are well-informed, they can be trusted with their own government. Whenever things get so far wrong as to attract their notice, they may be relied on to set them to rights).
Ðó là niềm tin của những người đang tranh đấu đòi tự do dân chủ. Dân chủ không bảo đảm một xã hội lý tưởng xa vời. Dân chủ chỉ là những cách xếp đặt cuộc sống chung để bảo đảm người dân có quyền lựa chọn và thay đổi những người cầm quyền. Trong lịch sử, loài người đã thử áp dụng nhiều thể chế khác nhau, không có thể chế nào hoàn hảo cả, nhưng dân chủ là chế độ đỡ tai hại nhất.
Ngô Nhân Dụng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









