Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Rồi như đá ngây ngô

Tác Giả: Tuấn Khanh – Blog – 24 June 2015
Báo chí Việt Nam đang rộ lên chuyện một bộ phim truyền hình của Ấn Độ kéo dài đến gần 2000 tập. Các ý kiến được dẫn lời về bộ phim, cái thì khen tài làm phim dài hơi, cái thì chê bai mọi chuyện cứ kéo lê thê một cách không cần thiết và buồn chán.
Khán giả hôm nay thật khó mà chìu chuộng được. Báo chí cũng khó mà chìu lòng được. Thật khác với trước kia, khi truyền hình vẫn lê thê và chán chường với các buổi chiếu Đơn giản tôi là Maria, Người giàu cũng khóc… dù không thích nhưng nhiều gia đình vẫn tụ họp nhau trước màn ảnh để xem – như một trong những món giải trí quan trọng nhất trong ngày. Và những ngày ấy, dù phim nhạt hơn nước ốc, cũng có không ít những bài viết ca ngợi nền điện ảnh Mỹ Latin, ca ngợi những tập phim tố cáo chế độ tư bản ung nhọt và thối nát… Đời sống chợ đêm hay Khi người ta yêu cũng chỉ là các cuộc trò chuyện lãng đãng, rồi kéo dài như vô tận, cũng có thời từng được nhiều báo khen ngợi.
Một bộ phim nhiều tập, tự nó đâu có lỗi lầm gì, phải không?. Nhân loại đã chứng kiến không ít các bộ phim dài tập đến giật mình, diễn viên già nua theo năm tháng vẫn phải bám theo diễn xuất. Mô-típ kịch bản thế nào rồi cũng đoán được. Phim giải trí vẫn được làm thêm tập theo nguyên tắc “còn người xem còn chiếu”. The Friends với David Schwimmer, Jennifer Aniston… được kéo đến 10 năm, các diễn viên phải năn nỉ xin thôi vì không còn sức để diễn những vai độc thân hài hước và trẻ trung nữa. Vậy mà khi phim ngừng, không ít khán giả đã khóc than, tiếc nuối.
Có vài lý do suy đoán về chuyện báo chí đột ngột lên tiếng chê bai phim dài tập: gắng nói vì không còn gì để nói, hoặc vì khán giả ai nấy hôm nay không còn đủ kiên nhẫn như xưa nữa. Cuộc sống rầm rập những đổi thay bên ngoài bất tận như giá xăng, giá dầu, giá điện, giá thực phẩm… khiến người ta không còn an nhiên nữa để ngồi thưởng thức những câu chuyện dài không hồi kết.
Có lẽ mất kiên nhẫn trước cuộc sống đang sôi sùng sục, là một lý do quan trọng. Giới trẻ mất kiên nhẫn trước thể kỷ hiện đại, nên chọn cho mình một lối thưởng thức âm nhạc hiện đại dồn dập, thôi thúc. Các nhà điện ảnh cũng không còn kiên nhẫn trước các kịch bản dàn trãi, mà vào phim phải lập tức bắn, giết và nude. Các nhân vật nổi tiếng thì tranh nhau nói những điều rỗng tuếch và ngu ngốc để được báo chí đưa tin, chỉ vì sợ thua một bước chân của chúng bạn trên đường đua vô nghĩa.
Con người Việt Nam đang mất kiên nhẫn với điện ảnh, với thảm họa âm nhạc, với văn chương trộm cắp lẫn nhau… âu thì cũng là một niềm vui. Cũng đến lúc mà sự mất kiên nhẫn cho thấy mặt tích cực của nó: thôi thúc sự đổi thay và nhận diện đúng mọi thứ chung quanh mình. Con người không còn thụ động ngó nhìn và im lặng, như đá ngây ngô.
Nhưng mong rằng sự mất kiên nhẫn đó của người Việt sẽ lớn hơn, đi xa hơn trong một cuộc sống đang cần thật nhiều lửa trong trái tim mình, cần nhiều tiếng đập cửa để nghe tiếng vọng lại, để phá vỡ không gian phong bế vô hình, không chỉ là chuyện phim ảnh tầm ruồng.
Cũng đã đến lúc người Việt cần nhận ra rằng, chính cuộc sống thực tế hôm nay, không khác gì những cuốn phim dài tập không kết cục đến đáng giận. Người Việt cũng cần tắt bỏ những hình ảnh chớp lóa thôi miên trước mặt, dụi mắt và đòi chấm dứt trong một cái kết có hậu tức thì. Lúc này, người Việt rất cần mất kiên nhẫn để đứng dậy, rời khỏi gánh hát xã hội chính trị vô tận ngu xuẩn vẫn thấy.
Sự mất kiên nhẫn đó, đã được thể hiện bằng lời mỉa mai nhức nhối về chuyện xã hội Việt Nam. Như ông Nguyễn Xuân Hồng, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (Bộ NN&PTNT), luôn miệng cười tươi và kiên cường khuyên nhủ dân chúng ăn thực phẩm có chất độc nhập từ Trung Quốc. Sự mất kiên nhẫn đó là cách dân chúng liên tục chỉ ra nạn bạo hành, lạm dụng quyền lực và coi thường công dân trong giới cảnh sát giao thông, công an đang ngày càng dâng cao, thông qua các bài viết và video. Sự mất kiên nhẫn đó là câu hỏi được nhắc từng ngày về sự công chính cần thiết trong vụ án Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng… về những tượng đài vụn vỡ vì bị ăn bớt, về những đền đài, dinh thự xây âm thầm, về đại lộ, cầu cống ngàn tỉ sụp đổ vì nạn tham nhũng, do các quan chức coi thường nhân dân mình.
Đừng nói với tôi là bạn không thấy xã hội và thông tin ở Việt Nam đang ngày càng mất kiên nhẫn nhé?
Sự mất kiên nhẫn đó cũng đang được nhìn thấy ở vỉa hè, ở facebook, lan rộng ở các câu bình luận trong các trang báo điện tử… người ta đang nói với nhau về những bộ phim không có hồi kết, những bộ phim đời thật sự nhức nhối cần phải nói, hơn là những tập phim truyền hình duy giải trí.
Tôi vẫn nghĩ có thể vào lúc nào đó, xã hội Việt Nam sẽ còn mất kiên nhẫn hơn và quyết liệt hơn nữa khi đưa ra những câu hỏi, cần phải được trả lời cho chuyện tàu cá Trung Quốc ngày đêm liên tục đâm tàu Việt Nam – ngay trong biển Việt Nam, mà quốc hội thì ngủ gật, về sớm và lặng im. Cuốn phim kéo dài và vô lương về chuyện khai thác bauxite cho Trung Quốc càng làm càng lỗ, sau ba năm lỗ đến gần 38 triệu USD, vì sao cứ phải lầm lũi kéo dài? Ôi những cuốn phim đau thương đó trong đất nước này, đang chồng chất, đợi trình chiếu với kết cục đau thương.
Kiên nhẫn là điều cần thiết, nhưng luôn nằm trong vùng ước lệ, qua việc nhìn thấy thực tế hiển hiện. Mất kiên nhẫn là điều thường được coi là không tốt. Nhưng mất kiên nhẫn khi phải chứng kiến các bộ phim đời vô đạo và khó hiểu kéo dài lại là điều cần thiết.
Kiên nhẫn tột bật có thể là thánh nhân. Nhưng kiên nhẫn trước những điều ngụy lý bại thường quanh mình, có thể biến mình thành vô tri như đá cuội – biến mình thành như đá ngây ngô, phải không, người bạn đang đọc tôi?
Tuấn Khanh

Ngu dốt luôn đi đôi với bảo thủ

Tác giả: Viết từ Saigon – RFA – 23 June 2015
Năm ngoái, chuyện này cũng đã rùm beng, thậm chí được báo chí trong nước đẩy lên thành sự kiện chính trị, nhiều tờ báo loan tin, đại khái: “ngành an ninh đã bắt được một số lượng lớn nón cối, quần áo, giày dép nhà binh Mỹ. Có thể đây là nguồn hàng có liên quan đến những nhân vật ‘anh hùng rừng lá thấp’ đã âm thầm hoạt động chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Và bản tin kiểu đó xuất hiện khá nhiều. Sau đó bặt đi gần một năm, mãi đến khi chuyện hợp đồng may quân phục Mỹ của một doanh nghiệp Việt Nam bị hủy, doanh nghiệp Việt Nam mất đứt hợp đồng trị giá hai tỉ USD, chuyện mới vỡ xòa.

