Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Có Một Người Vừa Ra Đi Đêm Nay….

GNA Hoài Niệm Về Nhạc Sĩ Trúc Phương – Thiên Tài và Nạn Nhân của Định Mệnh
(Liên Khúc Mưa Nửa Đêm – Tàu Đêm Năm Cũ – Nửa Đêm Ngoài Phố…
https://www.youtube.com/watch?v=3VuVcgzfY0Y)

Buồn vào hồn không tên
Tác Giả: Tưởng Năng Tiến – Việt Báo – 25 April 2015

Có lần, tôi nghe giáo sư Nguyễn Văn Lục phàn nàn: “Người cộng sản có một sự sắp xếp rất máy móc, đơn giản về con người và sự việc. Hoặc họ coi là bạn, hoặc là kẻ thù của họ. Miền Nam sau 1975 có chiến dịch đi ‘tìm thù’ và biến miền Nam thành mảnh đất hung bạo với những ngữ từ quen thuộc như: Quét sạch, đánh phá, truy lùng, tố cáo.”

Gần bốn mươi năm sau, sau cái chiến dịch “tìm thù” bắt đầu từ năm 1975, có bữa tôi đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc thì chuông điện thoại reo:
- Tiến hả?
- Dạ…
- Vũ Đức Nghiêm đây…
- Dạ…
- Anh buồn quá Tiến ơi, mình đi uống cà phê chút chơi được không?
- Dạ … cũng được!
Tôi nhận lời sau một lúc tần ngần nên tuy miệng nói “được” mà cái giọng (nghe) không được gì cho lắm. Tôi cũng thuộc loại người không biết làm gì cho hết đời mình nên thường rảnh nhưng không rảnh (tới) cỡ như nhiều người trông đợi. Sống ở Mỹ, chớ đâu phải Mỹ Tho mà muốn đi đâu thì đi, và muốn đi giờ nào cũng được – mấy cha?

Khi Mai Thảo và Hoàng Anh Tuấn còn trên dương thế, thỉnh thoảng, tôi cũng vẫn nghe hai ông thở ra (“anh buồn quá Tiến ơi”) y chang như thế. Chỉ có điều khác là ông nhà văn khi buồn thì thích đi uống rượu, ông thi sĩ lúc buồn lại đòi đi … ăn phở, còn bây giờ thì ông nhạc sĩ (lúc buồn) chỉ ưa nhâm nhi một tách cà phê nóng. Ai sao tui cũng chịu, miễn đến chỗ nào (cứ) có bia bọt chút đỉnh là được!

Vũ Đức Nghiêm sinh sau Mai Thảo và trước Hoàng Anh Tuấn. Ông chào đời vào năm 1930. Hơn 80 mùa xuân đã (vụt) trôi qua. Cả đống nước sông, nước suối – cùng với nước mưa và nước mắt – đã ào ạt (và xối xả) chảy qua cầu, hay trôi qua cống. Những dịp đi chơi với ông (e) sẽ cũng không còn nhiều lắm nữa. Tôi chợt nghĩ như thế khi cho xe nổ máy.

Quán cà phê vắng tanh. Nhạc mở nhỏ xíu nhưng tôi vẫn nghe ra giai điệu của một bài hát rất quen:

Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương…

- Hình như là nhạc Vũ Đức Nghiêm … Anh nghe xem có đúng không? Tôi đùa.
- Em nói nghe cái gì?
- Anh thử nghe nhạc coi…
- Nhạc của ai?
Tôi chợt nhớ ra là ông anh đã hơi nặng tai nên gọi cô bé chạy bàn:
- Cháu ơi, người ngồi trước mặt chúng ta là tác giả của bản nhạc Gọi Người Yêu Dấu mà mình đang nghe đó. Cháu mở máy lớn hơn chút xíu cho ổng … sướng nha!
Thấy người đối diện có vẻ bối rối vì cách nói vừa dài dòng, vừa hơi quá trịnh trọng của mình nên tôi cố thêm vào một câu tiếng Anh (vớt vát) nhưng ngó bộ cũng không có kết quả gì. Đúng lúc, chủ quán bước đến:
- Cháu nó mới từ Việt Nam sang, ông nói tiếng Mỹ nó không hiểu đâu. Ông cần gì ạ?
- Dạ không, không có gì đâu. Never mind!

