Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Chuyện Dài Nợ Nần

Đại gia lụi tàn, ‘chết chìm’ vì nợ khủng
Tác Giả; Huấn Tú – VEF – 25 May 2015
Thị trường khó khăn khiến doanh thu của các DN giảm mạnh, thậm chí dòng tiền bị đứt mạch. Khó khăn, nợ nần chồng chất khiến các đại gia nhanh chóng lụi tàn, mất tích không còn tăm hơi.
Tàn lụi vì nợ khủng
Sau 2 năm hủy niêm yết cổ phiếu THV, ông Nguyễn Văn An, chủ tịch kiêm TGĐ Tập đoàn Thái Hòa Việt Nam không còn xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Doanh nghiệp của đại gia từng khá nổi tiếng trên thị trường cà phê cũng bặt vô âm tín. Trong suốt hai năm kể từ ngày bị hủy niêm yết bắt buộc do lỗ lũy kế năm 2012 vượt quá vốn điều lệ thực góp, Thái Hòa không có thông tin về hoạt động cũng như tình hình thanh toán, trang trải nợ nần.
Sau khi bị hủy niêm yết, THV không đăng ký giao dịch trên Upcom, cũng chẳng công bố báo cáo quý, năm. Báo cáo gần nhất là 6 tháng đầu năm 2013. Những khoản nợ khổng lồ lên đến cả nghìn tỷ với 9-10 ngân hàng, những tài sản mà bên thứ 3 là vợ chồng ông Nguyễn Văn An đưa ra bảo lãnh, cùng thông tin về việc đàm phán nợ nần với các NH không hề được đề cập đến
Thông tin về cổ đông lớn của công ty cũng ít ỏi. Nhiều người không biết, sau khi một số thành viên HĐQT trong đó có bà Ngô Thị Hạnh, vợ của Chủ tịch HĐQT, đã bán hết 6 triệu cổ phiếu với lời giải thích “để có thể có tiền vốn giải quyết khó khăn tài chính cho công ty”, chứ không phải “chạy trước khi công ty có thông tin xấu”. Còn các cổ đông lớn này đã mua lại cổ phiếu hay chưa, giờ còn nắm giữ bao nhiêu, chẳng ai hay.
Sự mất tích của cá nhân vị chủ tịch cùng THV diễn ra trong bối cảnh tập đoàn này thua lỗ nặng nề, nợ nần chồng chất do sử dụng nguồn vốn sai mục đích: dùng vốn ngắn hạn đầu tư dài hạn, chủ yếu là trồng cà phê và cao su.
Báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2013 cho thấy, THV lỗ lũy kế gần 570 tỷ đồng, bào mòn gần hết 577 tỷ đồng vốn điều lệ.
Một đại gia khác cũng bế tắc không lối thoát do nợ nần lớn là ông Phạm Văn Thụ, TGĐ Công ty TM Công nghiệp Thái Sơn. Khối nợ 570 tỷ đồng đã nhấn chìm một “DN tiêu biểu” của Hải Phòng. Sự sụt giảm giá sắt thép do khủng hoảng kinh tế cùng với việc DN lún sâu vào các dự án dang dở khiến Thái Sơn mất khả năng thanh toán nợ. Những hành vi lừa đảo cũng bắt đầu từ đây. Cuối cùng, DN nợ hàng chục NH cả nghìn tỷ đồng. Hàng loạt các công ty con đã được bán đi nhưng đây không phải là cách có thể thoát được sự nợ nần đầm đìa.
Chết vì nợ nần, làm ăn lớn
Giữa tháng 3/2015 vừa qua, CTCP Nam Vang (NVC) đã bị phạt 60 triệu đồng do chậm công bố báo cáo quản trị 2013. Nam Vang là một DN trước đó niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội nhưng hoạt động kinh doanh thua lỗ 3 năm liên tiếp và bị hủy niêm yết cách đây đúng một năm, ngày 26/5/2014.
DN của ông chủ Lê Văn Vang này đã thua lỗ nặng nề, cả chục quý liên tiếp, âm vốn chủ sở hữu. Cổ phiếu NVC trước khi bị hủy niêm yết chỉ còn 1.000 đồng/cp và còn nợ các NH trên 400 tỷ đồng, không biết lấy nguồn đâu để trả. Nam Vang mất bóng trên thị trường.
Giống như Thái Hòa, CTCP Alphanam (ALP) của đại gia Nguyễn Tuấn Hải cũng đã khiến các cổ đông lao đao khi liên tục thua lỗ nhiều năm liên tiếp. DN này đã liên tục thực hiện các chiến lược mua bán thâu tóm mà cái lợi có thể còn ở tương lai xa.
Cổ đông thực sự mù thông tin về các DN này khi mà các ông chủ mất dạng sau thua lỗ, nợ nần. Các NĐT không còn thấy DN nói gì tới đại hội cổ đông, tới các báo cáo tài chính mà họ có quyền được biết, được tham dự.
Cái chết” của Công ty Cổ phần Việt An – Anvifish (AVF) cũng đã được báo trước khi DN này vay nợ quá nhiều. Cú lỗ kỷ lục trong năm 2014 cùng với sự vắng mặt của cổ đông lớn, sự biến động nhân sự chủ chốt cùng hành động âm thầm bán toàn bộ 3 triệu cổ phiếu AVF (6,92%) để ra nước ngoài trị bệnh của nguyên chủ tịch Lưu Bách Thảo là những báo hiệu đen tối đối với DN này.
Tập đoàn Đại Dương (OGC) của cựu chủ tịch Hà Văn Thắm đứng trước nguy cơ lợi nhuận bị ăn mòn gần nghìn tỷ đồng do đầu tư vào Ocean Bank. Ocean Group có thể sẽ từ lãi chuyển thành lỗ. Tài sản bị bào mòn, vốn chủ sở hữu tụt giảm sẽ khiến khoản nợ gần 7.500 tỷ đồng (trong đó có 4.800 tỷ nợ ngắn hạn) trở thành gánh nặng chưa biết bao giờ mới giải phóng được.
Rất nhiều DN vài năm qua đã không thể xoay sở do nợ nần chồng chất. Nhiều DN lớn cùng với các ông chủ nổi tiếng nhanh chóng lụi tàn và biến mất trên thị trường.
Thị trường khó khăn khiến doanh thu của các DN giảm mạnh, thậm chí dòng tiền bị đứt mạch. Trong khi đó, vì nợ quá nhiều nên chi phí tài chính luôn ở mức rất cao.
Trường hợp của Thái Hòa, trong 6 tháng đầu năm 2013, tập đoàn này gần như bị đứt mạch dòng tiền, doanh thu vỏn vẹn chưa tới 1 tỷ đồng, trong khi chi phí tài chính lên tới 84 tỷ đồng, trong đó lãi vay 36 tỷ đồng. Nợ ngắn hạn gần 2.000 tỷ đồng với phần lớn là nợ ngắn hạn khoảng gần chục NH là áp lực vô cùng lớn.
Ông Nguyễn Văn An cho rằng, những điểm xấu của Thái Hòa bộc lộ sớm giúp DN thấy được sai lầm và nhanh chóng tìm hướng giải quyết. DN này đã đàm phán thành công với nhiều NH để chuyển nợ ngắn hạn sang dài hạn – bước thành công ban đầu trong công cuộc tái cấu trúc DN. Tuy nhiên, vấn đề là bao giờ DN mới trả hết nợ, bao giờ Thái Hòa mới lấy lại được vị thế đầu ngành kinh doanh cà phê?
Đại gia miền Tây: Bản lĩnh vay ngàn tỷ rồi chuồn lẹ
Tác Giả; Huấn Tú – VEF – 25 May 2015
Nhiều “anh Hai” nổi lên như những đại gia lừng lẫy ở khu vực đồng bằng Nam Bộ nhưng khó khăn, nợ nần nghìn tỷ khiến hàng loạt doanh nhân bỏ trốn, để lại đống nợ cho người khách gánh chịu.
Bỏ của chạy lấy người
Ngày 12/05/2015, Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HSX) đã có quyết định hủy niêm yết 43,33 triệu cổ phiếu của Công ty Cổ phần Việt An – Anvifish (AVF) từ ngày 10/6. Đây thực sự là một cú sốc đối với rất nhiều NĐT. Với chỉ duy nhất cổ đông nắm giữ trên 1 triệu cổ phiếu, AVF có một số lượng cổ đông nhỏ lẻ rất lớn.
AVF lên sàn hồi cuối 2010 với giá gần 20 nghìn đồng/cp. Tới cuối 2014, cổ phiếu này chỉ còn 3.000 đồng và hiện tại chưa tới 1.000 đồng/cp.
Anvifish bị hủy niêm yết là do vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ công bố thông tin, liên tục chậm công bố báo cáo kiểm toán năm 2014. Theo báo cáo công ty tự lập, năm 2014, AVF thua lỗ kỷ lục, lên tới 892 tỷ đồng, khiến vốn điều lệ cuối năm 2014 bị âm 368 tỷ đồng
Chỉ với “thành tích” thua lỗ tự khai báo kỷ lục như vậy, nếu không có gì thay đổi sau kiểm toán, AVF cũng sẽ bị hủy niêm yết. Tuy nhiên, AVF còn tồn tại rất nhiều vấn đề. Đó là sự vắng mặt của cổ đông lớn, sự biến động nhân sự chủ chốt của AVF mà DN này nhiều lần “quên” công bố thông tin.
Giữa năm 2014, một loạt thành viên HĐQT Anvifish, trong đó có nguyên chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Lưu Bách Thảo đã đồng loạt từ nhiệm. Ông Thảo đã âm thầm bán toàn bộ 3 triệu cổ phiếu AVF (6,92%) để ra nước ngoài trị bệnh. Các thành viên HĐQT khác bao gồm bà Lê Thị Lệ Thủy, bà Phùng Hoàng Trâm Anh, ông Daniel Yet và ông Nguyễn Quốc Tín cũng đồng thời có đơn xin từ nhiệm vì lý do cá nhân.
Trước đó, đại gia thủy sản miền Tây, Lâm Ngọc Khương của Thủy sản Phương Nam cũng đã bỏ trốn để lại khoản nợ 1.600 tỷ đồng khiến 25 nguyên lãnh đạo chi nhánh, phòng chuyên môn của 5 NH bị truy tố vì vi phạm trong cho vay.
Theo Cơ quan cảnh sát điều tra, từ 2008-2012, Phương Nam đã được vay nhiều nghìn tỷ và phần lớn sử dụng sai mục đích. Dù DN liên tục thua lỗ, “đại gia” Lâm Ngọc Khương đã chỉ đạo lập khống hàng chục báo cáo, văn bản giấy tờ để được vay NH.
Cuối 2011, Khuân cùng vợ Trần Thị Mỹ lấy lý do sang Mỹ chữa bệnh để trốn nợ, ủy quyền cho con gái Lâm Ngọc Hân làm giám đốc, ủy quyền cho con Lâm Ngọc Khoa sở hữu các tài sản cá nhân đã dùng thế chấp NH. Con gái đại gia này sau đó cũng xuất cảnh trở về Mỹ để lại DN nợ ngập đầu NH.
Ở Mỹ, Khuân – Mỹ – Hân sau đó đã ủy quyền cho một thành viên HĐQT thay mặt công ty giải quyết và có thư xin lỗi các NH vì không có khả năng thanh toán nợ. Hàng loạt đàn em của Khuân cùng các đối tác, bạn bè phải ra hầu tòa. Các NH ngậm ngùi chia xác Phương Nam.
Vợ chồng đại gia Thủy sản Bình An (Bianfishco) Diệu Hiền – mẹ chồng hotgirl MC Quỳnh Chi từng nổi như cồn tại khu vực ĐBSCL, nhưng khối nợ NH và người dân cả nghìn tỷ đồng cũng đã khiến nữ doanh nhân này bỏ Bình An lại cho các chủ nợ, đi chữa bệnh ở Mỹ, rồi về nghỉ ngơi, dưỡng bệnh.
Nhiều ông chủ của các DN có tên tuổi ở ĐBSCL như Thủy sản Thiên Mã, Đông Nam, An Khang,… vốn hùng mạnh một thời cũng kẻ “chết”, người thoi thóp, hoạt động cầm chừng. Nhiều đại gia để lại món nợ quá hạn hàng trăm tỷ đồng. Hệ quả, các NH, chủ nợ buộc phải xâu xé cái xác còn lại của các DN thủy sản chết yểu. Nhiều cán bộ ngân hàng cũng rơi vào tình cảnh tù tội.
Vay nhiều, làm lớn, chết nặng
Hàng loạt vụ vỡ nợ, đổ bể của các đại gia ngành thủy sản gần đây cho thấy một thực tế làm ăn không dễ dàng và nợ nần chồng chất của rất nhiều DN tại khu vực ĐBSCL.
Theo báo cáo tự lập, tới cuối 2014, AVF âm vốn chủ sở gần 370 tỷ đồng trong khi đó nợ ngắn hạn lên tới 1.562 tỷ đồng. Doanh thu cũng chỉ đạt chưa tới 230 tỷ đồng.
Ông Lưu Bách Thảo thành lập Anvifish năm 2007, cổ đông lớn là các thành viên trong gia đình. Sự lên ngôi của con cá tra, cá basa đã giúp Anvifish phát triển như vũ bão với 2 xí nghiệp chế biến 250 tấn/ngày. Quy mô vốn của AVF liên tục tăng từ 50 tỷ lên 225 rồi 433 tỷ đồng. Tổng tài sản cũng tăng vèo vèo lên hàng nghìn tỷ đồng, đi kèm theo đó là hàng loạt các khoản vay NH khổng lồ phục vụ cho những dự án đầu tư nhà xưởng, kho bãi hoành tráng. Thị trường đi xuống, kinh doanh khó khăn, chi phí tăng cao đã khiến AVF nhanh chóng lao dốc.
Trong báo cáo giải trình hồi đầu tháng 2/2015, AVF cho biết điều kiện sản xuất kinh doanh khó khăn, cùng với sự biến động của các cổ đông chủ chốt và những chênh lệch lớn về chỉ tiêu tài chính,… là những nguyên nhân khiến DN lao dốc.
Năm 2014, từ 512 tỷ đồng hàng tồn kho đầu năm, sau khi đánh giá lại, AVF chỉ còn gần 16 tỷ đồng. Hàng tồn kho kém phẩm chất đã là mối đe dọa trực tiếp đến kết quả kinh doanh của công ty.
Cuối năm 2014, ông Trần Tấn Hải, nguyên Giám đốc Công ty TNHH chế biến và xuất nhập khẩu Việt Hải – một đại gia thủy sản ở Cà Mau, đã bị bắt để điều tra về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Cho tới khi bị bắt, ông Hải đã vay cả trăm tỷ đồng từ NH và lãi không đóng lũy kế lên đến 50 tỷ đồng. DN nhiều năm chỉ sản xuất cầm chừng, không tiền trả lương cho công nhân.
Với “đại gia” Lâm Ngọc Khuân do không nắm bắt được thị trường đã khiến Phương Nam liên tục thua lỗ. Tình cảnh nợ nần càng thêm trầm trọng bởi sở thích xài sang ít ai bì kịp. Tuy nợ đầm đìa nhưng Khuân vẫn xây lâu đài hoành tráng, mua căn hộ cao cấp tại khu Phú Mỹ Hưng,… Tính tới trước khi bỏ trốn, ông Khuân nợ các NH gần 1.600 tỷ đồng, con số thất thoát lên tới 500 tỷ đồng.
Huấn Tú