Mà buồn cười nhất là vấn đề cái dốt, sự ngu muội luôn đi đôi với tính bảo thủ thành một chân lý. Cái chân lý buồn cười này không phải quốc gia nào cũng vinh hạnh có được giống như Việt Nam. Cũng xin nói thêm, vụ tịch thu hàng mẫu trong hợp đồng quân phục Mỹ này do an ninh một sân bay quốc tế Việt Nam lập công. Cũng giống như bao cảng hàng không quốc tế tại Việt Nam, đâu đâu cũng có thể bắt gặp hệ thống an ninh sân bay rất gắt gao, soi từng cọng lông nhưng hành lý của khách mất vẫn cứ mất, Việt Kiều thì mất càng bạo tay hơn.
Đó chỉ là chuyện mất vặt, nhưng mất hợp đồng hai tỉ đô la Mỹ thì chuyện chẳng phải đùa nữa. thế nhưng mất hợp đồng thì doanh nghiệp tự chịu lấy, chẳng có ông an ninh nào, bà hải quan nào đứng ra chịu trách nhiệm hay xin lỗi “khổ chủ”. Và trong trường hợp này, cũng khó mà kiện được bởi bị đơn là một hệ thống đang được nhà cầm quyền trung ương ưu ái nhất – hệ thống công an.
Không phải đơn giản muốn cấm thì cấm, muốn thu thì ngang nhiên tịch thu hay muốn khoắn thì tha hồ khoắn mà đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến danh dự nghề nghiệp, danh dự quốc gia. Một khi phạm tội, sai phạm nhiều lần mà hệ thống này vẫn cứ hoạt động nhịp nhàng, vẫn cứ khoắn của hành khách đều đều và gây tổn thất hợp đồng hai tỉ USD cứ như chuyện đùa thì chắc chắn bên trên hệ thống đó phải có cái dù to lớn đến mức che cả mặt trời, che cả công lý và che cả lòng dân rồi.
Thiết nghĩ cũng không cần bàn thêm về cái dù mà thử đặt câu hỏi tại sao có những cái dù hết sức kì cục như vậy, vừa bao che cho cái xấu, đỡ đầu cho tội ác lại vừa gián tiếp bán rẻ danh dự quốc gia, bôi tro trét trấu lên gương mặt dân tộc?
Vì gì? Câu trả lời không thể xoay vào đâu được ngoài cái vì độc tài, độc đoán và bảo thủ. Vì độc tài, người ta tôn vinh tính độc đoán và để đảm bảo độc đoán, người ta hành xử bảo thủ. Bởi vì chỉ có bảo thủ mới đảm bảo được những yêu cầu của độc đoán và độc tài. Và để đảm bảo sự bảo thủ của mình được thông suốt, không bị lực cản, người ta buộc phải dùng đến hệ thống khát máu, gian xảo, bất chấp thủ đoạn. Hiện tại, để có hệ thống theo chiều dọc nhằm đảm bảo tính bảo thủ của chế độ cầm quyền để bảo vệ nền độc tài, người ta đã sử dụng lực lượng mang tính chất vừa nêu.
Và an ninh sân bay là một trong những nhóm tay chân, bộ hạ nhằm bảo vệ nền độc tài. Đặc biệt, an ninh sân bay có công việc tương đối phức tạp, vừa liên quan đến nghiệp vụ an ninh thuần túy lại vừa liên quan đến chức năng bảo vệ đảng, bảo vệ nền độc tài. Chính vì kiểu làm việc kiêm nhiệm, đôi khi phải chịu khổ nhục về thể diện trước con mắt quốc tế như vậy mà an ninh sân bay được ưu ái nhiều thứ. Trong đó có ưu ái để ăn cắp vặt, ưu ái để phá hoại.
Sự việc an ninh sân bay phá hoại hay ăn cắp không còn xa lạ gì trong con mắt hành khách quốc tế cũng như hành khách trong nước. Nó vẫn diễn ra ngày càng mạnh bạo hơn và ngang nhiên không coi ai ra gì. Bởi vì nó được bảo kê bởi một hệ thống quyền lực bên trên. Nhưng vì sao người ta lại chọn phương thức tồn tại nhục nhã như thế? Bởi suy cho cùng, bất kỳ phương tiện nào đi đến mục đích có tính chất gian manh đều cho thấy mục đích chẳng tốt đẹp của nó.
Trong trường hợp này, lực lượng công an cùng với hệ thống hành vi hết sức vô văn hóa, gian manh và giảo hoạt của họ đều là phương tiện nhằm bảo vệ chế độ. Và một khi phương tiện ưu tú cỡ đó thì chắc không mấy khó khăn đoán ra mục đích cũng như bản chất tồn tại của nó. Bởi chỉ có sự ngu dốt mới đảm bảo cho tính bảo thủ đi cạnh nó lâu dài. Và bao giờ còn bảo thủ, còn nhũng nhiễu, còn độc tài thì sự ngu dốt còn hiện hữu, còn hoành hành mảnh đất Việt Nam này.
Rất tiếc là câu chuyện ngu dốt và bảo thủ, độc đoán, độc tài vẫn là câu chuyện chưa bao giờ có hồi kết thúc trong chế độ công an trị tại Việt Nam hiện tại! Và một khi nó còn hiện hữu thì cơ hội để tiến bộ cũng như cơ hội làm giàu, góp tay xây dựng đất nước của mọi doanh nghiệp, cá nhân đều bị con mắt soi mói của nó chiếu cố. Đợi cho nó đồng thuận sau một chu kì soi mói để được tiến bộ, làm giàu, chắc người ta đã già đi hoặc người ta đã phá sản vì nó. Đó là cái giá của một công dân sống dưới bóng mây độc tài, bảo thủ!
Viết Từ Sài Gòn

Thân Tàu Nên Mất Nước ?