Tôi trả lời cho qua chuyện vì chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Cùng lúc, bản nhạc của Vũ Đức Nghiêm cũng vừa chấm dứt. Tôi nhìn anh nhún vai. Vũ Đức Nghiêm đáp lại bằng một nụ cười hiền lành và … ngơ ngác!

Tự nhiên, tôi thấy gần và thương quá cái vẻ ngơ ngác (trông đến tội) của ông. Tôi cũng bị nhiều lúc ngơ ngác tương tự trong phần đời lưu lạc của mình. Bây giờ hẳn không còn ai, ở lứa tuổi hai mươi – dù trong hay ngoài nước – còn biết đến tiếng “Gọi Người Yêu Dấu” (“ngập ngừng tha thiết bồn chồn”) của Vũ Đức Nghiêm nữa. Thời gian, như một giòng sông hững hờ, đã vô tình bỏ lại những bờ bến cũ.

Vũ Đức Nghiêm, tựa như một cây cổ thụ hiếm hoi, vẫn còn đứng lại bơ vơ bên bờ trong khi bao nhiêu nhạc sĩ cùng thời đều đã ra người thiên cổ. Trúc Phương là một trong những người này.

Qua chương trình Bảy Mươi Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam, nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam đã cho biết nhiều chi tiết vô cùng thê thiết về cuộc đời của người viết nhạc (chả may) này.

Trang sổ tay hôm nay, chúng tôi xin được nắn nót ghi lại đây những nhận xét của Hoài Nam, và mong được xem như một nén hương lòng (muộn màng) gửi đến một người đã khuất:

“Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ gốc miền Nam được yêu mến nhất, từng được mệnh danh là ông vua của thể điệu Bolero tha thiết trữ tình. Ông tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, ra chào đời năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, tức Vĩnh Bình – một xứ Chùa Tháp thu nhỏ ở vùng hạ lưu sông Cửu Long…”

“Nhạc của Trúc Phương thường buồn, rất buồn. Trong số những ca khúc của ông, hình như, chỉ có hai bản vui. Đó là: Tình Thắm Duyên Quê và Chiều Làng Em. Riêng bản Chiều Làng Em nói rằng vui là so sánh với những sáng tác khác của ông. Chứ Thực ra, bản nhạc này tuy có nội dung êm đềm trong sáng nhưng giai điệu của nó cũng man mác buồn. Không hiểu vì cuộc đời của Trúc Phương vốn nhiều chuyện buồn và đã được ông gửi gấm vào dòng nhạc hay vì ông thích sáng tác nhạc buồn nên riết rồi nó ám vào người, chỉ biết những sáng tác phổ biến nhất, nổi tiếng nhất của ông đều là những ca khúc buồn: Chiều Cuối Tuần, Nửa Đêm Ngoài Phố, Tầu Đêm Năm Cũ, Bóng Nhỏ Đường Chiều…”

Tháng Tư năm 1975, Trúc Phương bị kẹt lại. Năm 1979, ông vượt biên nhưng bị bắt và bị tù. Sau khi được thả, cuộc sống của ông trở nên vô cùng thê thảm về thể xác vật chất cũng như tinh thần. Trong một đoạn video phỏng vấn ông, được Trung Tâm Asia phổ biến tại hải ngoại, Trúc Phương cho biết:
.
“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rày đây mai đó, ‘bèo dạt hoa trôi’…Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no… Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được… đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám chứa tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả. Tôi nghĩ ra được một cách… là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ…

Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta… thế là mình lấy 1 đồng về…. như là tiền thế chân… Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng… Mà nói anh thương… khổ lắm…. Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi , tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải nằm thôi.Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát… mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn … Tôi nghĩ mà thôi, còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”

Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư) nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài sau này (tiếc thay) không bao giờ đến – vẫn theo như lời của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:

“Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao giờ thức dậy nữa. Ông đã vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân. Thế nhưng xét về mặt tinh thần Trúc Phương đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá.”