Những cuộc đời nghèo

Những cuộc đời nghèo ở Làng Cay, Nghệ An
Tác Giả: Thanh Trúc- RFA – 14 May 2015
Xã Nghĩa Lợi, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, có những làng nhỏ như Sỏi, Mít, Lùng, Cáo, Chảo, Chát vân vân…Cay là một trong tất cả 10 làng bản như thế.
Cuộc sống người dân Làng Cay
Làng Cay, sau này gọi là Tân Cay, có 77 hộ, 396 nhân khẩu, hầu hết là dân tộc Thanh hoặc Thái, sống trên vùng rừng núi giáp tỉnh Thanh Hóa , nhiều người không biết đọc biết viết.
Đối với anh Bảo, một người sinh sống gần đó, dân làng Cay có số phận cơ cực như cái tên của nó:
Ở đây nguyên là rừng núi, sau một thời gian dài bị phá, phá cây rồi lâm tặc rồi kiểm lâm cấu kết tranh nhau thì coi như bây giờ chỉ toàn là đồi trọc thôi. Ở đấy thì toàn bộ không có đường bê tông nào cả. Ở đây nắng thì hạn hán mà mưa thì lũ lụt, khó làm ăn lắm. Người dân ở đó chỉ có trồng cây dưa, cây mía, cây sắn thế thôi, chứ còn lúa thì rất hãn hữu, Dọc ven suối khai thác được cái gì đó, coi như được một ít nào đó thì trồng lúa thôi. Người dân ở đấy cũng rất vất vả, ngoài vụ mùa ra thì đi làm thuê.
Đã vậy, làng cũng khá là xa chợ, từ Cay bộ đến chợ, đến trung tâm thị xã phải hơn mươi, mười lăm cây mới tới:
Nguyên bản của nó là làng Cay, sau này người ta thấy từ Cay đắng chát quá người ta đổi thêm chữ Tân nữa, Tân Cay, Tân Sỏi, Tân Mít…cho nó khác khác đi thôi chứ mà bản chất của nó vẫn là Cay thôi chứ không có gì khác được.
Là địa phương nghèo mà lại ở vùng xa, làng Cay được chính phủ đưa về một số dự án hỗ trợ như Chương Trình 134 và Chương Trình 135. Anh Bảo giải thích:
Nơi nào nghèo khó thì coi như chính phủ đầu tư vào để xóa nhà tranh tre dột nát đi, tức là Chương Trình 134 đấy. Có nơi như vậy là 7 triệu, có nơi thì 20 triệu. Như vậy trong làng Cay này theo họ báo cáo thì một hộ là 6 triệu. Nhưng mà như dân trao đổi thì coi như chỉ nhận được 1.200.000 thôi. Đấu tranh mãi thì xóm trưởng đưa thêm 300.000 nhưng rất nhiều người bị trừ vào các khoản gọi là công ích và nghĩa vụ. Ủy ban xã họ trừ những khoản đó coi như một thành tích riêng của xã.
Chương Trình 135 là đầu tư do địa phương, trong đó có sửa sang nhà, làm các công trình thủy lợi, xây dựng các công trình điện và đường xá, giải quyết những chế độ đối với dân nghèo, cho người dân nghèo nuôi bò. Thế nhưng theo tôi quan sát thì Chương Trình 135 là hầu như đường xá không thấy mà thủy lợi cũng không có gì ở đó cả.
Ông Vi Văn Thanh, người dân tộc Thanh, lên làng Cay từ năm 1983, nói rằng vì ông đi vay tiền để sửa sang nhà cửa trước đó nên đã không được hưởng chương trình 134 Chương Trình Xóa Nhà Tranh Tre Dột Nát:
Toi từ trước đến nay nỏ (không) có gì đâu, đi vay mượn thế thôi. Hồi trước được mấy cân muối với dầu với chi đó thôi, rồi từ thưở đó đến chừ không được cái chi hết. Tôi thì cũng không có gì, làm ăn chỉ chân tay thôi, nhà nước thì cũng không thấy hỗ trợ cái gì cả. Thực tế là nhà cửa coi như không có chi đâu
Dân Làng Cay hiền lành và cam chịu
Với bản tính đơn sơ của người dân tộc, lại cho rằng chữ nghĩa mình không có nhiều, ông Vi Văn Thanh nhìn sự bất công đối với gia đình ông bằng thái độ nhẫn nhịn, cam chịu:
Tôi cũng nỏ (không) khiếu nại, đại thể tùy xóm trưởng hay dân làng hay xã nếu mà đi kiểm tra hay đi rà soát hộ nghèo thì cứ đi vô tận nhà tận cửa mà rà soát. Đất đai này, gia đình có chi này, anh phải vô tận nhà coi như mới xét được. Tôi cũng không trách móc chi cả, cho thì cám ơn, không cho cũng cám ơn, không có thì đi vay mượn.
Với hộ gia đình chỉ đủ ăn đủ mặc như hộ ông Vi Văn Thanh, tiền nghĩa vụ hàng năm nộp cho xã cũng là điều đáng nói:
Nghĩa vụ tất nhiên năm mô cũng phải làm rồi, thuế hàng năm nhiều chứ, một năm 3 khẩu coi như ba bốn trăm nghìn. Nhà nước hỗ trợ chi? Hỗ trợ mà em có được chi mô.
Có vẻ như số tiền hỗ trợ xóa nhà tranh tre dột nát và tiền hỗ trợ xóa đói giảm nghèo mà cán bộ làng xã phân phối cho bà con không đồng đều, có nghĩa mỗi nhà mỗi khác, khiến nhiều người vừa thắc mắc vừa không hài lòng.
Ông Vi Văn Nam, cũng người làng Cay, được coi là hộ đặc biệt nghèo khó
Nói chung là 34 (chương trình 134) 35 đó (chương trình 135) không hiểu sao mà em cũng bị trừ mấy phần trăm tiền nghĩa vụ, đâu có được bao nhiêu đâu. Một năm là em được hưỡng ba bốn trăm nghìn tiền 135, thế mới nói. Nếu thật sự xóa đói giảm nghèo với xóa tranh tre thì làng của bọn em nhà mô được nhiều thì 106 triệu, có nhà thì 20, 30 triệu đó. Em thì họ tính trung bình cho được 20. Nói chung họ không xác định được 20 triệu hay là 17 triệu hoặc là 15, 16 triệu chi đó. Họ chưa xác định được cho nên bọn em cũng chưa xác định là nhận số tiền đó, chưa đăng ký và chưa ký tên vào đó.
Em thì nói chung thuộc thứ nhất là hộ rất nghèo, thứ hai nữa là đặc biệt khó khăn, gà trống nuôi con, Đưa con đi học rồi cả ăn cả uống nữa rồi nộp tiền học cho con cho nên là đặc biệt khó khăn.
Về tiền nghĩa vụ các loại ở Làng Cay, anh Nam kể một năm anh phải đóng gần một triệu đồng:
Một năm cũng bảy tám trăm nghìn tiền nghĩa vụ, còn tiền hỗ trợ rồi tiền góp về các hộ nghèo, thứ hai nữa là hỗ trợ các lũ lụt, các thứ khác thì hai ba trăm (ngàn ) nữa, nói chung là gần một triệu thì em cũng nộp đủ cả trong một năm. Nộp cho xóm trưởng để làm cái gì thì em cũng đâu biết, nhưng mà xóm trưởng nói là hỗ trợ hội người mù này, hội lũ lụt này, hội gì lung tung … Thông báo lên cho làng, làng nộp thì em nộp theo em đâu biết gì đâu. Cuộc sống của em nói chung cũng khó khăn rồi, kiếm được đồng mô thì nuôi con nuoi cái vậy thôi chứ cũng không thắc mắc nhiều. Ai kêu em đi làm cái chi thì em làm cái đó, kể cả đi bốc phần chứ đừng nói là… Suốt ngày đi cuốc ruộng thuê rồi là bốc vác lung tung thôi, chứ còn lúc mô cũng mong chờ nhà nước thì bấu cái chi mà ăn. Họ thích cho ai thì họ cho thôi.
Được hỏi tại sao người dân làng Cay lại nín nhịn hiền lành và có vẻ cam chịu quá mức như thế, anh Bảo cho rằng:
Kêu cũng không được, coi như dân người ta cũng đi vào tiêu cực, chán ngán, không muốn kêu ca lắm nữa.
Theo phản ảnh của bà con làng Cay, để xây nhà cho hộ nghèo theo Chương Trình 134, mỗi gia đình được nhà nước cấp 6.000.000 đồng. Tuy nhiên hộ ông Lô Văn Duy chỉ được cấp 1.200.000 đồng. Khi ông Duy nêu thắc mắc, cán bộ xóm đưa thêm 300.000 đồng.
Sáu hộ khác, trong đợt một cũng được cấp 1.200.000 đồng nhưng thay vì tiền thì lại qui thành vật liệu xây cất như ngói, sắt, thép, xi măng, đá cát vân vân.
Đến đợt hai, những người này được xã thông báo bổ sung thêm 300.000 đồng nhưng được cán bộ viết vào giấy là cấn trừ 300.000 đồng tiền xóa nhà tranh tre dột nát vào tiền nợ nghĩa vụ.
Ngoài ra, cũng có hộ được nhận 1.500.000 đồng trong đợt đầu và đến đợt hai thì được bổ sung thêm 500.000 đồng nữa.
Qua tiếp xúc và tìm hiểu của anh Bảo, sau khi nhận thấy những hộ thân cận với cán bộ đều được nhận 6.000.000 đồng, bà vợ của ông Lô Văn Duy đã xuống xã khiếu nại. Khi yêu cầu được xem danh sách và giấy tờ thì bà phát hiện gia đình mình cũng được hưởng 6.000.000 nhưng đã có ai đó giả mạo chữ ký để nhận tiền rồi. Từ đó đến giờ, bà Hương, vợ ông Duy, nhiều lần đi lại đòi tiền mà không được giải quyết.
Cũng có trường hợp một số gia đình không được thông báo về việc đến nhận tiền hỗ trợ đợt hai. Khi đến hỏi, cán bộ xóm trả lời là tiền đó đã trừ vào nợ nghĩa vụ rồi.
Còn Chương Trình 135 xóa đói giảm nghèo thì sao? Anh Bảo cho hay có nhà dù đã được bình bầu hộ nghèo để được cấp một con bò. Tuy nhiên khi trao bò thì người đó không được nhận với lý do đang nợ nghịa vụ nên bị cắt.
Mặt khác có nhiều hộ, đang còn nợ tiền nghĩa vụ, đã lên tới xã xin giấy chứng thực hộ nghèo nhưng xã không chứng mà còn hạch hỏi thêm những loại giấy tờ khác khiến dân làng phải trở đi trở lại rất nhiều lần.
Cán bộ địa phương nói gì trước phản ứng thầm lặng của bà con làng Cay? Ông Nguyễn Văn Quyết, chủ tịch xã Nghĩa Lợi, khẳng định không có chuyện bất cập hay sai trái trong khi thực hiện chương trình hỗ trợ của nhà nước .
Có nhiều chương trình hỗ trợ do Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc thực hiện, ông Nguyễn Văn Quyết nói, các khoản đóng góp nghĩa vụ thì được thu theo Nghị Quyết của Hội Đồng Nhân Dân Xã
Chế độ chính sách của Đảng, Nhà Nước đưa về địa phương thì địa phương cũng chu cấp cho bà con đầy đủ thôi. Có một trường hợp, riêng một trường hợp thì có sự trùng lập ngẫu nhiên trong một năm như thế gia đình này có hai chế độ mà cán bộ chi trả nhầm lẫn thì thanh tra đã làm việc, đã có kết luận và đánh giá trách nhiệm bồi hoàn của một người.
Còn ngoài thì bao nhiêu chế độ là đầy đủ hết, không thiếu một ai, nhưng mà chế độ này là thuộc bên Mặt Trận người ta làm. Hỗ trợ cho nhà được triệu rưỡi, nhà hai triệu. Bên mặt trận tập hợp danh sách của các xóm chuyển sang cho Ủy Ban rồi Ủy Ban chịu trách nhiệm đi lĩnh tiền này về cấp phát cho bà con, nói tóm lại là đầy đủ.
Về số tiền 1.200.000 cấp trong đợt 1 nhưng được qui thành vật liệu xây dựng chứ không phải tiền mặt, ông chủ tịch xã Nghĩa Lợi giải thích:
Có chỉ đạo là bà con đồng bào thiểu số thì nhận thức họ cũng mức độ cho nên nếu cấp tiền mặt sợ họ ăn uồng nhậu nhẹt hết đi, họ cũng phải biết rằng cán bộ xóm chịu trách nhiệm đi mua xi măng, sắt , thép về cho họ. Coi như cấn trừ bằng hiện vật thì 1.200.000, còn lại 300.000 là nhận tiền mặt chứ còn không phải là chia ra nhiều lần. Số hộ nằm trong diện được xét 6 triệu thì cấp đủ 6 triệu, chỉ có một hộ trùng lập thì cán bộ đã chi lại cho đủ. Việc này đã có kết luận, không phải hộ nào cũng được 6 triệu mà địa phương không chi trả, cái đó là không có.
Ông chủ tịch Xã Nghĩa Lợi này còn khẳng định làng Cay đã thực hiện được tiêu chí xóa đói giảm nghèo do nhà nước đề ra:
Bây giờ tỷ lệ hộ nghèo đói không còn bao nhiêu nữ mà trình độ dân trí cũng được nâng lên. Cách đây 10 năm trong xóm đó chỉ có 3 cái nhà xây thôi,chứ mà đến giờ phải nói có đến 85% nhà xây. Tôi cam đoan một điều rằng có hai trường hợp, coi như bị cấp nhầm một trường hợp và cấp thiếu một trường hợp thì cái này là thanh tra đã làm, và Ủy Ban sắp tới sẽ kỷ luật cán bộ này và cho nghĩa. Còn riêng việc thanh toán lại cho dân thì đó là điều đương nhiên thôi.
Tuy nhiên theo anh Bảo, có người thân ở trong làng Tân Cay, chỉ mới một làng mà đã bao nhiêu chuyện bức bối và bao nhiêu người kêu ca, nếu tính cả 10 làng gồm Tân Sỏi, Tân Mít, Tân Lùng, Tân Cáo van vân với 70% là người dân tộc thì số dân nghèo đi kêu ca còn nhiều tới đâu.
Cái có thể nhìn thấy trước mắt những nơi này, anh Bảo mô tả, là sự chênh lêch giàu nghèo không phải giữa người làng với nhau mà là giữa dân làng với cán bộ. Điển hình nhà dân thì nhỏ bé tềnh toàng chứ nhà xóm trưởng làng Cay chẳng những là nhà xây mà còn to đẹp nhất làng.