Luật sư Nguyễn Xuân Phước - BBC – 12 June 2015
(Luật sư Nguyễn Xuân Phước từ Texas viết về bài học Triều Nguyễn và xu hướng thân Trung Hoa đưa tới chỗ mất nước và so sánh với tình trạng lệ thuộc tư tưởng ngày nay)

Năm 1802 Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long và chọn Phú Xuân làm kinh đô. Đến đời Minh Mạng cố đô Thăng Long đổi thành Hà Nội. Nhưng quá trình thống nhất và sự sai lầm trong việc chọn lựa con đuờng phát triển đất nước ở các triều đại nhà Nguyễn đã đánh mất cơ hội phục hưng tổ quốc, làm tiêu tán nội lực dân tộc, dẫn đưa đất nước đến giai đoạn đánh mất nền độc lập.
Khi Nguyễn Ánh phát động chiến tranh chống lại nhà Tây Sơn, ngài đã dựa vào hai thế lực ở nước ngoài. Ðó là lực lượng của người Tây phương và lực lượng người Trung Hoa.
Đứng đầu lực lượng Tây phương phò Nguyễn Ánh là đức giám mục Bá Ða Lộc. Nguyễn Ánh gặp giám mục Bá Ða Lộc khi ngài bôn tẩu ở Vọng Các, kinh đô của Xiêm La, tức Thái Lan. Từ đó, mối quan hệ của hai nguời trở nên mật thiết. Ðể vận động sự trợ giúp của Pháp quốc, Nguyễn Ánh đã giao hoàng tử Cảnh lúc mới lên bốn cho giám mục Bá Ða Lộc. Đồng thời giám mục có toàn quyền ký hiệp định với hoàng đế Pháp để giúp cho Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Sau đó ông trở về Pháp để vận động viện trợ cho Nguyễn Ánh. Ngài đã thay mặt Nguyễn Ánh ký hiệp ước 1787 dùng các đảo Côn Sơn và các đảo ngoài khơi Đà Nẵng (là Hoàng Sa) để đổi lấy viện trợ quân sự. Nhưng việc thi hành hiệp ước 1787 với Pháp thất bại.
Sau đó giám mục Bá Ða Lộc đã bỏ tiền túi cũng như vận động tài chánh riêng để mua khí giới và đưa sĩ quan Pháp về huấn luyện cho quân Nguyễn Ánh. Những người Pháp giúp cho Nguyễn Ánh như Sạc Ne (Charner) và Sai Nhô (Chaigneau) đều được tham dự triều chính của vua Gia Long khi ngài lên ngôi.
Chúng ta có thể khẳng định rằng vua Gia Long là vị vua Á Châu đầu tiên biết xử dụng nhân tài Tây Phương để phục vụ cho đất nước.
Hai phe đấu đá
Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Tây phương trong triều đình Gia Long là hoàng tử Cảnh. Hoàng tử Cảnh được vua cha Gia Long cho theo đức giám mục Bá Ða Lộc từ lúc ông mới 4 tuổi. Ở tuổi thơ ấu này, hoàng tử Cảnh rất dễ tiếp thu văn hoá và ngôn ngữ Tây phương. Có lẽ hoàng tử Cảnh là vị hoàng tử Á Châu đầu tiên được theo Tây học ở cuối thế kỷ thứ 18. Tuy lịch sử không nói nhiều đến cuộc đời của hoàng tử Cảnh, ngày nay chúng ta có thể suy luận được rằng hoàng tử Cảnh là người tiếp cận văn hoá tây phương rất sớm, thông thạo Pháp ngữ, Latin và có quan hệ rất tốt với Tây phương.
Ngoài ra, cánh quân sự trong triều đình Gia Long là thành phần chịu ảnh hưởng của Tây phương. Họ là những người trực tiếp xử dụng vũ khí của Tây phương. Đứng đầu cánh thân Tây phương này là tả quân Lê Văn Duyệt cùng các tướng lãnh như tiền quân Nguyễn Thành.
Phe thân Trung Hoa là những người Minh Hương đã gia nhập lực lượng của Nguyẽn Ánh để chống Tây Sơn. Người Minh Hương là những người Trung Hoa phục vụ cho nhà Minh xin tỵ nạn chính trị tại Đại Việt khi nhà Thanh diệt nhà Minh. Những người Minh Hương thoạt đầu là những người của tổ chức Thiên Địa Hội có ý chí phản Thanh phục Minh.
Tuy nhiên từ thời Khang Hy trở đi, nhà Thanh đã bắt đầu bị đồng hoá vào Trung Hoa và Khang Hy bắt đầu những chính sách kinh tế, chính trị làm cho Trung Hoa càng ngày càng phồn thịnh và phát huy văn hoá Trung Hoa lên cao độ. Do đó, ý chí phục Minh của những người Minh Hương không còn nữa. Sau hơn 100 năm sống ở Đại Việt, những người Hoa kiều nầy trở thành một bộ phận của dân tộc nhưng họ vẫn có những mối quan hệ chặt chẽ với mẫu quốc Trung Hoa. Tại Việt Nam lúc bấy giờ người Minh Hương trở thành một lực lượng có xu huớng thân Trung Hoa trong triều Gia Long.
Ðứng đầu lực lượng nầy là Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh và Ngô Nhơn Tịnh. Ba ngưòi nầy là học trò xuất sắc của một nhà thâm nho gốc Minh Hương là Võ Trường Toản và cả ba được người đương thời gọi là Gia Định Tam Hùng. Cả ba đều tham gia hoạt động phò Nguyễn Ánh từ năm 1788.
Khi Gia Long lên ngôi, Trịnh Hoài Ðức được bổ nhiệm làm thượng thư bộ lại kiêm bộ hình và phó tổng tài Quốc Sử Quán. Lê Quang Ðịnh được làm Binh Bộ thượng thư, tương đương với bộ trưởng quốc phòng ngày nay. Ngô Nhơn Tịnh sau được thăng Công Bộ thượng thư. Cả ba ông đều dóng những vai trò quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa.
Nhưng vai trò quan trọng nhất của Trịnh Hoài Ðức là được vua Gia Long ủy thác để dạy dỗ cho hoàng tử Ðảm. Hoàng tử Ðảm sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng.
Hai xu hướng thân Tây phương và thân Trung Hoa trong triều Gia Long xung đột gay gắt về vấn đề kế vị hoàng tử Cảnh sau khi hoàng tử qua đời. Khi Trịnh Hoài Đức thuyết phục được Gia Long phế dòng trưởng lập dòng thứ, vua Gia Long đã chọn Minh Mạng làm người kế vị. Khi Minh Mạng lên ngôi, dưới ảnh hưởng của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhơn Tịnh, Việt Nam đã nghiêng hẳn theo mô hình Nho giáo của Thanh triều (Thanh Nho) để phát triển đất nước.
Sau khi phe thân Trung Hoa tạo được ưu thế trong triều đình thì thanh trừng bắt đầu xuất hiện. Tiền quân Nguyễn Thành, tổng trấn Bắc Thành, đã bị gièm pha đến phải uống thuốc độc tự vẫn thời Gia Long. Sau khi lên ngôi, Minh Mạng (1820-1840) triệt hạ dòng dõi của hoàng tử Cảnh bằng cách xử tử vợ và người con trưởng của hoàng tử Cảnh, giáng ngưòi con thứ làm thường dân.
Đối với Lê Văn Duyệt, Minh Mạng chưa dám làm gì và vẫn cho làm tổng trấn Gia Định Thành. Khi Minh Mạng ban hành lệnh cấm đạo thì Lê Văn Duyệt tại Gia Định vẫn chủ trương thân Tây phương và không thực hiện lệnh cấm đạo. Khi Lê Văn Duyệt qua đời, con nuôi là Lê Văn Khôi nổi dậy chống triều đình với sự giúp đỡ của một số người Tây phương trong đó có một linh mục Công giáo. Khi cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi bị dẹp tan thì Minh Mạng mới kết án Lê Văn Duyệt, tước hết các chức vụ và cho xiềng lăng của ông bằng xích sắt.