“Chúng ta ở đây là những người yêu nhạc, trong nước cũng như hải ngoại, bên này cũng như bên kia chiến tuyến. Bởi vì hơn ba mươi ca khúc nổi tiếng của ông cho dù có một hai bài có nhắc đến chữ ‘cộng hoà’ vẫn phải được xem là những tình khúc viết cho những con người không phải cho một chế độ chính trị nào. Những con người sinh ra và lớn lên trong một cuộc chiến không lối thoát với niềm khắc khoải chờ mong một ngày thanh bình. Cuối cùng thanh bình đã tới nhưng không phải là thứ thanh bình mà những ‘con tim chân chính’ trong nhạc của Lê Minh Bằng hằng mơ ước mà là thứ thanh bình của giai cấp thống trị, của một thiểu số may mắn nào đó. Chính cái thanh bình ấy đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng trong đó có người Việt Nam xấu số đáng thương tên Nguyễn Thiện Lộc, tức nhạc sĩ Trúc Phương nổi tiếng của chúng ta.”

Thôi thì cũng xong một kiếp người! Và dòng đời, tất nhiên, vẫn cứ lạnh lùng và mải miết trôi. Sáng nay, tôi lại chợt nhớ đến Trúc Phương sau khi tình cờ đọc được một mẩu tin ngăn ngắn – trên báo Pháp Luật số ra ngày 1 tháng 2 năm 2012:

“Ngày 31-1, một số cán bộ hưu trí, người dân ở phường Bình Hưng Hòa B (quận Bình Tân, TP.HCM) bức xúc phản ánh cuộc họp mặt đầu năm do phường tổ chức … Ngay phần khai mạc lúc gần 9 giờ sáng, trên nền nhạc hip hop, hai phụ nữ ăn mặc hở hang, thiếu vải lên nhún nhảy, múa những động tác khêu gợi. Hai thanh niên múa phụ họa. Quan sát đoạn video chúng tôi thấy nhiều cán bộ hào hứng xem tiết mục ‘lạ mắt’ này. Có cán bộ còn dùng điện thoại quay lại cảnh hai cô gái biểu diễn, ưỡn người và ngực về phía khán giả. Nhiều người tham gia rất hào hứng, chỉ trỏ, thì thầm vào tai nhau…

“Chúng tôi tiếp tục liên lạc với bà Nguyễn Thị Bích Tuyền, Phó Chủ tịch phường kiêm Chủ tịch Công đoàn phường … bà Tuyền lý giải: ‘Tiết mục múa chỉ diễn ra gần 3 phút và đây là vũ điệu theo phong cách Hawaii nên hơi lạ…”

Nếu ngay sau khi chiếm được miền Nam mà quí vị cán bộ cộng sản cũng có được cách “lý giải” tương tự thì thì Mai Thảo, Hoàng Anh Tuấn … đã không phải bỏ thân nơi đất lạ. Vũ Đức Nghiêm cũng đã tránh được những giây phút bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng ở xứ người. Và Trúc Phương thì chắc chắn vẫn sẽ còn ở lại với chúng ta, vẫn có những đêm khắc khoải buồn vào hồn không tên, thay vì nằm chết cong queo trong đói lạnh – trên một manh chiếu rách– với tài sản duy nhất còn lại chỉ là một đôi dép nhựa.

Mọi cuộc cách mạng luôn luôn có cái giá riêng của nó. Riêng cái thứ cách mạng (thổ tả) của những người cộng sản thì đòi hỏi mọi người đều phải trả cái giá (hơi) quá mắc mà thành quả – xem ra – không có gì, ngoài tộc ác! (tnt)