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2015

Loạt Bài Về Hướng Đi Cho Nông Nghiệp Việt

Nguồn : Vững Đại Phát
 
Bài 4:  Nông nghiệp Việt và những thách thức
Tác Giả: Đỗ Tuyết Khanh – Saigon Tiếp Thị -
SGTT – Cũng như các quốc gia khác, gia tăng dân số, hao hụt đất đai vì ô nhiễm, đô thị hoá và công nghiệp hoá, thâu tóm đất đai, và nhất là biến đổi khí hậu đều là những vấn đề đè nặng lên nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.
nong viet
Cạnh đó, còn có những điểm yếu đặc thù làm bức tranh tổng thể nông nghiệp và nông thôn Việt Nam càng đáng lo ngại hơn. Nông thôn Việt Nam vẫn còn rất nghèo, tuy chiếm 70% dân số và đóng góp 20% vào GDP, thu nhập của nông dân chỉ bằng 1/3 mức bình quân của cả nước, và 1/4 mức bình quân ở thành thị, tỷ lệ đói nghèo còn cao (18%). Ngân sách nhà nước dành cho nông nghiệp, nông thôn, từ nhiều năm nay vẫn không quá 10% tổng số vốn đầu tư, nông dân chỉ hưởng 25% các đầu tư về giáo dục và y tế.
Sự phân hoá thành thị và nông thôn là trái bom nổ chậm, sớm muộn sẽ dẫn đến bất ổn xã hội trầm trọng, như đã xảy ra tại một số nơi ở Trung Quốc.
Trong các khó khăn nhiều mặt của nông nghiệp Việt Nam, xin nêu lên những vấn đề chính và cấp bách nhất.
Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm đang trở thành một hiện tượng “bình thường” của cuộc sống, hậu quả tất yếu và cái giá phải trả của “công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”? Đáng sợ không kém những tác hại của nó là tâm lý bất lực chung: người dân cam chịu, chính quyền lúng túng hoặc dung túng, các công ty chai lì, bất chấp luật lệ và dư luận.
Chính sách và luật lệ vô hiệu khi còn nhiều lỗ hổng. Các cuộc kiểm tra phải được báo trước nên nhà máy dễ che giấu các vi phạm và các mức phạt quá thấp nên nhiều công ty chọn trả tiền phạt thay vì lắp đặt hệ thống kiểm soát ô nhiễm tốn kém. Các vi phạm không được xử lý kiên quyết và nghiêm minh, vì tham nhũng, vì quyền lợi của một số người, vì nể nang nhau giữa cơ quan nhà nước và xí nghiệp cũng của Nhà nước, hay vì những khiếm khuyết cố hữu trong việc thi hành luật.
Tương lai sẽ ra sao khi theo chính các thống kê của bộ Tài nguyên và môi trường, hiện có khoảng 4.000 cơ sở sản xuất kinh doanh và 1.450 trên tổng số 2.100 làng nghề gây ô nhiễm? Trong số 800.000 cơ sở sản xuất công nghiệp hiện nay, 80% sử dụng công nghệ cũ kỹ của những năm 80, thậm chí những năm 70, 60 của thế kỷ trước, hầu hết đều gây ô nhiễm môi trường.
Đô thị hoá cũng là một nguồn ô nhiễm lớn. Áp lực rất nặng của đô thị hoá lên môi trường càng trầm trọng hơn ở Việt Nam với cung cách phát triển xô bồ, vô tổ chức và vô ý thức ở nhiều nơi.
Song phải nói là nông nghiệp không chỉ là nạn nhân mà cũng có trách nhiệm. Phân bón và các thuốc trừ sâu hoá học làm biến chất lớp đất tự nhiên, ô nhiễm sông ngòi và mạch nước ngầm…
“Thu hồi” đất đai
Diện tích đất canh tác trên đầu người của Việt Nam hiện nay thuộc loại rất thấp trên thế giới và ngày càng ít đi. Chỉ trong bảy năm, từ 2001 đến 2007, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi đã lên nửa triệu ha, hơn 80% là đất tốt, canh tác hai vụ lúa một năm. Theo bộ Tài nguyên và môi trường, có khả năng từ nay đến 2020, từ 10 – 15% đất nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.
Đất nông nghiệp đang bị mất đi trong nhiều điều kiện rất vô lý. Nhiều khu công nghiệp, dịch vụ nằm trên những “bờ xôi ruộng mật”, dù đã có lệnh bảo vệ những vùng này. Có nơi, dự án lấy đất xong rồi bỏ đó, bạc màu, hoang hoá. Có nơi, dự án thi công phá vỡ hệ thống thuỷ lợi, khiến nông dân không thể canh tác được nữa. Phi lý nhất là “phong trào” dùng đất nông nghiệp để xây sân golf.
Ngoài việc ảnh hưởng đến an ninh lương thực, các nông dân mất đất cũng mất phương tiện sinh sống. Một khi dùng cạn số tiền đền bù, thường là rẻ mạt, họ rơi vào cuộc sống bấp bênh của những người “ba không”: không đất để cày, không nghề để sống, không nơi để đi.
Trong quá trình phát triển của một nước, tất nhiên có những nhu cầu mâu thuẫn nhau. Công nghiệp hoá là một trong những con đường giúp ra khỏi nghèo nàn lạc hậu, tất nhiên đòi hỏi một số hy sinh, nhưng phải làm sao hy sinh ít nhất và một cách hợp lý nhất.
Nông dân và doanh nghiệp lẽ ra phải là những đối tác bình đẳng, quyền lợi phải được coi trọng ngang chứ không thể như người ban ơn và nhận ơn.
Cơ chế
Tình trạng sản xuất phân tán làm nông dân thiệt thòi nhiều mặt: các ngân hàng, tổ chức khuyến nông không thể đưa dịch vụ tới tận những làng bản xa xôi cho từng nông dân nhỏ lẻ vì chi phí quá cao. Các chương trình điện hoá, cung cấp nước sạch không đến được những gia đình rải rác trong những vùng sâu và xa. Quan trọng hơn cả là vấn đề hiệu quả kinh tế. Quy mô nhỏ lẻ là kết quả của một quá trình lịch sử dài, nhưng trong thời hội nhập, nông nghiệp phải tiến đến một nền sản xuất lớn có giá trị gia tăng với những sản phẩm có chất lượng cao và ổn định.
Xin đưa ra một thí dụ: gạo, mặt hàng chủ lực của nông nghiệp và xuất khẩu Việt Nam.
Giữa nông dân và thị trường, thông qua các doanh nghiệp thu mua và chế biến, dù là cho xuất khẩu hay tiêu thụ trong nước, quan hệ càng trực tiếp càng có lợi cho người sản xuất. Hiện nay, các doanh nghiệp không thể ký, chưa nói đến việc thực hiện hợp đồng với hàng trăm ngàn nông dân để có đủ số lượng cần thiết nên cần bộ phận trung gian là các thương lái. Vì cách thu mua này mà tuy Việt Nam mang danh nước xuất khẩu gạo thứ nhì trên thế giới, chất lượng gạo Việt Nam luôn thấp vì gom từ nhiều nguồn, nhiều loại lúa trộn lẫn, gạo xay ra chủ yếu phẩm cấp thấp. Giá gạo Việt Nam thấp nhất trong sáu nước xuất khẩu gạo chính. Nông dân không lời khi thị trường thuận lợi và phải chịu lỗ khi nông sản mất giá.
Nông dân và doanh nghiệp lẽ ra phải là những đối tác bình đẳng, quyền lợi phải được coi trọng ngang chứ không thể như người ban ơn và nhận ơn. Cách làm tự phát, thiếu định hướng, thiếu hướng dẫn hiện nay đẩy người nông dân vào thế bị ép và phải chấp nhận thua thiệt mọi bề.
Sự yếu thế này có thể giải thích do hệ thống thu mua và nhất là vai trò của hiệp hội Lương thực Việt Nam.
Hiệp hội Lương thực Việt Nam tập hợp các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến lương thực, nhưng không phải là một hiệp hội ngành hàng (trade association) mà thực chất là cơ quan nhà nước, tổ chức và hoạt động theo điều lệ do bộ trưởng bộ Nội vụ phê duyệt, và chịu sự quản lý của bộ Thương mại (nay là bộ Công thương). Hiệp hội này có những quyền hạn to lớn và các chức năng của Nhà nước như phân hạn ngạch và cấp quota xuất khẩu. Điều này tạo ra xung đột lợi ích, biến cơ chế thành công cụ bảo vệ quyền lợi của một nhóm.
Tập hợp nông dân lại thành tổ chức là một nhu cầu bức bách và là điều các nhà kinh tế đã kêu gọi từ nhiều năm nhưng chưa thành hiện thực. Lý do phải chăng là vì nói đến “hợp tác xã”, dù là kiểu mới, “tích tụ ruộng đất”,… vẫn còn làm liên tưởng ngay đến cải cách ruộng đất, hợp tác hoá cưỡng bức? Cũng có thể tự hỏi: lực cản là từ não trạng người nông dân hay là từ những tổ chức không muốn thay đổi cán cân lực lượng hiện rất có lợi cho họ – những công ty nhà nước trong hiệp hội?
Một mặt, nông dân phải có một tổ chức thực sự mang tiếng nói, bảo vệ quyền lợi, phản ánh đích lhực những nhu cầu và nguyện vọng của họ. Hội Nông dân Việt Nam không đóng vai trò này vì
đây chủ yếu là một tổ chức chính trị – xã hội chứ không phải là một tổ chức kinh tế. Mặt khác, cần phải xem lại vai trò của hiệp hội Lương thực và cơ cấu chức năng của bộ máy quản lý nhà nước trong nông nghiệp, nhất là trong việc quản lý các khoản đầu tư.
Nhà nước còn thiếu những chính sách điều phối cụ thể để đảm bảo thu nhập người nông dân. Chẳng hạn, hệ thống kho đệm (buffer stocks) ở nhiều nước cho phép điều tiết cung cầu, Nhà nước mua vào khi sản xuất dư, bán ra thị trường khi sản xuất thiếu để ổn định giá cả cho cả người tiêu thụ lẫn người sản xuất.
Nông dân cũng phải được hỗ trợ phía đầu vào: chỉ cần Nhà nước giữ vững giá phân bón thôi, chẳng hạn, cũng giúp họ cầm cự trước lạm phát.
Tập hợp nông dân lại thành tổ chức là một nhu cầu bức bách và là điều các nhà kinh tế đã kêu gọi từ nhiều năm nhưng chưa thành hiện thực. Lý do phải chăng là vì nói đến “hợp tác xã”, dù là kiểu mới, “tích tụ ruộng đất”,… vẫn còn làm liên tưởng ngay đến cải cách ruộng đất, hợp tác hoá cưỡng bức? Cũng có thể tự hỏi: lực cản là từ não trạng người nông dân hay là từ những tổ chức không muốn thay đổi cán cân lực lượng hiện rất có lợi cho họ – những công ty nhà nước trong hiệp hội.
Chỉ khi nào thu nhập tương đối ổn định, nông dân mới có thể nghĩ đến đầu tư để phát triển hay cải thiện năng suất và sản phẩm. Chỉ khi nào có và áp dụng các chính sách điều phối về nông sản và giá cả, nông dân mới mong thoát khỏi cuộc sống bấp bênh, làm mùa nào biết vụ ấy, chỉ một xui xẻo nhỏ cũng có thể khánh kiệt.
Những biện pháp thường cần phải tính để bảo vệ nông nghiệp, nông dân khi hội nhập là phát triển hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm cho mất mùa hay mất thu nhập vì nhập khẩu tăng quá nhanh hay biến động giá thị trường.