Về phương diện ngoại giao, Minh Mạng cho giảm dần quan hệ với Tây phương. Những ngườì Pháp làm việc với Gia Long chán nản bỏ về nước. Với những người Minh Hương thân Trung Hoa cầm nắm vận mạng của triều đình, Minh Mạng đã thi hành một loạt các chính sách ngoại giao đi ngược với đưòng lối của Gia Long. Từ một nền chính trị ngoại giao khai phóng của Gia Long với những quan hệ rộng rãi với các quốc gia trên thế giới, Minh Mạng và các vua kế vị Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883) cùng triều đình thân Trung Hoa đã bắt đầu một nền chính trị cục bộ, thiển cận với chính sách bế môn toả cảng, đoạn tuyệt với Tây phương, ban hành lệnh cấm đạo.
Mê văn chương xao nhãng quân sự
Do ảnh hưởng của Thanh Nho, triều đình nhà Nguyễn từ Minh Mạng trở đi chỉ chú trọng đến văn chương thi phú biền ngẫu, đi theo con đường trọng văn và xao lãng vấn đề quân sự và quốc phòng.
Ðây là lý do, sau khi Gia Long băng hà, sức mạnh quân sự của triều Nguyễn suy giảm hẳn. Khi các tướng lãnh thuộc thế hệ Gia Long qua đời, các tướng lãnh thế hệ kế thừa không đủ tài thao lược để thực hiện chính sách quốc phòng hữu hiệu.
Lực lượng quân sự của Trương Minh Giảng không đủ khả năng duy trì guồng máy cai trị ở Nam Vang. Và Trương Minh Giảng đã bị người Miên đánh đuổi về nước dưới triều Thiệu Trị.
Đến thời kỳ Tự Đức, xu hướng thân Trung Hoa hoàn toàn nắm trọn quyền trong triều đình. Sự kiện này được xác định khi triều đình họp nhau bác bỏ bản điều trần canh tân đất nước của Nguyẽn Trường Tộ. Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là một nho sĩ theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng thông minh và hay chữ, được người đời gọi là Trạng Tộ. Ông cũng thông thạo nhiều ngôn ngữ Tây phương.
Ông làm thông ngôn cho các giáo sĩ Thiên Chuá trong việc truyền đạo tại Việt Nam. Sau một thời gian đi chu du thế giới, đặc biệt là Pháp và Ý, ông trở về Việt Nam dành mấy năm trời đem tâm huyết của một người yêu nước viết nhiều bản điều trần cải cách và canh tân đất nước dâng lên Tự Đức. Nhưng triều đình Tự Đức với đầu óc cổ hủ của Thanh Nho không đủ tầm nhìn để hiểu được những thế lớn đang bùng ra trong thiên hạ thời bấy giờ. Sau hoàng tử Cảnh năm mươi năm, Việt Nam đã mất đi cơ hội phát triển một lần nữa khi triều đình nhà Nguyễn quay mặt trưóc những yêu cầu canh tân của Nguyễn Trường Tộ.
Điều bất hạnh hơn cho dân tộc là lúc ấy giáo điều Thanh Nho đã bắt đầu rã mục. Triều đình nhà Thanh đang trên đà phá sản. Năm 1839 chiến tranh Nha Phiến bùng nổ, nhà Thanh phải ký các hiệp ước biên giới nhượng đất cho Anh và Pháp. Với hiệp ước Nam Kinh, Anh chính thức chiếm đóng Hương Cảng năm 1842.
Với hiệp ước Hoàng Phố 1844, Pháp chính thức đặt chân lên lãnh địa Trung Hoa. Ở mạn bắc, năm 1850 quân đội của Nga Hoàng tràn xuống Hắc Long Giang chiếm đóng Mãn Châu, quê hương của nhà Thanh. Từ 1854 đến 1860, Hồng Tú Toàn và phong trào Thái Bình Thiên Quốc đã chiếm gần một nửa Trung Hoa. Cuối cùng, cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 của phong trào cách mạng Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tôn Văn đã lật đổ triều đình phong kiến Mãn Thanh để xây dựng chế độ Cộng Hoà.
Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn vẫn còn như mơ ngủ. Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1860, tức là 20 năm sau khi nhà Thanh bị liệt cường xâu xé và đang dãy chết, triều đình Tự Đức vẫn còn cho người sang Trung Hoa cầu viện. Những tiếng nói đòi cải cách của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch trở thành nổi trăn trở kéo dài hàng thế kỷ của nhiều thế hệ.
Ý hệ Thanh Nho làm triều đình nhà Nguyễn u mê đến nổi không thấy được một thế giới mới đang ra đời với cuộc cách mạng kỹ nghệ đang đẩy xã hội Tây phương lên đỉnh cao của sự phát triển. Và cuộc cách mạng kỹ nghệ đó làm thay đổi cục diện thế giới, cùng lúc làm thay đổi lịch sử nước Việt.
Khi Pháp tấn công Nam Kỳ thì triều đình hoàn toàn không có đủ năng lực quân sự và chiến lược quốc phòng để đối phó. Những võ tướng uy tín trong triều như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản (cũng gốc người Minh Hương) dù thừa khí phách của nho gia nhưng không đủ tài thao lược quân sự để lãnh đạo cuộc chiến tranh chống xâm lược. Khi Pháp chiếm Sài Gòn thì súng ống và đạn dược của quan quân Triều đình có rất nhiều nhưng quân đội ô hợp không có khả năng chống trả quân xâm lăng. Hậu quả tất nhiên là đất nước đã mất vào tay thực dân.
Với Hoà Ước Nhâm Tuất 1862 và hoà ước Patenôtre 1884, công cuộc thống nhất đất nước của Gia Long được coi như cáo chung. Việt Nam bước qua trang sử mới, đó là trang sử nô lệ. Và sau 1000 năm giành được độc lập từ Trung Hoa thời Ngô Quyền, nước Đại Việt lại một lần nữa mất quyền tự chủ.
Cái nhục mất nước, tụt hậu của dân tộc Đại Việt ở thế kỷ 19 phát xuất từ nhiều yếu tố lịch sử khác nhau.
Thế nhưng sự chọn lựa mô hình phát triển đất nước, sự ỷ dốc vào Thanh triều trên mặt trận ngoại giao và văn hoá thời kỳ hậu Gia Long, chính sách giao thương phụ thuộc kinh tế Trung Hoa và sự tin tưởng mù quáng vào giáo điều Thanh Nho bất chấp các bản điều trần yêu cầu canh tân của các sĩ phu tiến bộ, là những yếu tố quyết định đưa đất nước vào giai đoạn nô lệ.
Ngày nay, nếu thay giao điều Thanh Nho bằng giáo điều Mao, thì tình trạng Việt Nam gần như tương tự.
(Bài thể hiện quan điểm riêng của Luật sư Nguyễn Xuân Phước và đã được đăng trên Tuần san Trẻ Dallas, Texas, Hoa Kỳ.)