Anh hùng trổ nóc

Nguồn : Vững Đại Phát 
Anh hùng trổ nóc
Tác Giả: Nguyễn Xuân Nghĩa – Người Việt – 27 April 2015
John le Carré là nhà văn khét tiếng về truyện gián điệp sau khi phục vụ ngành tình báo của Anh. Sau năm 1963, cuốn “The Spy Who Came in from the Cold” đưa ông lên đài danh vọng và ông rời cơ quan MI6 để thành nhà văn toàn thời.
Sau đấy, bộ truyện về mấy chục năm đấu trí giữa trùm tình báo George Smiley của Anh với đối thủ là Karla của Liên Bang Xô Viết là pho sách ba cuốn ly kỳ cho người thích đọc truyện gián điệp theo lối nghiêm và buồn, chứ không để giải trí như với điệp viên James Bond của Ian Fleming.
Nhưng vì sao trong một bài bình luận vào dịp 30 Tháng Tư, người viết lại nhớ tới John le Carré?
Vì trong pho truyện ba cuốn, về sau in thành một tập gần ngàn trang, tác giả có nhắc đến biến cố này ở cuốn thứ nhì, The Honourable School Boy, xuất bản năm 1977. Một nhân vật trong truyện dí dỏm so sánh việc Mỹ tháo chạy khỏi Việt Nam như một thanh niên trổ nóc khỏi ổ điếm khi cảnh sát truy lùng!
Như nhiều trí thức uyên bác của Anh, John le Carré không đánh giá cao đệ nhất siêu cường. Quá trẻ trung và hung hăng. Người viết này thấy thú vị nên nhớ mãi ẩn dụ trổ nóc. Không phải là người dân Việt khốn khổ trên mấy bậc thang cuối của sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ mà là một thanh niên bảnh bao như cậu ấm John Kennedy…
***
Người ta có nhiều cách lý giải sự thất bại của nước Mỹ tại Việt Nam.
Trước hết, Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam, chứ không nên luận giải rằng thua me gỡ bài cào, Hoa Kỳ có mưu lớn cho một mục tiêu trường kỳ. Nói vậy thì vẫn chưa khỏi bệnh phục Mỹ.
Theo định nghĩa của Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ tham dự cuộc chiến Việt Nam từ Mùng Một tháng 11 năm 1955 cho tới khi mọi chuyện ngã ngũ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, dù các đơn vị tác chiến Mỹ đã ra khỏi Việt Nam từ năm 1973, sau Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1 năm đó. Từ 1955 đến 1964, Hoa Kỳ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa về kinh tế lẫn quân sự là ba tỷ 300 triệu đô la. Từ 1965 đến 1975 là 22 tỷ. Tổng cộng là hơn 25 tỷ đô la trong hai chục năm. Và Hoa Kỳ mất hơn 58 ngàn thanh niên trai tráng.
Kết quả là miền Nam rơi vào chế độ cộng sản và đến nay, 40 năm sau, vẫn chưa có tự do. Kết quả là từ 1975, mỗi khi Mỹ can thiệp về quân sự ở bất kỳ nơi nào, thiên hạ lại cảnh báo “coi chừng lại là một Việt Nam nữa.” Kết quả là nhiều quốc gia không còn tin vào nước Mỹ và nhiều đối thủ thì hết sợ, từ Iran năm 1979 đến khủng bố al-Qaeda sau này.
Sau những hứa hẹn, cam kết và tổn thất mọi mặt mà đạt kết quả ấy thì đấy là định nghĩa của thất bại. Vì sao lại như vậy?
***
Vì nhiều lý do lắm. Nhìn từ bên ngoài thì đây là vài lý do đáng ngẫm…
Từ khi quan tâm đến Đông Nam Á vào tàn cuộc của Thế Chiến II, Hoa Kỳ có nhiều mục tiêu dời đổi với Đông Dương và Việt Nam, một vùng đất mà lãnh đạo Mỹ chửa biết là gì. Mỗi khi họ đổi mục tiêu lại áp dụng chiến lược và chánh sách khác, thường thì đơn phương, chẳng báo trước. Từ các tổng thống Roosevelt tới Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson rồi Nixon, Hoa Kỳ có ít ra năm lần thay đổi về chánh sách, khi thì giải thực, khi thì lập tiền đồn be bờ Cộng Sản tại Đông Nam Á, khi thì xây dựng dân chủ, lúc lại kết ước với Trung Quốc, v.v…
Khi nhập cuộc, Hoa Kỳ tự chuẩn bị cho cuộc chiến quy ước cũ, chiến tranh Cao Ly 1950-1953, mà không ý thức được hình thái chiến tranh toàn diện, kết hợp khủng bố với tuyên truyền, khuynh đảo, phá hoại, nổi dậy và sau cùng là trận địa chiến. Hoa Kỳ “Mỹ hóa” cuộc chiến Nam, tổ chức lại quân lực Việt Nam cho hình thái chiến tranh không thích hợp với thực tế của một chiến trường muôn mặt. Vào trận rồi, 12 năm sau là 1962 Hoa Kỳ mới có chiến lược và tổ chức cho cuộc chiến kết hợp quân sự với chính trị. Và 10 năm sau lại “Việt hóa” cuộc chiến, cho tới ngày trổ nóc.