 Bài 5: Hai điểm yếu của nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế
 Tác giả :TS. Nguyễn Quốc Vọng – Tia Sáng – 1 May 2014
Cơ cấu cây trồng bất cân đối và chuỗi ngành hàng thiếu đồng bộ là hai thực trạng cơ bản khiến nông nghiệp Việt Nam chưa khai thác tốt các lợi ích trong thương mại quốc tế.
Cơ cấu cây trồng bất cân đối
Từ bao đời nay, lúa vẫn là cây nông nghiệp độc canh của Việt Nam, thu hút mức độ đầu tư rất cao về nhân sự, nghiên cứu, đất đai, cơ sở tổ chức, lao động và tài chính. Nhưng điểm yếu của phương thức độc canh này là dễ dàng phát sinh bệnh hại, dẫn đến việc phải phun xịt một lượng rất lớn thuốc bảo vệ thực vật, làm ô nhiễm nông sản và ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của người sử dụng thuốc cũng như người tiêu dùng thực phẩm. Đồng thời, việc chú trọng quá nhiều vào lúa gạo cũng khiến nông nghiệp Việt Nam không thể khai thác hiệu quả nguồn lợi từ thị trường quốc tế dành cho một số nông sản khác, đặc biệt là rau củ quả – trên thế giới thị trường rau, hoa quả có giá trị lớn gấp 7 lần so với thị trường gạo.
Tình trạng bất cân đối cơ cấu cây trồng trên đây không chỉ do Việt Nam chưa có định hướng phát triển phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường thế giới, mà còn do người nông dân và các doanh nghiệp vẫn phải đối diện với nhiều rủi ro nên không dám đầu tư vào những ngành xuất khẩu đòi hỏi đầu tư công nghệ cao và có hệ thống như rau, hoa quả, chỉ tập trung sản xuất các mặt hàng nông phẩm thô như với lúa gạo, cà phê hay chè. Chính sách đất nông nghiệp chỉ cho phép sử dụng có thời hạn cũng làm tăng rủi ro cho người sử dụng đất, càng khiến các doanh nghiệp trong và ngoài nước không mặn mà với việc đầu tư có chiều sâu cho công nghệ cao trong nông nghiệp.
Vì vậy, kể cả sau khi gia nhập WTO, tổ chức thương mại có kim ngạch nhập khẩu nông sản trị giá hàng nghìn tỷ USD, Việt Nam đã xuất khẩu được nhiều hơn các sản phẩm gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, và sắn, nhưng lượng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa quả vẫn gần như ở mức yếu nhất.
Bảng 1. Thị trường nhập khẩu thế giới và một số mặt hàng nông sản xuất khầu chủ lực của Việt Nam. (Nguồn: FAO, http://unstats.un.org/unsd/default.htp)
Mặt hàng Thị trường nhập khẩu thế giới, USD 2010 Xuất khẩu Việt Nam, USD
2006 2009 2010 2011 2012
Rau quả      97,900,226,000     300,000,000     420,000,000    411,500,000      515,000,000   770,000,0006)
Hoa      25,000,000,000      10,000,000       14,200,000      60,000,000        60,000,000 N/A
Lúa gạo      16,818,180,0001) 1,489,970,000  2,600,000,000 3,230,000,000   3,700,000,000  3,700,000,000
Cà phê        7,548,041,000 1,911,463,000  1,800,000,000 1,670,000,000   2,300,000,000  3,740,000,000
Cao su        7,488,707,000 1,400,000,000  1,200,000,000 2,320,000,000   2,700,000,000  2,850,000,0005)
Chè        4,369,975,0001)     130,833,000      180,000,000    200,000,000      182,000,000     243,000,0004)
Hạt điều          1,719,352,0002)     653,863,000      850,000,000 1,140,000,000   1,400,000,000  1,480,000,000
Sắn N/A N/A N/A N/A     815,000,0007)  1,312,020,000
Hạt tiêu        1,761,363,600     271,011,000      328,000,000    390,000,000      775,000,000     802,000,000
Thế giới 1,361,853,000,0003) 8,300,000,000 15,300,000,000 19,150,000,000 25,000,000,000 27,310,000,000
1) Thị trường năm 2009, Trade Vietnam
2) Thị trường năm 2009, FAO
3) Thị trường thế giới năm 2006
4) Hiệp hội Chè Việt Nam VITAS, 2012
5) www.caosu.net
6) Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền nam – www.iasvn.org
7) Dữ liệu của 10 tháng đầu năm 2011
N/A: Chưa có số liệu
Chuỗi ngành hàng không đồng bộ

Hiện nay chúng ta đã có một số thành công trong công nghệ cao về tạo giống và cải thiện trong phương pháp canh tác: đã có nhiều giống lúa, ngô, cà phê, v.v có năng suất cao, chống sâu bệnh tốt; đã có nhiều mô hình trồng rau dùng màn che, phủ luống, trồng cà phê áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt hoặc hệ thống tưới phun có hiệu quả; đã áp dụng chế phẩm sinh học EM (Effective Microoganisms) đại trà nhiều nơi để thay thế thuốc bảo vệ thực vật và phân bón vô cơ. Nhờ những công nghệ mới này mà lúa gạo đã được trồng trên những cánh đồng lớn, cơ giới hóa, đưa sản lượng tăng cao đáng kể, từ 19 triệu tấn năm 1990 lên 32 triệu tấn năm 2000 và 42 triệu tấn năm 2011.
Tuy nhiên, vì chưa xây dựng được chuỗi ngành hàng xuyên suốt và đồng bộ, nên khi sản lượng lúa gạo đạt đỉnh thì chúng ta gặp những khó khăn như thiếu kho tàng để tạm trữ lúa sau thu hoạch, thiếu nhà mát để lưu kho, thiếu cơ sở để chế biến, và quan trọng hơn hết là thiếu thị trường để tiêu thụ một lượng hàng “thô” dồi dào trong khi hoạt động chế biến còn rất hạn chế. Thêm vào đấy, nông dân vào thời điểm thu hoạch cũng đã hết tiền nên phải bán tháo để lấy vốn cho kỳ tới. Về cơ bản các hiệp hội về nông dân và nông nghiệp Việt Nam chưa giúp nông dân giải quyết những vấn đề này một cách hiệu quả.
Kết luận
Việc đầu tư và phát triển không đồng bộ trong chuyển giao công nghệ vào chuỗi ngành hàng, những hạn chế trong thành phần sản xuất và tổ chức quản lý, đặc biệt hạn kỳ sử dụng đất và thủ tục giấy tờ rườm rà ở nông thôn đã và đang làm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như lúa gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, trà, v.v, không ứng dụng được công nghệ cao, chất lượng thấp, và “được mùa” thì  “mất giá” – giá xuất khẩu chỉ đạt khoảng 50-60% giá trung bình thế giới. Trong khi đó, đất có thể canh tác của Việt Nam đã khai thác gần hết, người lao động ở nông thôn đã bỏ lên thành phố khá nhiều, và trong những năm tới năng suất trên một diện tích tuy sẽ vẫn tăng nhưng không ở mức đáng kể như mấy năm qua.
Vì vậy, để đột phá nông nghiệp Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất, đó là áp dụng chính sách nông nghiệp/đất đai vì nông dân, xây dựng chuỗi ngành hàng, tích cực hỗ trợ việc đổi mới công nghệ và đưa công nghệ cao vào nông nghiệp, có như vậy mới tạo động lực để người nông dân và các doanh nghiệp linh hoạt điều chỉnh cơ cấu cây trồng, nâng cao chất lượng nông phẩm, thích nghi với nhu cầu của các thị trường và tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt trong kỷ nguyên hội nhập.
Nông sản trong thời đại WTO là sự tổng hợp của một chuỗi giá trị với sự kết hợp nhuần nhuyễn của ba khâu: i) kỹ thuật/công nghệ, ii) quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, và iii) thành phần tham gia sản xuất. Nhưng Việt Nam chỉ mới phát triển tốt cho một vài khâu, chưa hình thành một chuỗi ngành hàng xuyên suốt, đồng bộ.
Case Study: Australia

Australia có dân số khoảng 21,5 triệu người. Tuy lực lượng lao động trong nông nghiệp chỉ có khoảng 400.000 người, chiếm 4% lực lượng lao động nhưng chỉ số tự cung tự cấp về thực phẩm của Australia cao nhất thế giới. Sản lượng lương thực và vải vóc trung bình của mỗi người nông dân đủ để “nuôi” 190 người. Đây là con số kỷ lục, chưa có nông dân nước nào trên thế giới có thể sánh được, kể cả nông dân Mỹ.
Australia có chính sách kinh tế thị trường hướng đến xuất khẩu. Tuy nông nghiệp chỉ chiếm 3% GDP của cả nước, nhưng chính phủ Australia vẫn luôn có chủ trương giao việc cho nông dân, xem họ là thành phần chủ quản.  Vì nông dân là chủ thể của nông thôn nên thành phần này rất được chính phủ chú trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục, hỗ trợ về khoa học và công nghệ. Do vậy họ luôn cố gắng xây dựng một nền nông nghiệp bền vững có lợi cho ngành và toàn xã hội.
Ngoài ra nông dân Australia được khuyến khích thành lập Hiệp hội để quản lý ngành nghề của mình. Vì Hiệp hội là của nông dân, do nông dân thành lập nên đã thực sự giúp nông dân tổ chức tốt và quản lý hiệu quả dây chuyền sản xuất. Kiến thức rộng và kỹ năng cao của Hiệp hội đã hướng dẫn chính xác trong tính toán cung-cầu của thị trường trong và ngoài nước. Nông dân Australia do vậy không cần phải “chặt/trồng“ để theo đuôi thị trường, cũng không cần phải tiếp cận với thương lái trong những thương vụ mang tầm vĩ mô như xuất khẩu, nhập khẩu vì đã có Hiệp hội lo. Rất ít khi xảy ra cảnh “được mùa mất giá” vì thị trường luôn định hướng trước khi sản xuất. Thu nhập cao là điểm then chốt giúp nông dân Australia bám trụ, xây dựng nông thôn mới, và tiếp tục đưa nền nông nghiệp của quốc gia này tiến lên.