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2015

Tự Hào Vì Lý Do Gì?

Alan Phan

27 June 2015
Tuần qua, một thân hữu gởi link về một bài hát trong băng nhạc gần đây của Trung Tâm Thúy Nga. Tôi nghe lần đầu, kể cả tiếng hát của người ca sĩ trẻ hải ngoại, ấn tượng với clip video, nhất là những hình ảnh thiên nhiên tuyệt vời của quê hương.
Xin mời các bạn nghe xong để hiểu thêm những gì tôi sắp nói:
“Tôi Là Người Việt Nam”
Thực ra, một người đi du lịch khắp thế giới sẽ nhận ra là vẻ đẹp thiên nhiên hiện hữu cùng khắp, tại mọi lục địa, từ đồi núi biển khơi đến sa mạc rừng sâu. Mỗi vẻ đẹp dù khác biệt vẫn làm chúng ta nín thở trước sự cấu tạo tuyệt vời của Thượng Đế. Việt Nam có thể may mắn hơn vài nước khác vì núi biển sát kề nhau; nhưng thiên nhiên vẫn chia sẻ nhiều thần kỳ cho mọi nơi chốn và cho mọi con người, lớn hay bé, giàu hay nghèo, mạnh hay yếu, hạnh phúc hay đau khổ. Chúng ta nên cảm tạ ân phúc đó vì đây là một món quà “miễn phí” hàng ngày.
Tuy nhiên, trong cái tôn kính món quà thiêng liêng của thiên nhiên, con người phải lo gìn giữ, chăm lo, bồi đắp… tài sản này nếu chỉ để tỏ lòng biết ơn. Sự vô tâm phá hoại môi trường với nạn chặt rừng bừa bãi, đổ rác tràn lan gây ô nhiễm trên sông rạch, đất cát, không khí…, nạn giết sạch mọi loài thú để thỏa mãn khẩu vị, nạn cướp đất ruộng của dân, phá hủy di tích lịch sử, nạn pha chế độc chất vào bất cứ sản phẩm nào… để làm đầy túi tiền cho phe nhóm…có thể liệt kê vào những tội phạm mà các xã hội văn minh sẽ nghiêm trị. Thâu ngắn đời sống đồng loại có phải là diệt chủng? Dùng khủng bố để tiến chiếm quyền lực lợi ích có phải là cướp cạn?
Một điều nữa. Cái đẹp Trời cho, hay do người khác tạo nên, có phải là lý do để chúng ta tự hào? Suy ngẫm lại, tự tay chúng ta đã sáng chế, phát minh, tìm tòi…những gì cho nhân loại? Một đột phá về công nghệ đang được ứng dụng khắp thế giới; hay một tác phẩm nghệ thuật đang được trầm trồ tại những triển lãm; hay một triết lý sống đặc thù cho hạnh phúc an bình?
Một cá nhân, một gia đình, một cộng đồng, một quốc gia…chỉ biết sống bằng cách “lấy cướp” từ họng súng, hay bằng miệng lưỡi dối trá, lừa đảo…sẽ chịu những nhân quả gì trong cuộc sống này?
Câu nói của Edith Sitwell tôi đã dùng để minh họa cho một bài viết cách đây vài tháng được nhiều đọc giả ưa thích và đồng cảm,” Tôi kiên nhẫn với sụ ngu dốt, nhưng không thể chịu được những kẻ tự hào vì nó – I am patient with stupidity but not those who are proud of it”.
“Tôi là người Việt Nam” nhưng tôi chỉ có thể tự hào vì những thành tựu xã hội này tạo dựng. Một quốc gia muốn được thế giới kính nể không thể chỉ cóp nhặt văn hóa, lối sống, ngay cà quá khứ của một quốc gia khác. Chắc chắn là không thể đi xin đi vay đi làm đầy tớ…như từ cả thế kỷ qua.
Alan Phan
The air we breathe, the water we drink, and the land we inhabit are not only critical elements in the quality of life we enjoy- they are a reflection of the majesty of our Creator (Rick Perry)

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Chất lượng sống thấp hơn Lào à?…Thôi kệ!

Chất lượng sống thấp hơn Lào à?…Thôi kệ!
Theo Báo Đất Việt – 26 June 2015
(GNA: Quality of life is not an act, it’s a habit – Aristotle)
Ông Nguyễn Văn Đực, Phó Giám đốc Công ty Địa ốc Đất Lành chia sẻ suy nghĩ xung quanh kết quả khảo sát Việt Nam có chất lượng sống thấp hơn Lào và Campuchia.
“Do tính lạc quan cao nên người Việt vẫn sống hạnh phúc. Dù chất lượng cuộc sống kém nhưng thử kêu ai qua Lào, Campuchia sống chưa chắc người ta đã qua.”
PV: – Đáng lưu ý, theo xếp hạng này, chất lượng sống của Việt Nam xấp xỉ nhưng ở mức thấp hơn Campuchia và thua hẳn so với Lào. Điều này có đồng nghĩa chúng ta tụt hậu hơn so với Lào (như đã xếp kém Lào về năng lực sáng tạo) hay không? Nếu không thì có thể giải thích điều này như thế nào cho hợp lý?
Ông Nguyễn Văn Đực: – Đúng vậy! Hiện nay người dân sống ở Lào, Campuchia cảm thấy an toàn hơn, không sợ mất trộm, không sợ lừa đảo, không sợ thức ăn bẩn độc, không sợ cướp giật, ra đường không sợ tai nạn. Việt Nam có thể giàu hơn Campuchia, Lào, thu nhập có thể hơn nhưng cuộc sống của người Việt kém hơn, người không tin người, ra đường như ra trận, chất lượng cuộc sống thấp, đặc biệt sự an toàn trong cuộc sống đã xuống quá thấp.
Cách đây vài năm, người dân đâu có ngại thức ăn mà giờ tất cả trở thành ma trận thực phẩm bẩn độc với rau tắm hoá chất, thịt thối, các chất bảo quản… Những gì người ta cho súc vật ăn nay người ta đều làm cho đồng loại ăn. Bởi không ăn thì chết liền mà không ăn thì chết từ từ nên đành nhắm mắt mà ăn.
PV: – Dù bị đánh giá đang thua ở top các nước có chất lượng sống thấp nhất thế giới song trong nhiều cuộc khảo sát về mức độ hạnh phúc hay lạc quan, người Việt Nam luôn xếp hàng đầu thế giới. Phải hiểu điều này như thế nào?
Trong việc nâng cao chất lượng sống, phẩm chất lạc quan bẩm sinh của người dân có giúp ích cho việc điều hành chính sách hay không, thưa ông?
Ông Nguyễn Văn Đực: – Trước đây, học giả Phạm Quỳnh có viết bài Cười vì cái gì người dân mình cũng cười, cười vui vẻ, cười hả hê bất chấp nghèo đói, lạc hậu.