Một lý do thất trận đầu tiên của Mỹ là… quân sự.
Hoa Kỳ tốn kém rất nhiều để be bờ ngăn chặn và ào ạt oanh tạc miền Bắc mà không hiệu quả, cho đến khi biết sử dụng “bom khôn,” từ tháng 4 năm 1972. Đấy là bước ngoặt có thể dẫn tới đại thắng. Nhưng khi ấy, dân Mỹ đã nản chí và lãnh đạo phất cờ cho mục tiêu khác.
Lý do thất trận thứ hai là chính trị.
Khế dễ hiểu. Sơ đẳng là Hoa Kỳ đặt ra tiêu chuẩn khác biệt cho hai miền Nam Bắc.
Lần đầu tiên mới có độc lập trên phân nửa lãnh thổ sau 80 năm thực dân và 10 năm chinh chiến, miền Nam phải có dân chủ! Đấy là một nguyên tắc mà Hoa Kỳ mất gần 200 năm mới tạm hoàn thành, từ 1789 đến 1965. Sự phán xét thiên lệch của truyền thông nông cạn tác động ngược vào dư luận và Quốc Hội khiến Mỹ không thể kéo dài cuộc chiến. Trong khi đó, miền Bắc được chấm một lần, rồi thôi, là cộng sản độc tài, cho nên những chuyện phi nhân nhất cũng vẫn là hợp lý, chẳng đáng nói.
Ngày nay, nhận thức thiên lệch đến bất công ấy vẫn chưa dứt.
Lý do thất trận thứ ba là kinh tế.
Hơi lạ từ một siêu cường kinh tế!
Sau khi tổ chức lại quân đội của miền Nam theo nhận thức nông nổi của mình, Hoa Kỳ tổ chức lại nền kinh tế qua hai kế hoạch viện trợ. Chương trình viện trợ thương mại CIP (Commercial hay Commodity Import Program) là một áp dụng của kế hoạch Marshall để tái thiết Âu Châu sau Thế Chiến II. Khi ấy, Âu Châu là các nước đã công nghiệp hóa, không bị chiến tranh toàn diện như miền Nam bất ổn và chưa phát triển. Đem kế hoạch viện trợ ấy cho Việt Nam dẫn tới hậu quả trái ngược với mục tiêu.
Quốc gia cầu viện là Việt Nam phải tiêu thụ nhiều thì mới có tiền cho ngân sách quốc gia. Trong thời chiến, chỉ có thành thị và vài vùng ổn định mới có khả năng tiêu thụ ấy, khiến xã hội vỡ đôi, với thành phố phồn thịnh và nông thôn rách nát. Việc lính Mỹ gia nhập ồ ạt và viện trợ dồi dào còn dẫn đến nạn buôn lậu đồ PX và tham nhũng từ các tổ chức cấp viện của Mỹ ra tới bên ngoài. Ống kính truyền thông chụp lấy, phóng về cho Quốc hội mù lòa một hình ảnh lệch lạc của miền Nam.
Chương trình kia, PL 480 hay Nông Phẩm Phụng Sự Hòa Bình, là một sự phi lý khác.
Hoa Kỳ kết hợp mục tiêu bảo vệ nông gia ở nhà với mục tiêu an ninh chiến lược ở ngoài: Mua nông sản như ngô bắp thóc gạo hay bông vải của họ để viện trợ các nước đồng minh. Quốc gia cầu viện dùng tiền đó tài trợ ngân sách quốc phòng. Nhưng theo luật Mỹ, nền kinh tế không được chế biến các sản phẩm viện trợ để cạnh tranh với doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam hay bất kỳ nơi nào khác.
Chưa nói đến yếu tố an ninh, cái khung viện trợ ấy cản trở sự hình thành của kỹ nghệ nội địa. Giải pháp tạm bợ đành là “thay thế nhập cảng,” một thời được coi là chân lý kinh tế.
Nam Hàn và Đài Loan ý thức được nhược điểm của viện trợ Mỹ nên tìm cách giải thoát và thoát được vì họ không bị chiến tranh khuynh đảo ngay trong lãnh thổ. Việt Nam thì không. Khi Mỹ cố tình cúp viện trợ thì phải sụp đổ. Lại còn bị Quốc Hội Mỹ nhục mạ với sự phụ họa của báo chí.
Ngày chín tháng 4 năm 1974, Tổng Thống Richard Nixon từ chức để khỏi bị bãi chức vì vụ Watergate. Một quyết định sau cùng của ông là ký đạo luật viện trợ quân sự cho miền Mam một tỷ đô la cho 11 tháng sắp tới. Ngay sau khi ông từ chức, Hạ Viện cắt luôn thành 700 triệu, rồi 500 triệu. Miền Nam được trao trọn gói cho miền Bắc. “Cho thỏa lòng mơ bạn Bắc Kinh.”
Kết luận?
Khi chàng trai trổ nóc, nàng Kiều dại có khóc cũng thừa