Tỷ Đô La Bốc Hơi Khi Gia Đình Lục Đục

Nguồn : Vững Đại Phát

Nội chiến gia tộc tranh giành thương hiệu Benihana: Người mẹ kế và cuộc chiến burger (Phần 1)
Theo Fortune – Mai Trâm (Trí Thức Trẻ) – 27 Mar 2015
Cuộc nội chiến gia tộc đang diễn ra khốc liệt tại chuỗi nhà hàng Nhật lớn nhất nước Mỹ, Benihana, do Rocky Aoki sáng lập. Sinh thời, ông có 7 người con cùng với 3 người phụ nữ khác. Và sau khi ông qua đời, những xung đột trong gia đình ngày càng tăng cao
- Keiko Ono Aoki, chủ nhân Công ty sở hữu chuỗi nhà hàng món Nhật Benihana of Tokyo và quản lý nhà hàng Benihana nằm trong khách sạn hạng sang Hilton Hawaiian Village Waikiki, Hawaii, Mỹ. Gần đây, nhà hàng Benihana Waikiki có sáng kiến bán loại burger Beni, món ăn do Ono sáng tạo chính, dưới dạng xe đẩy hàng rong trên bãi biển Waikiki để gia tăng doanh thu và độ nhận biết thương hiệu.
- Tuy nhiên, Ono đã vấp phải sự phản đối đến từ công ty sở hữu Benihana Waikiki, Tập đoàn Benihana, hiện đang thuộc quyền quản lý của một Tập đoàn đầu tư và các con của người chồng quá cố, Rocky Aoki. Ono không đồng tình và bà phát đơn kiện Tập đoàn Benihana, nhưng lại bị xử thua. Nhưng nguyên nhân thật sự đằng sau lại không chỉ đơn giản có vậy.
Nếu bạn muốn nhắc lại khoảng thời gian cuộc chiến giành quyền sở hữu Benihana leo thang, từ những cuộc gây hấn nhỏ cho tới những điều hoàn toàn vô lý, hãy quay lại thời điểm tòa án liên bang ban hành lệnh ngưng hoạt động nhà hàng Beni Burger.
Chắc chắn đó không phải là lần đầu tiên xảy ra việc tranh giành thương hiệu nhà hàng quốc tế này, và cũng không phải là lần duy nhất sự việc được đem ra tòa.
Những vấn đề khác sẽ được giải quyết bởi cơ quan xét xử bao gồm quyền sử dụng bơ tỏi, cách làm đúng trong việc sử dụng các hũ rắc muối và tiêu, và cả tính “giải trí” của chuỗi cửa hàng đã quá nổi tiếng trong giới sành ăn – các đầu bếp đội nón đỏ của nhà hàng nổi tiếng nhờ những pha xử lý điêu luyện với các dụng cụ nhà bếp trong khi kể chuyện cười cho khách – có bị bãi bỏ hay không.
Tuy nhiên, bạn vẫn có thể nhận ra vị thịt bò trong burger Beni khi mà cuộc chiến diễn ra theo chiều hướng cá nhân hóa. Nguyên liệu này được nghĩ ra bởi Keiko Ono Aoki, vợ của nhà sáng lập, Rocky Aoki. (Chúng tôi sẽ nhắc đến bà là Ono để tránh nhầm lẫn) Công ty của bà, Benihana of Tokyo, quản lý 18 nhà hàng từ châu Âu đến châu Á thuộc quyền sở hữu và cả nhượng quyền. Ngoài ra, công ty còn quản lý nhà hàng Benihana nằm trong khách sạn Hilton Hawaiian Village Waikiki. Ono nghĩ rằng việc bán burger – chiếc bánh có thành phần gồm tôm chiên bột và sốt đặt biệt – từ một chiếc xe đẩy gần bãi biển tại Waikiki sẽ thu hút những khách bộ hành và thêm nguồn thu từ những bữa ăn trưa.
Nhưng mọi việc không diễn ra thuận lợi như vậy, công ty của bà đã vấp phải sự phản đối từ tập đoàn Benihana, một pháp nhân độc lập sở hữu 79 nhà hàng Benihana ở Mỹ và Nam Mỹ – bao gồm cả nhà hàng Waikiki được quản lý bởi Công ty của Ono. Tập đoàn Benihana, thuộc sở hữu của công ty đầu tư Angelo Gordon, phản đối rằng Benihana về mặt luật pháp có quyền nghiêm cấm những việc như bán burger cho khách bộ hành, đó đơn giản là khái niệm bán thịt trong chiếc bánh mì không mang bản sắc của Benihana, và vì thế Ono bị cho là đang làm thương hiệu này trở nên thấp kém hơn.
Ono không phải người có thể bị ép buộc. Bà ta đã tìm đến tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình trong việc bán burger Beni – và bà đã thua kiện. Ono đã đáp trả như thế nào ? Bà ta tiếp tục bán những chiếc bánh kẹp, nay đã được đổi nhãn hiệu thành burger Tokyo. Tập đoàn Benihana trở lại tòa án nơi mà Ono đã kiện họ, và trong tháng 2 năm 2014, một thẩm phán đã ban hành quyết định nghiêm cấm việc bán bất kì loại burger Beni hay Tokyo nào, hoặc tương tự như thế.
Tất cả khiến Ono ngao ngán. Bà là vợ thứ ba của Aoki và từng nghĩ rằng mình có tinh thần khởi nghiệp của chồng. (Bà còn có ước muốn về ý tưởng những vũ công hip-hop, những người bà ta gọi là những cô gái Beni). Ono thấy mình nên là người cống hiến cho di sản của chồng, và bà đặc biệt cảm thấy khó chịu vì cuộc tranh cãi xung quanh chiếc bánh burger, một sản phẩm mà bà quan niệm rằng kế thừa những suy nghĩ sáng tạo của chồng mình. Ono phát biểu: “Họ nói rằng những chiếc bánh hamburger sẽ làm tổn thương đến thương hiệu Benihana, tôi thì không nghĩ như thế”.
Ono phủ nhận việc Angelo Gordon như là “đại diện các ngân hàng đầu tư”. Bà nói thêm “Tôi không chắc rằng họ hiểu mô hình ý tưởng của Rocky”. Ono đang ngồi trong căn hộ thoáng đãng của bà ở tầng 34, nơi nhìn xuống ngay nhờ thờ Thánh Patrick ở Manhattan. Nhỏ nhắn, đầy sức sống và duyên dáng, bà không hề nhìn giống đang ở tuổi 59. Bà được chăm sóc bởi một luật sư và chú chó giống Wheaten, Mugi, con vật ngắt quãng Ono với tần suất còn nhiều hơn cả những luật sư ủy quyền.
Từng là người đẹp tham dự cuộc thi hoa hậu Tokyo, sau đó Ono đã đến Mỹ để tạo dựng sự nghiệp. Với vai trò một nhà tư vấn, bà đã làm việc với những tập đoàn khổng lồ như Bayer và được khen ngợi vì đã đưa Wonderbra tới Nhật Bản. Tuy vậy, hồ sơ cá nhân của bà cũng ghi lại những thủ đoạn kinh doanh và kiện tụng trong quãng thời gian kinh doanh của mình.
Tranh chấp của Ono về burger Beni là hết sức ôn hòa (vừa được khơi gợi lại gần đây từ khoảng thời gian năm 2013) so với cuộc chiến của bà với 6 trong 7 người con của Aoki. Hai hậu bối trong gia đình Aoki này đang dính dáng với Ono trong các cuộc kiện tụng giành quyền ủy thác để điều hành thương hiệu Benihana của Tokyo. Vụ việc đã và đang từng bước dính sâu vào trong hệ thống pháp luật kể từ năm 2008. (Hai nguyên đơn chính là những người con có quan hệ tốt hơn với cha họ; 4 người anh em khác đều bị tước quyền thừa kế, và người con cuối cùng, một người con hoang, không hề có trong di chúc của Aoki). Cuộc chiến có vẻ như sẽ tiếp diễn trong nhiều năm nữa.
Nội chiến gia tộc tranh giành thương hiệu Benihana: Nhà sáng lập lắm tài nhiều tật (Phần 2)
Cũng như bao vụ tranh chấp trong gia tộc khác, những bên liên quan đều đổ tội, bôi xấu nhau trên truyền thông. Lối sống của Rocky Aoki, nhà sáng lập của Benihana, chính thứ chịu trách nhiệm lớn nhất cho những chuyện này
Những người con chồng và mẹ kế, Keiko Ono Aoki, liên tục bôi xấu nhau trên mặt báo lẫn đài truyền hình. Tuy nhiên, nguyên nhân ban đầu dẫn đến mọi việc ngày càng phức tạp không phải bởi do Ono mà là do chồng bà, Rocky Aoki, gây ra. Sinh thời, ông đã chia cắt đế chế của mình thành 2 công ty, thay đổi nhiều lần di chúc. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến thảm họa sau này cho gia đình.
Nguyên nhân sự tan vỡ của nhóm nhạc huyền thoại the Beatles cũng được gán ghép cho 1 người phụ nữ người Nhật nhỏ bé tên Ono. Tuy nhiên trong trường hợp của Benihana, chính người chồng của bà, Rocky Aoki, là người chịu trách nhiệm lớn nhất. Ông chính là người đã chia cắt đế chế của mình thành những công ty riêng biệt cùng trách nhiệm quản lý nhà hàng ở Hawaii. Mọi việc đều diễn ra tốt đẹp khi ông còn ở đỉnh cao quyền lực của mình nhưng lại trở thành thảm họa sau này. Và Aoki chính là người đã nhiều lần viết lại di chúc của mình, cho thấy sự bối rối và tức giận của ông.
Sự việc cho ta thấy những tranh chấp thường xảy đến sau đó khi người sáng lập để lại việc kinh doanh của mình cho một thế hệ sau. Hoặc đó có phải là một bí mật cho rằng sự hiện diện của người mẹ kế có thể phá hoại những mối quan hệ không huyết thống. Nhưng sự hỗn loạn đó lại được nhân lên trong vụ án của Rocky Aoki, một nguời có năng lực lãnh đạo và sự táo bạo để biến sự nổi tiếng của mình thành thế mạnh của công ty, khiến Richard Branson trông như một kẻ tập sự. Aoki đã từng là một điển hình thành công vang dội, một người nhập cư được lên trang bìa của tạp chí Newsweek.
Ông đã tạo ra một khái niệm ăn uống hoàn toàn mới, trường hợp điển hình được đưa vào sách giáo khoa của trường kinh doanh Harvard. Vấn đề là Aoki giỏi việc nghĩ ra những khái niệm và ý tưởng hơn là với những nhiệm vụ thường ngày, như là lên kế hoạch hay quản lý.
Aoki mất năm 2008. Ông dành một phần những năm tháng ốm yếu cuối cùng của đời mình trong việc cung cấp lời khai cho những vụ kiện tụng của gia đình. Aoki từng đứng về phe của Ono. Đây là những gì ông đã nói về bà và những người con của ông (từ 2 người vợ trước). Ông nói rằng những người con của ông xem bà là “kẻ đào mỏ” và người lơ đễnh, “Tôi chỉ không biết tại sao bọn chúng lại xa lánh vợ tôi như thế. Bà ta vốn là người rất tốt. Tôi nghĩ bà có nhiều kiến thức hơn trong việc quán xuyến mọi việc và công ty. Đó có thể là lý do bọn chúng sợ bà ấy. Nhưng bà ta đã đối xử rất tốt với chúng”.
“Biểu tượng” Rocky Aoki
Lớn lên ở Tokyo, ông miêu tả cha mình như là một nghệ sĩ biểu diễn tạp kỹ và là một vũ công thiết hài; mẹ ông là một vũ công Tango chuyên nghiệp. Họ cùng điều hành một nhà hàng có tên Benihana, nghĩa là bông hoa đỏ. Rocky chơi trong một nhóm nhạc rock có tên là Rowdy Sounds và ông từng đấu vật cho đội tuyển Olympic Nhật Bản trước khi chuyển đến Mỹ, nơi mà ông đấu vật (đủ tốt cho ông có thể giành 3 đai vô địch của Mỹ), đi học, và bán kem hiệu Mr. Softee trong một chiếc xe tải ở Harlem.
Tới năm 1964, ông để dành được 10.000 USD, đủ để mở một nhà hàng nhỏ ở trung tâm Manhattan. Đồ ăn Nhật vốn rất lạ và hiếm ở Mỹ thời đó, vì thế thực đơn của Aoki được giữ nguyên khẩu vị như ở Nhật; khẩu hiệu của Benihana lúc đó là “Không có những món trơn tuột và tanh”. Nhưng ông nhận thấy mình cần hơn thế để thu hút khách hàng người Mỹ, chính điều đó đã khiến có ý tưởng cho các đầu bếp biểu diễn nấu ăn trực tiếp. Nó là một bữa tối như ở sân khấu, với những đầu bếp thái những con tôm với sự huênh hoang, đốt những củ hành trên “ngọn núi lửa” dữ tợn, và nêm nếm chúng với một chút ít sự hài hước – tất cả dành cho 8 hay nhiều hơn thế khán giả thân thiết được sắp xếp ngồi quanh một cái bàn có lò nướng được đặt ở giữa.
Cuộc thử nghiệm trở nên nổi tiếng khi một nhà phê bình nhà hàng có tiếng của New York viết một bài cảm nhận sinh động. Aoki, người đã từng ngủ trên sàn nhà vệ sinh trong nhà hàng, bỗng nhiên trở thành đề tài sôi nổi của cả thành phố. Để giải quyết lượng khách đến nhà hàng ngày càng đông, ông mở thêm một nhà hàng thứ 2 ở trung tâm và qua lại theo dõi chúng trên một chiếc Rolls Royce. Tới năm 1972, Benihana đã có gần 20 nhà hàng và lợi nhuận lên tới 12 triệu USD một năm.
Từ lúc bắt đầu, Aoki đã cảm nhận được làm thế nào để sử dụng truyền thông như là một lợi thế. Ông củng cố cho danh tiếng của mình thông qua những chuỗi quảng cáo công khai được thực hiện trên không, dưới đất và ngoài biển – tất cả đều với cái tên “Benihana” hiện rõ trên những cỡ chữ lớn nhất có thể.
Cao 1m62 và đầy sự gan dạ, Aoki đã tổ chức giải đua thuyền tốc độ Benihana Grand Prix và trực tiếp cầm lái một chiếc cano dài 11m, cuộc thi đó ông đã giành chiến thắng vào năm 1979, và được lặp lại vào năm 1982. Ngoài ra, Aoki đã lái chiếc khinh khí cầu đầu tiên vượt Thái Bình Dương, giành chiến thắnng cuộc đua xe đường trường từ Matxcova tới Milan đầu tiên, và đạt được danh hiệu vô địch tại cuộc thi cờ Vua thế giới vào năm 1974. Aoki còn là tác giả có tác phẩm được biểu diễn trên sân khấu Broadway, có ý định mua những công ty lớn ở San Francisco, và cho ra mắt Genesis, một tạp chí khiêu dâm đến nay vẫn còn tồn tại.
Trong khoảng thời gian này, Aoki trở thành cha của 7 người con cùng với 3 người vợ. Ông ta giữ kín những thông tin cơ bản này: Ông không nghĩ các bà mẹ cần biết về nhau. Sau đó, vợ ông phát hiện ra sự tồn tại của người bạn gái và một người con khi họ ở bên cạnh Aoki trong bệnh viện Hawaii, nơi ông đang phục hồi từ 24 chiếc xương gãy và những thương tích khác ông ta gặp phải trong một tai nạn đua thuyền năm 1979. (Aoki sau này ly dị với người vợ đó, người mà có với ông 3 người con; sau đó ông cưới cô bạn gái, có thêm 2 người con với cô ta, sau đó cũng đã ly dị với cô. Người con thứ 7 của ông đến từ một mối quan hệ không phải hôn nhân khác).
Những mối quan hệ của Aoki không chỉ là điều duy nhất gây khó khăn cho ông: công việc kinh doanh của ông cũng đã bắt đầu trở nên khó khăn. Vào năm 1983, Aoki chia sẻ quyền sở hữu của mình để thu hút tiền mặt cho việc mở rộng. Công ty gốc của Aoki, Benihana of Tokyo, nắm giữ 39 nhà hàng, và 11 nhà hàng khác đã được chuyển giao cho tập đoàn Benihana. Aoki sau đó bán 49,1% của tập đoàn Benihana ra công chúng và giữ phần còn lại ở trong công ty mẹ thuộc sở hữu của ông. (Sau này, ông còn làm cho mọi việc trở nên rắc rối hơn: Mặc dù Benihana of Tokyo không còn sở hữu nhà hàng ở Mỹ, Aoki tạo ra được một ngoại lệ về quyền điều hành nhà hàng ở Hawaii vì đó là nhà hàng Benihana sinh lợi nhiều nhất và ông ta có gắn kết về tinh thần với nó).
Mặc dù lúc đó đã tách thành 2 công ty, nhưng chúng tiếp tục hoạt động từ chung một trụ sở, và Aoki vẫn còn là chủ tịch của cả 2 để thuận tiện cho việc triển khai vô số ý tưởng luôn nảy ra trong đầu Aoki. Khi người Mỹ quen dần với sushi vào những năm 80, Benihana đã bắt đầu phục vụ món “có mùi cá” (tanh) đã tránh lúc đầu. Sau đó nhà hàng bắt đầu bán những món ăn đông lạnh, và rất phát đạt – cho tới khi Stouffer’s và Campbell’s tham gia thị trường và giành lấy thị phần của Benihana.