Đôi khi họ tự huyễn hoặc rằng: Nói gì thì nói bây giờ mình khá hơn ông cha mình rồi, có TV, iPad, iPhone… Họ tự so sánh với ông cha mình chứ không so sánh với người hàng xóm, thành ra họ vẫn lạc quan, miễn là năm sau cao hơn năm trước, dù người ta tăng 5-10%/năm còn mình tăng 1%/năm cũng vui rồi.
Tính lạc quan của người Việt rất cao nên nhiều người vẫn sống hạnh phúc. Bởi thế, cứ nói đất nước có chất lượng sống kém nhưng thử kêu ai qua Lào, Campuchia sống chưa chắc người ta đã qua.
Như tôi bây giờ sống thế này, dù chê bai vậy nhưng bảo tôi qua Mỹ, qua Úc sống thì tôi không qua bởi ở Việt Nam vui hơn, có những cái phù hợp với nếp sống, tính tình, phong cách sống của tôi hơn.
Người Việt Nam lạc quan ở chỗ họ chấp nhận những gì họ có, giống như câu thơ của Nguyễn Công Trứ trong bài Chữ Nhàn: “Tri túc tiện túc, đãi túc, hà thời túc/Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?” (Biết đủ là đủ, đợi cho đủ thì bao giờ mới đủ. Biết nhàn là nhàn, đợi cho nhàn thì bao giờ mới nhàn).
Do đó, vấn đề người ta chọn ở lại không phải vì chất lượng cuộc sống mà vì không gian sống, nếp sống có phù hợp không bởi nơi phù hợp luôn là nơi tốt nhất.
Tuy nhiên, việc chấp nhận hiện tại trở thành một sức ỳ rất lớn, cản trở sự phát triển. Nó xuất phát từ hai yếu tố: văn hoá lâu đời và xã hội không mở cửa. Người Việt có câu cửa miệng rất độc đáo: Thôi kệ!
Chữ Thôi kệ có phần an phận, chấp nhận số phận giống như một kiếp mình phải trả, nó khiến người Việt lạc quan và bình thản trước mọi sự việc, kể cả lạc quan trước sự bất công, nghèo đói, tụt hậu của dân tộc, không thấy đó là nỗi nhục để vươn lên. Đấy là một nhược điểm lớn của người Việt!
Cần có cuộc vận động từ chính quyền, đoàn thể, tổ chức để nâng cao dân trí, dân khí lên, để mỗi người dân thoát khỏi sức ỳ của chính mình mà nhìn xa hơn và cảm nhận mình quá thua thiệt, thấy nghèo đói, tụt hậu là nỗi nhục và cần phải thay đổi một cách nhanh chóng.
PV: - Qua khảo sát trực tuyến, website Numbeo.com – trang web dữ liệu lớn nhất về các thành phố và quốc gia trên thế giới – vừa công bố đánh giá Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có chất lượng cuộc sống thấp bậc nhất trên thế giới dựa trên các tiêu chí: mức độ an toàn, chăm sóc sức khỏe, giá tiêu dùng, sức mua, giao thông đi lại, mức độ ô nhiễm và giá nhà đất so với thu nhập.
Cá nhân ông có bất ngờ trước kết quả xếp hạng trên không? Dựa trên các yếu tố khảo sát, theo ông, mức độ đáng tin của khảo sát này như thế nào? Và cảnh báo với Việt Nam từ bảng khảo sát này ra sao?
Ông Nguyễn Văn Đực: - Tôi hơi buồn khi nghe thông tin này nhưng phải thừa nhận rằng cái gì người ta đánh giá cũng có cơ sở. Theo tôi, có 4 điều đáng lo trong chất lượng cuộc sống ở Việt Nam.
Thứ nhất, về chất lượng nhà ở, đại đa số người dân Việt Nam, nhất là người thu nhập trung bình thấp hiện nay có chất lượng nhà ở rất thấp. 80-90% người dân ở độ tuổi 20-35 đều chưa có nơi ở riêng, phần đông ở nhà cha mẹ hoặc thuê trọ. Họ ở với cha mẹ, ông bà không phải trong một vila mà là nhà phố chia 3-5 phòng, mỗi phòng là 1 gia đình. Còn cảnh ở nhà trọ cũng không khác mấy khi những người trẻ mới lập gia đình phải thuê phòng trọ trên dưới 20m2.
Trong khi đó, cơ quan chức năng cứ thống kê diện tích nhà ở bình quân đầu người 17-18m2/người nhưng điều đó không chính xác bởi thực tế có nhiều người giàu có 200-300m2 hoặc cả ngàn mét vuông nhà ở nhưng những người nghèo phải ở trong diện tích chật hẹp 2-10m2, không thể cứ cộng lại rồi chia bình quân.
Thứ hai, về an toàn trong thực phẩm, hàng ngày chúng ta phải ăn những thức ăn bẩn độc, chứa những chất không được phép sử dụng trong thực phẩm như chất tăng trưởng kích thích làm trái cây chín vàng, ngọt, rau muống mỗi ngày dài thêm 2-3 tấc…
Thứ ba, về giao thông, mỗi năm Việt Nam có hơn 10.000 người chết vì tai nạn giao thông, tương đương với một sư đoàn khiến người dân có cảm giác mỗi lần ra đường giống như ra trận, sống chết hên xui.
Thứ tư, về văn hoá sống. Văn hoá sống của người Việt Nam hiện đang ở tình trạng báo động: người ta tranh cãi, chửi bới nhau, dùng vũ lực, trả thù nhau… Đó là do pháp luật Việt Nam không nghiêm dẫn đến tình trạng người ta xử nhau bằng vũ lực chứ không phải bằng pháp luật.
Những vụ bắt trộm chó rồi đánh trộm đến chết là ví dụ điển hình. Trên thế giới có lẽ không có đất nước nào có hiệp sĩ đường phố như Việt Nam, mọi chuyện lẽ ra phải được lực lượng chức năng giải quyết chứ không phải người dân tự xử. Một điều đau lòng khác xảy ra ở Thủ đô Hà Nội là nạn nói tục, đến nỗi người ta sắp phải có quy định xử phạt hành vi này.
Kết quả khảo sát trên là hợp lý và có nhiều vấn đề đáng buồn mà họ phản ánh là có cơ sở. Nó cảnh báo Việt Nam đang bị tụt hậu dần về mọi mặt, trong khi nền kinh tế của Lào và Campuchia bắt đầu phát triển và ở chừng mực nào đó có phần hơn Việt Nam.
Thế giới đã đánh giá như vậy, chúng ta nên tiếp thu, lắng nghe, nghiệm lại và có sự cải tổ, canh tân một cách quyết liệt, dứt khoát. Ví dụ thông tin Hà Nội cấm nói tục, tại sao không làm cách đây 5-10 năm mà bây giờ mới phát động? Việc phát động phải được tiến hành từ lãnh đạo trở xuống.
Nguồn: baodatviet.vn (Bài nhậy cảm, đã bị gở xuống. Truy cứu Google Archive)