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

Trận Mưa Trái Mùa

Nguồn : Vững Đại Phát
Alan Phan
6 Sep 2014
Chiều nay, một cơn mưa lớn chợt đổ xuống Saigon. Mưa xối xả, trời đen nghịt như không còn thấy ngày mai. Tôi định bay đi Bangkok, nhưng nghĩ chắc sẽ có màn đợi chờ bất tận ở phi trường nên phải kêu hủy và đổi lại chuyến sáng hôm sau.
Đứng trên tầng 18 của một chung cư, nhìn cảnh đoàn xe máy và biển người dưới kia đang bì bõm lội nước, tôi thấy bâng khuâng …vì kiên nhẫn của tha nhân và vì cái may mắn của mình. Một mặt, tôi thản nhiên lạnh lùng đến vô cảm, mặt khác tôi hay quay đi che dấu những mặc cảm tội lỗi…dù không biết mình đã làm gì mà guilty?
Guilty chỉ vì đang làm một người bình thường không thể thành siêu nhân như vài mong muốn của người khác? Guilty vì vô cớ tạo ra những xúc cảm nhất thời, phi lý chỉ để xáo trộn bình an nội tại?
Rồi bài Tristesse của Chopin lại tình cờ thánh thót trong playlist. Cốc trà xanh trong tay tôi chỉ chực muốn vỡ tan để rơi theo những giọt mưa tràn ngập ngoài kia. Rơi theo dòng nước vô tình, theo dòng đời quằn quại của những ngày xưa đã vỡ vụn.
&&&&&
Thực ra, tôi gặp My trong một ngày nắng ấm. Bầu trời xanh rực rỡ của ngày xuân, nhưng thật nóng. Cũng như Saigon 1975. Tết đã xong, mọi người quay về với công việc nhưng khá lo lắng về những tin chiến sự từ Cao Nguyên, nhất là những giao tranh quanh Pleiku. Hai chị em My vừa sắp xong bữa trưa ở Thiên Nam, ngôi nhà hàng Pháp hơi xập xệ đường Công Lý gần Chợ Cũ, nhưng chủ bếp thật tuyệt với những món nghề của mình.
Em My, Mai là nhân viên cũ của tôi trước khi chạy qua Esso vì “tiền bạc”, tôi vẫn đùa. Mai thô kệch, hơi mập, nhưng là một nhân viên tôi rất thích vì hiệu năng cao và tính độc lập. Nàng giới thiệu chị nàng, ca sĩ TL, và dù chưa gặp, tôi có nghe qua tiếng tăm. Vào đầu 70’s, Saigon rộn rập với những ca sĩ diễn viên mới được “lăng xê” cùng khắp, như hiện nay. TL nổi danh không vì giọng ca mà vì một chuyện tình gay cấn với một ông tướng trẻ đang đóng dưới Quân Đoàn 4. Dĩ nhiên, liên quan đến vài chuyện đánh ghen và những hầm bà nhằng khác của các cuộc tình tay ba, tay bốn. Tôi chỉ gặp ông tướng có 2 lần trước đây và cũng không theo dõi chuyện đàm tiếu sau hậu trường của thiên hạ.
TL không đẹp, nhưng có thân hình quyến rũ mà thanh nhã. Mái tóc mơ màng trên đôi vai hơi gầy, mắt to và buồn, dù mang vẻ tự tin nhưng cũng cho thấy những sợ sệt, phòng thủ. Tôi đùa với Mai vài câu rồi chia tay. Không suy nghĩ gì thêm về buổi gặp.
Sau đó, tôi quay lại với những bận rộn của tháng ngày đang tệ hại trên đất nước, nhất là khi Ban Mê Thuột thất thủ. Chuyện gia đình, chuyện tài sản, chuyện làm ăn, chuyện nhân viên, chuyện cứu trợ chiến tranh, chuyện dự đoán tương lai, các giải pháp ngắn trước mặt… cho thân nhân, bạn bè…