Aoki chối bỏ sự thụt lùi này. Benihana đang hoạt động tốt, và ông ta chính là một người đi đầu điển hình, với ngoại hình đặc trưng: lọn tóc quăn, ria mép đặc trưng, và một phụ nữ duyên dáng trên cánh tay của ông. Doanh số tiếp tục tăng, từ 69 triệu USD năm 1994 tới 100 triệu USD vào năm 1998.
Sự nghiệp của Aoki đã đạt tới đỉnh điểm nhưng ông vẫn không hề nhận ra điều đó. Sự sụp đổ luôn bắt đầu từ một sai lầm nghiêm trọng, hậu quả sẽ trở nên ngày càng nghiêm trọng qua thời gian. Năm 1999, ông bị Tòa tuyên có tội trong vụ án hối lộ sau khi ông ta bị tố cáo vì đã trả 10.000 USD lót tay cho cổ phiếu công ty Công nghệ Thông tin Spectrum. Tuy nhiên Aoki đã thoát được cảnh được tù tội, cho hưởng án treo sau khi đóng khoản phạt 500.000 USD. Thẩm phán đã thấy được sự hối cải của Aoki và vấn đề về sức khỏe của ông: Aoki đang phái đối mặt với bệnh tiểu đường và viêm gan C.
Aoki còn đối mặt với một hậu quả nghiêm trọng từ vụ án: Lệnh thu hồi toàn bộ giấy phép về rượu của ông. Để tránh việc đó, ông từ chức khỏi tất cả các vị trí ông đang nắm giữ trong cả 2 công ty. (Aoki vẫn được cho phép giữ vai trò cố vấn có lương.) Ông chuyển sự quan tâm của mình vào Benihana of Tokyo – nơi nắm giữ 50,1% cổ phần của ông ở tập đoàn Benihana – với sự ủy thác rằng công việc sẽ được quản lý bởi 3 người con và một vị luật sư cá nhân của ông.
ono f Bennihana
Nội chiến gia tộc tranh giành thương hiệu Benihana: Người mẹ kế tai ương và cuộc chiến bất tận (Phần 3)
Aoki đã từ bỏ quyền từ những đứa con tinh thần do ông sáng lập. Nhưng liệu Aoki có thể tin tưởng vào sự trung thành của những người con. Chúng sẽ không bao giờ làm ông thất vọng, có phải vậy không?
- Aoki liên tục thay đổi nội dung di chúc. Và từ đây, mâu thuẫn trong gia đình họ xuất hiện, các vụ kiện liên tục diễn ra giữa mẹ kế và các người con.
- Trước khi mất vào năm 2008, qua bản di chúc cuối cùng, ông gần như tước hết mọi quyền lợi của các con và chuyển tất cả sang cho Ono.
- Theo di chúc cuối cùng của Aoki, mọi quyền điều hành của các người con tại Benihana of Tokyo đều bị hủy bỏ và chuyển sang cho Ono. Trong thế kỷ 21, cả Tập đoàn Benihana và Benehana of Tokyo đều phát triển mạnh theo những hướng đi khác nhau. Tuy nhiên, Tập đoàn Benihana đã thuộc về một nhà đầu tư khác.
- Ono vẫn tiếp tục phát triển Benihana theo một hướng đi mà bà cho rằng phù hợp với triết lý của Aoki. Mặc dù vậy, 2 người con của ông vẫn đang âm thầm chuẩn bị cho đợt kiện mới nhằm tống người mẹ kế khỏi địa vị trong gia tộc.
Người bạn gái đáng mến đến người mẹ kế đáng ghét
Ono và Aoki biết đến nhau từ trước qua cộng đồng người Nhật ở New York. Tham vọng của Ono đã đưa bà từ một thư ký cho một chính trị gia ở Nhật trở thành một doanh nhân tại New York. Bà chuyển đến Manhattan vào năm 1988 và lập ra Altesse, một công ty chuyên xuất nhập khẩu nữ trang và lông thú. Ono đã ly dị trước đó, và vào năm 1990, bà bổ sung thêm một cổ đông cho Altesse: một chính trị gia giàu có và nổi bật bà từng giúp việc khi ở Nhật, đồng thời cũng là tình cũ, người có thể sẽ gợi lại mối quan hệ từng có.
Chuyện xảy ra thật tệ. Ono kiện người tình cũ vào năm 1994, khẳng định rằng ông ấy đã cố phá hoại Altesse và làm bà phải phụ thuộc tài chính. Theo Joseph Manson, vị luật sư một thời của Ono và hiện đang đại diện cho Benihana of Tokyo cho biết vụ kiện đã được giải quyết.
Ono làm lại từ đầu với công việc của một chuyên viên tư vấn khách hàng – bao gồm khách sạn Starwood, một số nhà sản xuất đồ lót và Benihana khi đang kinh doanh ở châu Á, vào năm 2000. Ono nói rằng: “Rocky là một người đàn ông rất lịch thiệp”. Ông ấy là tuýp người rất ghét bị từ chối, Ono thì lại có khả năng trở thành người giúp ông ấy làm được điều đó.
Mối quan hệ trong công việc kinh doanh của họ trở thành một mối quan hệ tình cảm lãng mạn. Những người con của ông ấy, hầu như đã trưởng thành, dường như có vẻ thích Ono. Kana – con gái lớn của Aoki sau này nói rằng: “Tôi rất vui vì bố đã gặp được người ông yêu”. Cô và những người anh em của mình thích Ono khi bà ta là bạn gái của bố họ, nhưng nếu là vợ thì là một chuyện khác.
Aoki đã thể rằng sẽ không bao giờ kết hôn một lần nữa, nhưng lời thề ấy đã bị phá vỡ. Đám cưới của 2 người diễn ra mà không thông báo với gia đình – ngày cưới đã được định đoạt bởi một nhà chiêm tinh học của Ono – diễn ra tại Hội trường thành phố New York vào năm 2002.
Vài tháng sau, cặp đôi mới cưới gặp 2 người con lớn của Aoki, Kana và Kevin để dùng bữa tối tại Babbo – nhà hàng Ý ở Manhattan hay được nam tài tử Leonardo DiCaprio lui tới. Ono đã rất mong chờ những món quà cưới và một lời chúc mừng. Trái với mong muốn của bà ta, sau khi ăn tráng miệng, Kana đề nghị mẹ kế kí vào một bản thoả thuận. Cô nói đó là điều bố cô muốn. Ono đáp trả lại rằng người Nhật Bản không kí vào những giấy tờ như vậy. Cuộc tranh luận trở nên nóng hơn. Mặc dù vậy, Aoki lắm lời thường ngày vẫn ngồi im lặng, giả vờ như không nghe thấy gì. Ono kể lại: “Ông ấy vẫn tiếp tục ăn. Đó là một bữa tối vô cùng kì lạ”.
Đó chỉ mới là khởi đầu của những âm mưu. Bước đi tiếp theo của những người con rất sắc sảo. Họ thuyết phục Aoki kí vào một bản sửa đổi không thể thu hồi về việc ủy quyền, thứ sẽ làm bọn họ trở thành người hưởng lợi duy nhất. Ono sẽ không được bất cứ thứ gì từ công ty sở hữu Benihana of Tokyo và phần lớn tài sản khổng lồ của Aoki.
Thỏa thuận được soạn thảo bởi luật sư của chính Aoki. Nhưng gần như lập tức Aoki bắt đầu kể lể, chối bỏ rằng ông không hề biết chút gì về những gì mình đã đồng ý. Bây giờ những tài liệu này đã bắt đầu được lan truyền. Aoki bắt đầu xem lại di chúc của ông – 4 lần khi tất cả được thực hiện. Mỗi lần sửa đổi ông lại để lại quyền điều hành nhiều hơn cho Ono.
Aoki càng ngày càng tức giận những người con của ông, nhiều người trong số họ đã làm việc cho cả 2 công ty Benihana. Sau đó, những gì diễn ra khiến Aoki nhận ra đó chính là một nhát dao chí mạng. Vào năm 2004, ban điều hành của tập đoàn Benihana, do lo sợ về quyền lực sau này của Ono, đã phát hành cổ phiếu mới, từ đó giảm cổ phần của nhà Aoki từ 50,9% xuống còn 36,5%. Rocky đổ lỗi cho con trai lớn của ông, Kevin, cho việc này, người đã liên minh và cùng lên kế hoạch với ban điều hành.
Nhà sáng lập đã mất quyền kiểm soát phần lớn cổ phần của Benihana – và ông đã suy sụp. Aoki kiện tập đoàn Benihana nhưng không thể đem người con của mình vào vụ kiện. Năm 2006, khi 3 người con của ông bán thêm cổ phiếu và làm loãng đi phần nắm giữ ủy thác của mình, Aoki không thể chịu đựng đựơc nữa. Ông kiện họ và người con thứ 4 về việc vi phạm trách nhiệm ủy thác và hy vọng có thể loại bỏ chúng khỏi quyền được ủy thác. Aoki tước quyền thừa kế cả 4 người và buộc tội họ đã hủy hoại Benihana. Thêm vào đó, ông ta hiếm khi nói chuyện với 2 người con còn lại. (Một luật sư của những người con không trả lời khi được yêu cầu nêu ý kiến).
Cuộc xung đột đã đạt tới đỉnh điểm. Aoki bị loại khỏi vị trí cố vấn cho tập đoàn Benihana và tất nhiên mất luôn phần thu nhập từ đó. Mặc cho cuộc cãi vã trong gia đình, ông đã khiêm nhường hỏi những người con, nay đã trở nên xa lạ, để được đồng ý việc ông ta rút tiền từ quỹ ủy thác ông lập ra từ công việc kinh doanh của mình. Một lần, Aoki yêu cầu 1,5 triệu USD, nhựng họ đưa ông chỉ 150,000 USD.
Trong khoảng thời gian này, Aoki cho viết một bản di chúc mới, ủy quyền tất cả tài sản của ông cho Ono, cho bà quyền phân chia tài sản cho những người con cháu của ông sau này nếu thấy thích hợp. Aoki đã tạo ra gần như một nghịch lý hoàn hảo: Tùy vào loại giấy tờ mà bạn đang nhìn vào, 2 người con đã được đảm bảo có phần trong tài sản của Aoki – hoặc Ono có thể quyết định tất cả và giữ 1/4 cho bà ta. Vậy phần di chúc nào sẽ được xem là có hiệu lực?
Từ lúc này, những câu hỏi về quyền thừa kế sẽ không còn giá trị. Aoki đã được chuẩn đoán bệnh ung thư gan vào năm 2007. Ông đang chết dần, và mọi người biết điều đó.
Aoki không chỉ bị xa lánh bởi những người trong gia đình mà còn từ những người bạn cũ. Nhiều người chỉ trích Ono đang kiểm soát các mối quan hệ của ông, và những người con của Aoki trách những việc làm của ông là do bà ta giựt dây. “Ông ta giống như một con rối”, Kana ngao ngán. Khi được hỏi về sự thống trị của bà ta, Ono trở nên đặc biệt đầy căm phẫn: “Tất nhiên là người vợ sẽ có ảnh hưởng đến nguời chồng! Người chồng ảnh hưởng người vợ! Đó là lý do vì sao tôi đám cưới. Ngay cả người bạn bạn gái cũng có thể có ảnh hưởng. Nhưng đó không phải là việc chĩa súng vào đầu – đó không phải là mối quan hệ chúng tôi có”.
Sức khỏe của Aoki đang giảm sút, khiến vụ kiện với những người con của ông bị hoãn. Mặc cho vụ kiện tụng, ông luôn mong muốn được tái lập lại hòa bình trong gia đình mình. Vào tháng 10 năm 2007, Aoki tạm thời có được mong ước của mình: 5 người con của ông và 2 người cháu tham gia cùng ông và Ono trong bữa tiệc chúc mừng sinh nhật lần 69 của ông trong một phòng riêng của một nhà hàng Ấn Độ. Trong một buổi tối họ bỏ qua một bên mọi thù hằn. Cả gia đình hát cho Aoki nghe và tặng ông những món quà và tấm thiệp mà ông hạnh phúc đọc chúng thành lời. 8 tháng sau đó, tháng 7 năm 2008, Aoki qua đời.
benihana 4
Phân ly
Cái chết của Aoki thay đổi cán cân quyền lực giữa những đứa con của ông và Ono – lợi thế nghiêng hẳn về phía bà ta.
Khi di chúc được chứng thực vào năm 2010, Ono trở thành người được ủy thác duy nhất, và bà đưa mình lên chức vụ giám đốc điều hành của Benihana of Tokyo. Sau đó, Ono đặt mục tiêu đổi mới hoạt động công ty. Bà cho tân trang lại trang chủ của công ty và mở những địa điểm mới ở nhiều nơi như New Delhi và Riyadh, Ấn Độ.
Mọi việc diễn ra không quá lâu trước khi bà đối đầu với tập đoàn Benihana. Công ty sau này đã ngày càng phát triển trong những năm đầu của thế kỉ mới – cho tới năm 2008, cũng như nhiều công ty khác, bị ảnh hưởng bởi suy thoái. Công ty ứng dụng một quy trình quản lý mới, thực hiện một chương trình làm mới giúp hồi sinh lại thương hiệu. Các nhà hàng được trang hoàng và tiêu chuẩn hóa trang thiết bị với nhiều điểm mới, như là khăn ăn viền đỏ và hệ thống chiếu sáng giúp hiện rõ trần nhà màu xanh của Benihana. Thực đơn cũng được cập nhật bao gồm những loại rượu hảo hạng hơn và các món khai vị như tàu hủ kiểu tết (cùng phương pháp làm bít tết) và gỏi Tôm Xoài khổng lồ.
Ono khinh bỉ sự liên kết hóa các phong cách ẩm thực của tập đoàn Benihana và gần như lập tức đáp trả. Không tới 1 năm trên cương vị nắm giữ ở Benihana of Tokyo, bà kiện tập đoàn Benihana vì xâm phạm bản quyền thương hiệu, và vụ kiện 2 bên về việc mua bán không công bằng và hạ uy tín. Trong khi việc này đang diễn ra, Angelo Gordon mua lại tập đoàn Benihana với giá 296 triệu USD vào tháng 12 năm 2012.
Sau khi mua được tập đoàn Benihana, Ono nói rằng, Angelo Gordon tiếp cận bà đề cập về việc muốn mua lại công ty Benihana of Tokyo và sáp nhập cả 2 công ty như kế hoạch mở rộng của họ. Ono không hề hứng thú. Bà chỉ trích tập đoàn Benihana hiện thời vì những lời phàn nàn của khách hàng, bao gồm cả những lời chửi bới trên trang chủ công ty và những mưu đồ không gì ngoài việc làm nhằm ép bà bán Benihana of Tokyo. Bà đưa vào hồ sơ kiện tụng của mình quan điểm trên vào tháng 12.
Trong suốt năm tháng kiện tụng trong gia đình, một giải pháp có vẻ như khó xảy ra. Một phán quyết có thể giúp 2 người con của Aoki, Steve và Devon, nhận quyền lợi đúng đắn về ủy thác của họ. Nhưng cho dù họ chiếm ưu thế trong vụ án, Ono vẫn sẽ là người được ủy thác – và vẫn nắm quyền Benihana of Tokyo – tới khi nào Devon 45 tuổi, có nghĩa là 13 năm nữa.
Một chiến dịch khác của Steve và Devon có thể sẽ được khởi động, theo lời luật sư của Ono – Manson. Cả hai đang xem xét một vụ kiện nhằm tước quyền ủy thác của Ono, Manson nói. Họ sẽ tranh luận rằng bà ta đã phí phạm tiền bạc cho những cô gái Beni vòng quanh thế giới và trong vụ kiện tụng, không hoàn thành nghĩa vụ ủy thác của bà ta. Nếu họ thành công, Ono sẽ mất vị trí giám đốc điều hành của mình.
Ono tỏ ra không lúng túng. Bà thích nói về những chủ đề vui vẻ, và dừng cuộc phỏng vấn để cho tôi xem một đoạn ghi hình của những cô gái Beni nhảy múa tại rạp xiếc Piccadilly ở London. Sau đó bà mời tôi tới một nhà hàng mì ở Manhattan mà bà vừa lập, tên là KOA. Buổi chiều khi tôi đến thăm, Ono đang kiểm tra thực đơn của nhà hàng vào ngày Valentine. Bà kiểm tra một cách chính xác và kỹ lưỡng từng chi tiết nhỏ. Ono nhận thấy món ruột lợn cuốn măng tây được nêm thiếu gia vị và đem món bánh sôcôla – sáng chế của bà ta – trở lại nhà bếp tới 2 lần, lần đầu tiên thất vọng vì cách trình bày, lần thứ 2 là vì sốt mâm xôi được trang trí quá màu mè.
Mặc dù luôn lạc quan với mọi vấn đề, Ono đôi khi cảm thấy nhớ nhung những ngày tháng cũ. Mỗi khi như thế bà thường hay lang thang tới những lãnh thổ của các đối thủ cạnh tranh và ăn ở nhà hàng Benihana gốc trên phố 56 ở Manhattan. Chỉ có vài lần những đầu bếp lâu năm nhận ra Ono, tuy nhiên bà không hề bị làm phiền. Cuộc hành trình cho phép bà có thể thừa hưởng được ý chí của Rocky, Ono cho biết.
Ngoài ra, còn có những lợi ích khác nữa. Ono trưng ra một cái khăn ăn vấy bẩn bà ta thu được từ lần đến thăm gần nhất các nhà hàng đối thủ. Nó chứa một logo mà bà ta bảo rằng xâm phạm đến bản quyền của công ty Benihana of Tokyo. “Luật sự của tôi sẽ thích việc này”, Ono đắc chí.