Cảm ơn đảng và nhà nước

Dân trí mình đúng thấp thật rồi, cảm ơn đảng và nhà nước!
Theo Triết Học Đường Phố – 27/06/2015 –
Câu nói của ông đại biểu: “Dân trí nước ta còn thấp.” Bị người dân, chủ yếu dân mạng phản đối ầm ĩ. Còn lại đa phần số đông, những người dân, người lao động không bao giờ online thì chẳng biết, chẳng bận tâm. Mà cho dù có biết đi chăng nữa thì cũng kệ vì chả thấy liên quan gì tới mình. Đấy, mình bị cái đứa mình nuôi nó chửi thẳng mặt là ngu mà cũng không biết, không quan tâm, thì thử hỏi mình có ngu thật hay không?

Chưa kể,
Dân trí cao cỡ nào khi mà ngoại trừ những người quan tâm chính trị ra thì còn mấy ai biết cụ thể công việc, trách nhiệm của những chức danh như Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy ban mặt trận Tổ Quốc… là cái gì? Họ làm những công việc gì? Trách nhiệm của họ đến đâu? Tại sao ông Đại Tướng chẳng bao giờ thấy mặt mũi trên các thông tin chiến trận ngoại trừ có mặt ở một vài cuộc họp vớ vẩn với ngoại bang? Tại sao những vụ doanh nghiệp Nhà Nước thua lỗ động trời không một ai phải đứng ra chịu trách nhiệm hay nói một lời xin lỗi?
Dân mù tịt không biết đâu mà lần, thậm chí cũng là không quan tâm chút nào hết. Thế thì hỏi có là ngu không? Ngu vì không được dạy hay ngu vì không biết tự tìm hiểu hay ngu vì tìm hiểu mãi cũng không ra… Dù cho là ngu vì bất cứ lý do gì thì vẫn là ngu. Ngu thì là dân trí thấp. Đúng quá rồi còn gì.
Dân trí có cao không khi đa phần người dân không hề muốn nghe muốn nói đến chuyện chính trị vì cho rằng nó không liên quan tới cuộc sống của mình. Không hề biết rằng chuyện chính trị chính là quyền của mình để lập ra một chính phủ có trách nhiệm chăm lo cho đời sống của mình.
Chính trị chính là nội dung giáo dục con cái mình nên người. Chính trị chính là niềm tự hào dân tộc của dân mình khi bước ra khỏi đất nước. Chính trị chính là liều thuốc con mình tiêm vào người, là con đường mình đi, là hàng hóa mình tiêu thụ, là không khí mình hít thở, là sức khỏe của chính mình và gia đình mình?
Tách rời chính trị khỏi cuộc sống và trách nhiệm của bản thân trong khi nó ảnh hưởng sâu sắc và gắn liền mật thiết đến nhau. Cho rằng nó thì không liên quan đến mình, mình thì không làm gì được nó, thì thử hỏi có ngu không, có dân trí thấp không?
Dân trí cao cỡ nào mà để cho “nước lạ” nó ngang nhiên chiếm đảo chiếm đất xây dựng sân bay, công trình mà vẫn im lặng không nói một lời.
Dân trí cao chắc chắn sẽ phải biết biểu tình và giữ im lặng khi bị bắt là hai trong những quyền cơ bản nhất của con người trên bất cứ vùng đất văn minh nào.
Dân trí cao thì đâu thể im lặng đi trên những cây cầu mới xây đã sập, bê tông cốt tre, đường cao tốc sóng trâu, công trình trăm ngàn tỷ vừa khánh thành đã hư hỏng, đập nước bờ kè mưa một trận đã sụt lún…
Dân trí cao thì nỡ nào mà để người dân mình tự lừa đảo người mình, tự đầu độc dân mình, tự làm hại đồng bào mình. Giúp người ta tiêu thụ hóa chất độc hại, nông sản độc hại còn nông sản của dân mình thì phải đổ bỏ đi vì thừa mứa và rẻ mạt.
Dân trí cao thì sao để chính quyền tự ý lấy thuế xây cái miếu vài trăm tỷ thờ một ông học giả ngoại bang rồi còn trơ trẽn tuyên bố xây thế thôi chứ chưa quyết định thờ ai. Hẳn là chính quyền dư nhiều tiền lắm. Nhưng dư tiền sao lại phải đi vay Trung Quốc tiền xây cái đường tàu cao tốc để rồi bị họ chèn ép. Dư tiền sao lại phải đi vay viện trợ bảo vệ môi trường trong khi tiền phí bảo vệ môi trường thì tận thu từ trong giá xăng giá điện?
Dân trí cao thì sao mà có mấy chuyện hy hữu cười ra nước mắt rằng cuộc sống của ta là hạnh phúc nhất, yên bình nhất.
Dân trí cao làm sao chịu nổi khi chính quyền làm được một việc nhỏ thì bắt dân mang ơn, tạc tượng. Còn khi chính quyền làm sai những việc tày đình thì không cần xin lỗi, từ chức, chịu trách nhiệm, chỉ cần rút kinh nghiệm là xong?
Dân trí cao thì hẳn đã chẳng phải xấu hổ khi dân ta ra nước ngoài mang bao tiếng xấu, trộm cắp, mại dâm, vô ý thức vô văn hóa.
Nếu dân trí mà có cao thì phụ nữ Việt đã chẳng phải lũ lượt ra nước ngoài bán dâm, bị mua làm vợ, bị hành hạ, bị xúc phạm. Người dân Việt đã chẳng phải qua Cam, qua Lào làm giúp việc, lao động nặng nhọc, chui nhủi.
Nếu dân trí mà không thấp thì hàng trăm ngàn sinh viên thạc sĩ tiến sĩ ra trường hẳn đã phải có công ăn việc làm, có những đồ án, công trình giúp ích cho cộng đồng chứ không xếp hàng dài thất nghiệp ăn bám gia đình xã hội.
Nếu dân trí cao thì hẳn phải biết đất nước đã đi thụt lùi thế nào sau những năm tháng “giải phóng”. Từ một nước tự sản xuất được xe hơi nội địa thành một nước không sản xuất được con ốc con vít. Từ một nước được miễn phí học hành, y tế biến thành có nhiều tiền cũng chưa chắc có được môi trường học hành, y tế đủ tốt. Từ một nước được bao nước thèm muốn, ước ao trở thành một nước bị xem thường.
Nếu dân trí cao hẳn đã phải nhận ra những mâu thuẫn, nhìn thấy những sự thật đang được giấu kín thay vì nói gì biết đấy, kêu gì làm đấy.
Nếu dân trí cao liệu có để cho các ngài lãnh đạo xem như trò hề, muốn làm gì thì làm, muốn chặt cây thì chặt, hứa một đằng làm một nẻo, muốn thay cây gì thì thay, muốn bán đất cho ai, bán tài nguyên cho ai, cho ai thuê đất bao lâu thì cho.
Nếu dân trí cao hẳn không thể để mặc cho những người được mình ủy quyền lộng hành tác oai tác quái. Sâu mọt khắp nơi từ trung ương đến địa phương, từ trong ra ngoài, từ lớn đến bé, từ xưa đến nay mà không một động thái ngăn cản.
Nếu dân trí cao người ta hẳn sẽ phải thích đọc sách hơn xem truyền hình, thích nghiên cứu tìm hiểu hơn là đọc tin tức giải trí. Nhưng xem kìa, Việt Nam là một trong những nước đọc sách ít nhất thế giới.
Nếu dân trí cao thì hẳn sẽ không cười xòa khi đọc tin tức “Cá mập cắn đứt cáp” “Nhím gà dê hỗ trợ nông dân đi lạc vào nhà bí thư, chủ tịch”.
Nếu dân trí cao hẳn người dân phải biết hợp sức lại, biết cất tiếng nói của mình, biết liên kết với nhau tạo nên sức mạnh.
Và quan trọng nhất, nếu dân trí cao thì người dân chắc chắn phải biết chuyện gì đang xảy ra với đất nước mình, với dân tộc mình.
Đấy, xin mời các bạn xem lại, tự vấn lại bản thân một chút. Rằng so với một vài biểu hiện của dân trí cao như trên, thì tự xem dân trí của mình có cao không? Nếu có, thì xem tiếp, xung quanh mình có bao nhiêu người có dân trí cao giống mình trên tổng số người mình quen biết và tiếp xúc hàng ngày? Còn nếu không, thì thôi, ông đại biểu nói đúng, dân trí mình thấp thật, nói thẳng tuột, mình thật là ngu, dân mình cũng ngu, rất ngu, đấy là sự thật không còn nghi ngờ và bàn cãi gì nữa.
Ấy thế thì, thay vì phản bác và chê trách ông đại biểu, người dám nói dân trí ta thấp, thì có lẽ, nên tuyên dương ông. Vì dám nói ra sự thật, sự thật mà các ngài lãnh đạo đều biết nhưng chưa ai có can đảm nói. Nhưng mà cũng không được, vì ông đại biểu này khi bị phản đối đã lại kịp có bài thanh minh rằng ông ta không nói ra điều đó. Ý ông không phải vậy, dân hiểu lầm ý ông rồi. Đấy, lại một lần nữa, dân trí thật thấp, thật ngu, lãnh đạo phát biểu gì người dân cũng hiểu lầm hết.
Từ “dân trí thấp” “quyền im lặng và biểu tình là nguy hiểm” “xu thế ghét Trung Quốc là nguy hiểm cho dân tộc” “nước ta còn dân chủ gấp vạn lần các nước tư bản” “đa số người dân ủng hộ chặt cây” “chưa quyết xem thờ ai trong miếu” “chúng ta phải cố gắng xây dựng quân đội mạnh như Triều Tiên” “dân sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai”…
Đấy, câu phát ngôn nào cũng bị người dân hiểu lầm. Thế thì giờ sao? Lãnh đạo phải coi lại cách phát biểu sao cho dân hiểu. Hay người dân phải cố mà hiểu cho đúng ý lãnh đạo? Ôi tôi cũng không biết nữa, vì như đã nói, dân trí tôi thấp lắm. Sao hiểu được ý mấy ông.
Nhưng mà dù dân trí tôi thấp đi chăng nữa, thì có một điều tôi dám cam đoan, rằng bất kể chuyện gì xảy ra bất kể kết quả thế nào, cũng là nhờ ơn Đảng và Nhà Nước. Nên dù cho cả nước có bị dân trí thấp, tôi cũng xin thay mặt toàn dân, cảm ơn Đảng và Nhà Nước!