Cho đến khi Mai dẫn TL đến xin gặp tôi tại văn phòng đường Tự Do. TL nói dù gia đình là Bắc di cư, đạo Công giáo, từ Hố Nai…nhưng lý do nàng muốn tìm cách ra khỏi nước, không phải vì sợ mà nàng đã chán Việt Nam đến tận óc. Nàng nói trình độ Anh ngữ của nàng khá tốt, dù chỉ mới tốt nghiệp trường Nông Lâm Súc. Nàng lại tháo vát và năng động, kiểu Hà Nội, nàng khoe. Tôi ậm ừ cho qua chuyện. Nhưng tối đó, ông tướng trẻ gọi phone. Ông nói,”anh quen biết nhiều người Mỹ, anh lo cho TL dùm tôi. Dù có gia đình, không thể sống chung với TL nhưng tôi yêu nàng vô cùng. Anh cứu được TL là anh cứu tôi. Ơn nơi anh đó”.
Huế rồi Đà nẵng lần lượt mất. Tình thế vỡ trận càng ngày càng đến gần, Nhưng cũng may, tôi lo được cho vợ con lên một chuyến máy bay di tản của hải quân Mỹ, nên cũng tạm yên. Bây giờ chỉ còn nhà máy, nhân viên và sự yêu cầu thường xuyên của các tổ chức từ thiện cũng như của các bạn Mỹ cần người giúp một tay trong việc tổ chức di tản. Mai và TL kêu điện thoại xin gặp mỗi ngày. Mai thì đã có Esso lo tổ chức tháo tán, còn TL thì rất cần tôi giúp đỡ, họ cầu cứu.
Cuối cùng, tôi nghĩ ra một giải pháp cũng tạm ổn. Peter là một đại úy quân lực Mỹ tôi quen cả năm nay qua câu lạc bộ USO gần Tân Sân Nhất. Câu lạc bộ có tổ chức một nhóm gọi là “Sunday Boys”, khoảng 50 người, phần lớn là sĩ quan và công chức dân sự của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Chỉ có mình tôi là Việt và 1 anh sĩ quan Mỹ khác gốc Tàu. Mỗi chiều Chúa Nhật chúng tôi tụ tập uống bia, nói chuyện khào và coi các trận bóng football và baseball truyền qua TV của quân đội Mỹ. Peter tốt nghiệp West Point, mẫu người nghiêm túc, làm cho DAO (cơ quan hành chánh và tiếp liệu của US Armed Forces in Vietnam). Gia đình từ Kansas hay Oklahoma gì đó, ngoan đạo, chưa vợ và không như các bạn trẻ khác, thích đọc sách, mê tìm tòi về các vấn đề chính trị, xã hội…thay vì xuống các khu bán bar trong giờ nghỉ ngơi.
Tôi phone Peter giới thiệu TL vào làm cho DAO. Thường thì thủ tục an ninh lâu lắc nhưng Peter nhận lời ngay vì DAO đang cần thêm nhân viên tin cậy phụ giúp trong việc tiêu hủy các hồ sơ trước khi di tản. Hắn đồng ý trả gấp ba lương, vì công việc chắc cũng kết thúc trong vài tuần. Tôi nói với TL là em làm trong đó may ra kết nối được vào đường giây “di tản” và lợi dụng mọi cơ hội em tìm được. Trong thâm tâm, tôi nghĩ khi Peter gặp TL, hắn sẽ mê ngay, vì vẻ đẹp quyến rũ Đông Phương và vì sự thông minh cùng học thức của nàng. Nếu Peter giúp, chắc chắn TL sẽ có chỗ trên những chuyến bay hàng ngày của DAO ra khỏi Việt Nam.