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2015

Chuyện Dài Số Liệu Việt Nam

Những con số luôn biết tố… tác giả
Tác giả: Phan Châu Thành – DL – 21 May 2015
Trong những thông tin, bài báo, tài liệu, văn kiện, hồ sơ… về kinh tế, chính trị, cả văn hóa xã hội, các tác giả luôn cố gắng đưa ra các con số để minh họa, chứng minh hay củng cố cho lập luận, quan điển, đánh giá hay sự mô tả (liệu có) khách quan các sự kiện, hiện tượng của mình. Và người đọc lại càng cố gắng tìm đọc những con số đó để hình dung, so sánh, kiểm chứng và xây dựng quan điểm của mình, về những vấn đề đó.
Những con số xuất hiện trong truyền thông hiện đại có vai trò đặc biệt và quan trọng như vậy, bởi vì khác với từ ngữ, những con số luôn tuân theo các qui luật khác của số học và đại số (là cộng, trừ, nhân, chia, cả lũy thừa/căn và các hàm… nữa!). Và đặc biệt, những con số còn phải tuân theo các mối quan hệ và qui luật nhân quả trong các lĩnh vực mà nó được dùng để mô tả và đo lường như kinh tế, khoa học kỹ thuật, xã hội nhân văn…, nữa!
Vì thế việc dùng những con số trong xã hội thông tin hiện đại vừa có tác dụng thuyết phục người nghe, người đọc, tác giả vừa có nguy cơ bị lộ những cái sai và/hay yếu kém, nhất là sự gian dối…, nếu người đọc, người nghe có thể kiểm chứng chúng từ góc độ chuyên môn (các quan hệ nhân quả) hay đơn giản từ tương quan số học, xác suất… Trong những trường hợp sau đó, những con số sẽ tố cáo…chính các tác giả.
Nếu xem xét kỹ xã hội này với nền kinh tế đang lâm nguy, và các con số kinh tế vĩ mô được các nhà kinh tế, từ quan chức cao nhất là tưởng thú, đến các bộ trưởng và các chuyên gia “kinh thế” đưa ra, chúng ta sẽ có một bức tranh kinh tế xã hội VN vô cùng quái đản, với các hiện tượng như toàn những số âm (tăng trưởng của từng ngành kinh tế trong quí 1/2015) cộng lại thành con số dương cao vọt (tăng trưởng GDP quốc gia quí 1/2015 trên 6,0%!)…
Vì thế mà các chuyên gia kinh tế có chút kinh nghiệm đều không tin vào các con số kinh tế vĩ mô của VN như GDP, tổng tài sản, dự trữ ngoại hối, vay nợ quốc gia, tổng nợ công, tổng nợ xấu, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, tổng cung tiền vnđ (in tiền) hàng năm, tổng cung tiền vnđ trên thị trường….
Thế cho nên, điều tôi nói trên: “Những con số luôn biết tố…tác giả” lại càng rõ ràng và bi hài trong tình hình kinh tế xã hội hôm nay.
…….
Cách đây khoảng 3 tháng, Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) công bố Tổng tài sản của hệ thống các Ngân hàng Thương mại (NHTM) VN (khoảng trên 40 NHTM) vào đầu năm 2015,(đã được NHNN), là trên 6 triệu tỷ vnđ (!), và tổng vốn điều lệ toàn hệ thống NHTM là 434.930 tỷ vnđ (bằng 1/12 TTS)… Thông điệp mà chính phủ muốn gửi đi cho dân qua con số Tổng Tài Sản (TTS) 6 triệu tỷ vnđ đó là: Hệ thống NHTM VN đang rất an toàn, đang có rất nhiều tài sản đảm bảo, và NHNN có thể bơm thêm nhiều tiền nữa cho chúng hoạt động, mà không hề có nguy cơ phá sản ngân hàng nào hay vỡ trận cả hệ thống được!
Dân thì tin “ngay”, như tin đảng 70 năm nay (tức “mày nói mày nghe”), nhưng các chuyên gia kinh tế thì còn đang ngơ ngác không biết 6 triệu tỷ vnđ là bao nhiêu tiền nhỉ, và chúng là gì nhỉ – bao nhiêu nhà đất và xe cộ và cổ phiếu và ngoại tệ? Chẳng ai có thể tiếp cận các con số chi tiết cấu thành nên 6 triệu tỷ vnđ đó của NHNN cả?…
Thì đây, 6 triệu tỷ vnđ là khoảng gần 300 tỷ USD tức khoảng trên 170% GDP cao nhất của Việt Nam năm 2014 (là khoảng 176 tỷ USD). 300 tỷ đôla đó, nếu lành mạnh như NHNN nói, thì các NHTM có thể đem thế chấp để vay tiền lập nên…3 cái ngân hàng ADB (Asian Development Bank) khác đó, hay lập một Ngân Hàng Thế giới WB mới (World Bank) – VN cần gì đến bọn ADB và WB kia nữa nhỉ?!
Nếu đây là tỷ lệ bình thường và logic trong kinh tế vĩ các quốc gia thì TTS các NHTM của Tàu sẽ là khoảng 17,000 tỷ USD! Sao Tàu còn phải kêu gọi thêm đến 57 quốc gia nữa để lập ra ngân hàng Đầu tư hạ tầng Châu Á -AIIB với số vốn ban đầu chỉ 50 tỷ USD và sau mới sẽ tăng thành 100 tỷ USD, nhỉ? Các NHTM Tàu chỉ cần giảm 5,8% TTS của mình là có thể có ngay…10 ngân hàng AIIB mới hay 10 ngân hàng ADB (vốn cũng là 100 tỷ USD) nữa, hay hơn 3 Ngân hàng Thế giới WB (có vốn chỉ 300 tỷ USD) nữa!
Nhưng vừa “vo ve” tuyên bố các NHTM mình đang quản “giàu sụ thế”- trung bình mỗi NH có TTS gần chục tỷ đôla, mà chỉ hai tháng sau NHNN đã “mua ép” luôn hai trong số đó là ngân hàng Xây dựng (VNCB) và Đại dương (Oceanbank) với giá 0 vnđ (zero vnđ)! Vậy thì chục tỷ đô thành 0 vnđ – TTS của chúng đã đi đâu?! Và “ruồi” còn vo ve thêm: hiện còn 06 NHTM trong diện nguy cơ như hai NH trên…
Đó là sự tự tố cáo trực tiếp các tác giả của con số TTS các NHTM là 6 triệu tỷ vnđ…
Theo tôi, con số trên đã được NHNN và hệ thống NHTM “thổi lên” khoảng…gấp 5 lần, cho nhu cầu hút tiền của dân và hút tiền mà chính phủ in ra – vẫn là dân mất…, để khép kín vòng tiền theo “qui luật…vô giá trị tiền tệ”! Sao các chuyên gia kinh tế tài chính vĩ mô của VN đâu, không phân tích con số 6 triệu tỷ này cho dân mở mắt nhỉ?!
Gần đây, tháng 5/2015, chính phủ lại công bố giá trị Tổng Tài Sản Nhà nước (TTS Nhà Nước VN) , tính đến 31/12/2014 là tròm trèm 1 triệu tỷ vnđ (chính xác là 999,372.08 tỷ vnđ), trong đó quyền sử dụng đất (gần 4,000 triệu m2) là 693,000 tỷ vnđ; nhà (khoảng 150 triệu m2) là 241,000 tỷ vnđ; xe oto là 21,000 tỷ vnđ (khoảng trên 20,000 chiếc); và tài sản khác là 45,000 tỷ vnđ; Tóm lại TTS của Nhà nước công bố là vỏn vẹn có gần 50 tỷ USD, tức là con thua xa TTS của Bill Gates hay Warren Buffett…
Con số 1 triệu tỷ vnđ TTS Nhà nước VN này làm tôi… thót tim! Sao ít vậy? Sao nó lại chỉ có thể đáng “làm con” chứ không phải “làm cha” TTS các NHTM như lẽ ra phải thế?!
Chả lẽ cả cái chính quyền trung ương của CSVN với hệ thống chính quyền địa phương đang ôm tất cả các tài sản lớn nhất của Quốc gia ở (trung tâm) tất cả các thành phố, tỉnh thành, địa phương VN đến từng quận huyện, thôn xã hôm nay lại có TTS thua xa TTS của các NHTM? (chính xác là 1/6?)! Nên nhớ là tổng dự toán ngân sách nhà nước (số tiền cần chi tiêu hàng năm) cho năm 2015 cũng đã khoảng 1 triệu tỷ vnđ! Có nghĩa là, trong vòng 1 năm nhà nước CSVN này sẽ tiêu hết TTS của nó – tức tất cả những gì nó đang có!?
Và tại sao nó – con số TTS Quốc gia đó lại không bị 3X-BR hay cả “hệ thống cầm tiền” đó thổi lên như với 6 triệu tỷ vnđ TTS các NHTM?!
Vì trên 63% TTS Quốc gia nằm trong tay các đơn vị hành chính sự nghiệp (không có nguồn thu. chỉ tiêu phá) là các sở ban ngành, đoàn thể của đảng… nên ta hãy xem chúng sử dụng tài sản quốc gia thế nào, để có thể hình dung ra toàn bộ bức tranh TTS Quốc gia VN hôm nay.
Ví dụ, sở văn hóa của một tỉnh, hoạt động chỉ dựa vào ngân sách nhà nước giao (trả lương cán bộ và mọi chi phí cho các hoạt động cũng do nhà nước giao), và sử dụng tài sản nhà nước giao là, ví dụ: 5,000m2 nhà và 20,000 m2 đất với giá trị sử dụng được ấn định rất thấp là 10,000 vnđ/m2nhà/năm nhà và 500 vnđ/m2đất/năm. Các đơn giá vô cùng nhỏ và vô lý này là do hệ thống kế toán cũ từ xưa để để lại và chúng cố tình “áp dụng theo qui định” tiếp để hưởng lợi “chi phí thấp”.
Thực tế, sở này chỉ sử dụng 500m2 nhà và 2,000 m2 đất, còn lại họ cho các đơn vị kinh tế thuê với giá thị trường gấp hàng chục hay hàng trăm lần gía trị sử dụng họ phải hạch toán với nhà nước. Chênh lệch khủng từ các hợp đồng cho thuê tài sản nhà nước này của các “đơn vị sự nghiệp” thường chỉ có ban giám độc ăn chia với nhau và nộp tô lên cấp trên, nhân viên cán bộ chỉ có lương và thu nhập từ các hệ thống “tham nhũng hành dân” khác của đơn vị đó…
Việc định giá rất thấp tài sản nhà nước không chỉ giúp các đơn vị “nhà nước” có thêm thu nhậm khủng từ đó, mà còn giúp các quan tham có thể “phân chia cho nhau, cấp cho nhau, mua lại, thanh lý”… các tài sản nhà nước mình đang quản đó với giá vô cùng bèo bọt… Vì thế, hàng năm, chính quyền đều rất tích cực thanh lý khoảng 10-15% tài sản quốc gia là nhà đất cho các quan tham về hưu hay sắp hưu.
Đây là quá trình đổi màu tài sản quốc gia trên diện rộng (từ sở hữu nhà nước sang tư nhân) diễn ra công khai và rất phổ biến trong mọi khu vực, cả “hành chính sự nghiệp” tức nơi mà chính phủ chỉ tiêp pha không làm ra tiền cho dân nhưng làm ra rất nhiêu tiền cho các cá nhân lần “các đơn vị có thu”… Ví dụ, cựu thốc đống Lê Đức Thúy về hưu được “thanh lý” căn biệt thự ở trung tâm Hà Nội giá vài trăm triệu vnđ trong khi giá thị trường là trên 2,000 lượng vàng tức hàng trăm tỷ vnđ.
Cái lợi thứ ba (đầu tiên) của việc cố tình định giá thấp tài sản quốc gia trong tay mình quản lý là để quan chức luôn mồm kêu ca là họ không có tiền và luôn tranh nhau “xin” thêm tiền ngân sách để chi tiêu, dù không được cũng luôn phải xin thêm tiền và nhà, đất…Trên sổ sách, họ luôn chứng mình mình rất liêm khiết, rất nghèo, thiếu tiền…
Thế cho nên, vì các lý do trên và không chỉ thế, TTS Quốc gia VN hiện nay đã bị định giá quá thấp một cách có hệ thống, không đúng theo giá trị thật hay theo qui luật thịu trường, hoàn toàn có lợi cho quan chức cướp phá, rút ruột chia nhau. Nếu họ có lỡ phải tự phát hiện ra nhau “làm sai qui định” thì chỉ cần bồi hoàn lại vài trăm triệu (vì “quên trả” hay “không thấy ai đòi”) là vẫn có thể giữ lại biệt thự trăm tỷ cho con cháu…
Theo ước định của cá nhân tôi, TTS Quốc gia VN hiện nay đang bị CSVN hạ thấp giá trị khoảng 10 lần, tức đúng ra phải là khoảng 10 triệu tỷ vnđ.
(GNA: Bài viết rất chi tiết của tác giả PCT đã được thâu ngắn và tóm lược để tránh né mọi vấn đề cá nhân và nhậy cảm. Xin cáo lỗi cùng tác giả trước. Các bạn BCA cần nguyên gốc xin dò tìm trên google)