Câu Chuyện của Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh

Chàng lao công gốc Việt trở thành khoa học gia không gian vũ trụ của Mỹ
Trà Mi – VOA – 26 June 2015
Một thanh niên làm lao công cho các cửa hàng trong những khu mua sắm khi sang Mỹ tỵ nạn trở thành một nhà khoa học không gian vũ trụ của Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ sau 25 năm miệt mài vượt khó vươn lên.
Đó là câu chuyện thành công của Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh, cháu nội đích tôn của sử gia nổi tiếng Phạm Văn Sơn và là cháu ngoại của nhà thơ lừng danh một thời Bàng Bá Lân.
Đến Mỹ năm 1991 theo diện HO vì bố mẹ là cựu tù nhân chính trị từng làm việc cho chính phủ Mỹ trước năm 1975, chàng thanh niên 19 tuổi quyết tâm theo đuổi ‘giấc mơ Mỹ’, phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn.
Ý chí kiên trì và những nỗ lực không ngừng đã mang về cho anh những thành quả đáng nể. Trong số này phải kể tới hàng trăm bài viết nghiên cứu khoa học cùng hàng chục giải thưởng của Không quân Hoa Kỳ như Huy chương Không quân về Thành tựu dân sự, Giải Kỹ sư Không quân Xuất sắc, Bài nghiên cứu Xuất sắc nhất năm. Anh cũng là thành viên phê bình trong các ủy ban luận án Tiến sĩ và Thạc sĩ tại các trường đại học Mỹ, cố vấn nghiên cứu cho các cơ quan khoa học danh tiếng của Mỹ như Cơ quan Phòng thủ Tên lửa, Cơ quan Dự án Nghiên cứu Quốc phòng cao cấp, Hội Kỹ thuật Khoa học Quốc phòng Hoa Kỳ..v..v..
Tạp chí Thanh niên VOA hôm nay mời các bạn cùng gặp gỡ tấm gương thành công Phạm Đăng Khánh, niềm tự hào của người Việt hải ngoại.
TS. Khánh: Khi tôi đến Mỹ, mọi sự đều bỡ ngỡ về văn hóa, lịch sử, phong tục-tập quán. Khó khăn lớn nhất đối với tôi và cả gia đình là không có đủ khả năng đọc hiểu và nói tiếng Anh. Bản thân tôi phải bắt đầu lại con đường học vấn từ lớp 10. Các khó khăn về kinh tế người tỵ nạn nào cũng phải đương đầu, nhưng mình cũng phải cố gắng. Tôi cùng với em trai mỗi sáng sớm phải đi làm thêm. Sáng sớm, chúng tôi đi dọn dẹp, lau chùi các cửa hàng to trong các khu thương mại lớn. Mình làm 2-3 tiếng/ngày, và đi học cho tới 10 giờ đêm. Lên thạc sĩ, mình được học bổng. Mình biết tiết kiệm nên tiền học bổng cũng đủ trang trải các chi phí như đi lại, xe cộ, bảo hiểm.
Trà Mi: Với những cái giá đã trả để có được vị trí hôm nay, nhìn lại, anh nghiệm ra cho mình điều gì?
TS. Khánh: Tôi nghĩ mình lúc nào cũng nên luôn làm việc chăm chỉ, không được hài lòng với những gì đạt được, và con đường đó lúc nào cũng đòi hỏi những hy sinh. Chẳng hạn như vì công việc, thời gian của tôi dành cho gia đình đã bị ít đi.
Trà Mi: Tư chất ham học, nỗ lực, và sự may mắn chiếm tỷ lệ thế nào trong sự thành công của anh?
TS. Khánh: Tinh thần học hỏi và sự nỗ lực, hai tố chất này cộng lại chiếm 90%. Còn lại là do sự may mắn hay do cơ hội chính mình tự tạo nên. Những người tỵ nạn như tôi khi gặp khó khăn mà không biết cách giải quyết vấn đề và đương đầu với khó khăn một cách tích cực thì rất khó khăn. Làm sao để vượt qua và tìm phương hướng tùy thuộc vào bản thân mỗi người kèm theo các yếu tố tác động xung quanh từ gia đình.
Trà Mi: Nếu đặt tất cả những bí quyết thành công anh vừa kể vào môi trường ở Việt Nam, anh nghĩ đích đến của mình có giống ngày hôm nay không?
TS. Khánh: Chị hỏi một câu rất sát thực tế. Những tố chất về nỗ lực, ham học, sự giúp đỡ của những người xung quanh thì ở trong hay ngoài nước mình đều có được, nhưng môi trường nuôi nấng nghiên cứu và các chính sách hay những khuyến khích từ các cơ quan, hội đồng khoa học rất quan trọng. Có thể trong nước đang dần dần có môi trường này nhiều hơn so với những năm trước, nhưng những điều kiện đó không thể nào bằng được bên Mỹ này.
Trà Mi: Có nhiều con đường để thành công, vì sao anh chọn theo đuổi con đường khoa học đầy cam go đòi hỏi rất nhiều kỳ công và chất xám để tiến thân?
TS. Khánh: Lĩnh vực khoa học luôn năng động, thay đổi, biến động nên tôi muốn đóng góp một phần nào đó cho hướng đi này.
Trà Mi: Thành tựu hôm nay đạt được trên đất Mỹ có ý nghĩa thế nào đối với anh, một người tỵ nạn gốc Việt?
TS. Khánh: Tôi vẫn luôn tự hào mình là người Việt Nam và đề ra mục tiêu dài hạn là hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu sáng tạo do người Việt đứng đầu hoặc các chuyên gia người Việt ở đây.
Trà Mi: Vì sao mục tiêu đó chỉ mới giới hạn ở cộng đồng người Việt ở Mỹ? Anh có bao giờ nghĩ tới mình có thể làm gì để đóng góp, giúp đỡ nơi chôn nhau cắt rốn của mình chăng?
TS. Khánh: Câu hỏi này tương đối rất khó. Bất kỳ thể chế nào muốn thu hút nhân tài về giúp nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu đất nước trân trọng sự phát triển về khoa học, thúc đẩy và động viên tinh thần nghiên cứu khoa học thì ai cũng muốn về giúp đỡ cả. Hiện nay, tôi biết vài nhân tài người Việt bên này đang hợp tác với các cơ quan hữu trách ở Việt Nam để nâng cấp giáo dục đại học. Nhân tài người Việt ở nước ngoài đang dần dần trở về hợp tác và giúp đỡ phát triển kinh tế trong nước. Tôi nghĩ nếu môi trường và các điều kiện trong nước thích hợp với các nhân tài bên này và tạo điều kiện cho họ phát triển tài năng và lương bổng gần gần với bên này thì dần dần họ sẽ trở về thôi.
Trà Mi: Theo ý kiến của Tiến sĩ, học vấn cao và vị trí lãnh đạo có phải là thước đo chính xác về sự thành công của người trẻ hay không?
TS. Khánh: Tôi nghĩ học vấn vẫn là một công cụ nhiều tiềm năng. Về tinh thần lãnh đạo, đối với giới trẻ, nếu mình có vị trí cao trong một cơ quan hay tổ chức nào đó, mình nên truyền đạt tinh thần đóng góp tích cực và tinh thần tự nguyện. Tinh thần lãnh đạo và học vấn, hai điều này phải luôn đi đôi với nhau.
Trà Mi: Một lời khuyên cho các bạn trẻ ngưỡng mộ thành quả anh đạt được, anh sẽ nói gì?
TS. Khánh: Tôi muốn gửi đến các bạn trẻ một lời khuyên đơn giản thôi, đó là phải luôn luôn làm việc tích cực, ham học và hướng tới. Đây là những bí quyết đã giúp tôi thành công. Và mình cũng không nên quên nguồn gốc gia đình của mình và bản thân mình là ai.
Trà Mi: Xin cảm ơn Tiến sĩ Khánh rất nhiều về thời gian dành cho cuộc trao đổi hôm nay.