Kiều Hối Và Việc In Tiền tại VN

Kiều Hối
Tác Giả: Nguyễn Vũ Bình – RFA – 8 May 2015
Kiều hối theo định nghĩa là số tiền của người dân một quốc gia đi làm ăn bên ngoài biên giới mang, gửi về đất nước mình. Đối với Việt Nam, đây là một số lượng tiền, ngoại tệ khá lớn, hàng năm trên dưới 10 tỷ đô-la. Theo số liệu thống kê năm 2014, lượng kiều hối về Việt Nam đạt mức 12 tỷ đô-la. Việc xác định ý nghĩa của kiều hối và những vấn đề liên quan cũng giúp hiểu thêm về nên kinh tế Việt nam hiện nay.
Với một lượng tiền trên dưới 10 tỷ đô-la một năm chuyển vào nền kinh tế, mà không cần một yêu cầu, điều kiện nào được các chuyên gia đánh giá rất cao vai trò của lượng kiều hối này. Nhà nước Việt Nam, nhận thức được tầm quan trọng của kiều hối nên đã có một chính sách kiều hối vô cùng thông thoáng và cầu thị. Số lượng không hạn chế với người gửi, mang ngoại tệ về nước. Không yêu cầu chuyển đổi ngoại tệ khi nhận tiền…Về cơ cấu kiều hối được sử dụng, theo phân tích chung nhất, trên 60% số tiền kiều hối được sử dụng vào đầu tư, mua nhà đất, gửi tiết kiệm, mở công ty. Số còn lại, gần 40% giành cho tích lũy và tiêu dùng.
Vai trò của kiều hối trong trường hợp nền kinh tế Việt nam rất đặc biệt và vô cùng quan trọng. Nền kinh tế Việt Nam, tuy bên ngoài và tuyên truyền là nền kinh tế thị trường nhưng thực chất không phải như vậy. Nó không đi theo nguyên lý của nền kinh tế thị trường, đó là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Ở Việt nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân chính là yếu tố quan trọng để nói, nền kinh tế Việt Nam không theo nguyên lý kinh tế thị trường. Cơ chế thị trường quyết định các yếu tố của quá trình sản xuất cũng không được áp dụng ở Việt Nam. Những mặt hàng thiết yếu như điện, nước, xăng dầu đều do nhà nước quy định về giá cả. Điều quan trọng nhất liên quan tới vấn đề kiều hối, đó là việc nhà nước Việt Nam quyết định việc in tiền hoàn toàn không theo nguyên tắc nào của nền kinh tế thị trường.
Đối với các quốc gia đi theo nền kinh tế thị trường, việc in và phát hành tiền phải tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt về lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế. Có hai yếu tố liên quan hữu cơ với số lượng tiền phát hành đưa vào lưu thông. Đó là lượng hàng hóa sản xuất ra và số lượng ngoại tệ đang lưu hành.
Ví dụ, nền kinh tế Việt Nam một năm sản xuất được 100 đơn vị hàng hóa, hiện có 50 đơn vị ngoại tệ, thì số tiền phát hành đưa vào lưu thông là 500 đơn vị. Như vậy, tỷ lệ (100 hàng hóa – 50 ngoại tệ – 500 nội tệ) sẽ là tỷ lệ để phát hành tiền đưa vào lưu thông. Đây là nguyên tắc bắt buộc, là kỷ luật sắt trong một nền kinh tế thị trường vì nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ xảy ra tình trạng lạm phát, hoặc biến động về tỷ giá dẫn tới méo mó trong toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, và có thể dẫn tới những đảo lộn lớn cho toàn bộ nền kinh tế. Chính vì vậy mà các nước giám sát và kiểm soát vấn đề này cực kỳ chặt chẽ.
Nhưng tại Việt Nam, có thể nói, từ ngày khai sinh ra nhà nước cộng sản Việt Nam, việc in và phát hành tiền là bí mật quốc gia. Nếu như việc in, phát hành tiền tuân thủ các nguyên tắc thì không ai cần giữ bí mật cả. Trên thực tế, việc in tiền ở Việt Nam hoàn toàn tùy tiện, in liên tục và không có một giới hạn nào cả. Chúng ta đều biết, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam trung bình từ 20-50% và kéo dài hàng mấy chục năm, có những giai đoạn còn lạm phát phi mã. Trong khi ở các nước, lạm phát trung bình và lành mạnh khoảng từ 5-7%/năm.
Nếu như trước đổi mới, hoặc trước hội nhập quy mô của nền kinh tế còn khiêm tốn và ảnh hưởng của lạm phát (tức là việc in tiền vô tội vạ) còn chưa rõ và sức tàn phá còn chưa lớn. Nhưng khi đã hội nhập, quy mô nền kinh tế đã lớn, nhất là mối quan hệ làm ăn, đối tác với các nền kinh tế trên thế giới thì lạm phát sẽ là nỗi kinh hoàng của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu tìm hiểu kỹ, chúng ta thấy, việc in tiền và phát hành tiền của nhà nước Việt Nam vẫn được thực hiện như cũ, có nghĩa là phát hành theo yêu cầu chính trị, khi cần sẽ in tiền ra.
Điều kỳ lạ là với một nền kinh tế khủng hoảng từ năm 2008, nền sản xuất bị bóp nghẹt bởi muôn vàn quy định và hàng hóa giá rẻ từ Trung Quốc, mỗi năm có hàng chục ngàn doanh nghiệp phá sản vậy mà lượng tiền in ra và phát hành với số lượng cực lớn mà Việt Nam không bị siêu lạm phát, mặc dù tỷ lệ lạm phát đã rất cao. Đồng thời tỷ giá hối đoái cũng không hề tăng đột biến.
Câu trả lời cho việc nền kinh tế không bị siêu lạm phát, trong khi lượng hàng hóa sản xuất ở Việt Nam hoàn toàn không tương xứng với lượng tiền in ra là Việt Nam ở sát cạnh Trung Quốc, hàng năm nhập khẩu số lượng cực lớn hàng giá rẻ, chất lượng thấp, theo cả đường chính ngạch và tiểu ngạch. Theo số liệu công bố năm 2014 vừa qua, thì Việt nam công bố nhập của Trung Quốc 43,9 tỷ đô-la. Nhưng phía Trung Quốc lại công bố con số xuất khẩu sang Việt nam là 63,8 tỷ đô-la.
Như vậy, lượng hàng hóa nhập khẩu cực lớn, giá rẻ chất lượng thấp đã tiêu diệt nền kinh tế Việt Nam nhưng lại giúp nhà cầm quyền Việt Nam in tiền vô tội vạ mà không bị siêu lạm phát. Điều này cũng phản ánh sự lệ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế Trung Quốc là rất lớn. Nhưng sự lệ thuộc này còn ít người nói tới.
Về câu hỏi, lượng tiền in ra và phát hành rất lớn của nhà nước Việt Nam nhưng lại không có đột biến trong tỷ giá hối đoái chúng ta tìm thấy câu trả lời trong vấn đề kiều hối, cùng với lượng ngoại tệ từ đầu tư nước ngoài FDI, từ viện trợ phát triển ODA. Đó chính là ý nghĩa lớn nhất của kiều hối đối với nền kinh tế Việt Nam. Một lượng tiền trên dưới 10 tỷ đô-la trong những năm gần đây giúp nhà nước Việt Nam in ra một số lượng tương đương lớn hơn để sử dụng và đưa vào lưu thông.
Có những ý kiến cho rằng, cần kêu gọi ngăn nguồn kiều hối, đồng bào không gửi tiền về Việt Nam nữa. Tôi cho rằng việc này không thực hiện được và có lẽ không cần thiết. Chúng ta biết rằng, nhà nước Việt Nam hiện nay, toàn quyền khai thác khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên để bán, in tiền vô tội vạ, thu thuế, phí cao nhất Đông Nam Á…tức là không còn lợi thế gì người ta không khai thác, không tận dụng vậy mà với mức chi tiêu hiện nay, tham nhũng, lãng phí đến mức độ số nợ đang gấp đôi GDP hoàn toàn không có khả năng thanh toán, trong khi nền kinh tế làm ra không đủ chi tiêu trong hiện tại. Chính vì vậy chúng ta không cần phải kêu gọi, vận động một việc rất nhỏ (và khó thực hiện được) so với tình trạng đại suy thoái và khủng hoảng của Việt Nam hiện nay./.
Hà nội, ngày 08/5/2015 – Nguyễn Vũ Bình