Tinh-Yeu-Trong-Mua-10-300x181
&&&&&
Tôi hẹn TL vào chiều hôm 20/4 gì đó. Tôi ghé đầu hẽm của đường Yên Đỗ sau bữa ăn trưa; đợi để đưa nàng đến DAO Tân Sân Nhất. Một trận mưa trái mùa, như hôm nay, chợt đổ xuống Saigon như thác nước. Không có điện thoại di động như ngày nay, và hẽm nhỏ xe hơi vào không được, tôi chỉ biết ngồi trên xe chờ. Nhưng đúng giờ, nàng đội mưa chạy ra, hẽm sâu nên áo quần ướt đẫm. Tôi nghĩ đây không phải là thời trang để đi xin việc, nên nói tài xế chạy quanh thành phố, hy vọng chiếc máy lạnh trong xe sẽ làm khô bớt áo quần.
Rồi tôi nhìn lại TL. Chiếc áo dài mầu trắng mỏng, ướt nước cho thấy một thân hình rạo rực căng phồng theo từng nhịp thở. Mái tóc rối tự nhiên tạo một khuôn mặt mới thời sơ khai. Vẻ đẹp thần thoại của một vệ nữ bên bờ suối, cộng hưởng với mùi nước hoa lài, làm da thịt tôi cũng muốn vỡ tung theo ham muốn. Nàng nhìn tôi âu yếm, đôi môi đợi chờ. Không biết chúng tôi đã hôn nhau bao lâu, bao lần…nhưng mỗi khi buông ra để kịp thở, trận mưa ngoài kia và trong này đã xóa mờ mọi ký ức.
Tôi nói tài xế ngừng ở một quán vỉa hè, bỏ ông ta xuống, rồi tôi tự lái xe vào khu rừng cao su phía sau nhà máy nước Thủ Đức. Tôi chạy tuốt vào phía trong, thật sâu, thật xa…đậu xe dưới hai tàn cây lớn và quên đi mọi thứ. Quên suy nghĩ về cơn mưa xối xả vẫn nặng hột trắng xóa khu rừng, quên cả lo lắng về hiểm nguy rình rập chung quanh (ngày đó thường không sợ ăn cướp mà chỉ sợ các nhóm Việt Cộng lẻ tẻ). Quên cả tình hình quân sự chính trị xã hội, quên cả anh hùng và nạn nhân, quên cả cuộc đời sau lưng và toan tính trước mặt. Gần tối chúng tôi mới buông nhau ra và tìm đường ra khỏi khu rừng, quay lại tìm ông tài xế và Saigon. Cơn mưa đã tạnh.
“Tên thật của em là Hoài My, đừng gọi em bằng TL. Em muốn bắt đầu sống thật với mình”. Đêm đó. tôi và My ôm nhau ngủ trong căn phòng riêng của tôi ở khách sạn Continental. Và cả tuần sau đó. Chúng tôi cứ khất chuyện gặp Peter vì cả trăm lý do không rõ ràng. Và tôi cũng chẳng suy nghĩ ra được “giải pháp” khác nào cho My. Cả hai đứa cùng chặc lưỡi,” đến đâu hay đó”. Đâu và đó lại rất mù mờ. Nhưng chúng tôi sẽ có nhau trong những tháng ngày hỗn loạn oi bức. Và chúng tôi đã tìm ra một thanh bình nội tại cho tâm hồn, a separate peace kiểu Hemingway, dù tôi vẫn lăng xăng suốt ngày lo “chữa những đám cháy” chung quanh.
Một tuần sau, ngày 27/4, tôi “dọn” hẳn vào Tòa Đại Sứ Mỹ vì các bạn trong đó cần người phụ toàn thời gian. Tôi dặn ông tài xế, bất cứ biến cố gì xẩy ra, ông chạy đến nhà cô My và chở cô vào Tòa Đại Sứ. Tôi nói với My anh sẽ lo mọi chuyện về giấy tờ. Cũng ổn thôi.
&&&&&
Ngày 30/4, khi không còn gì để chờ đợi, trực thăng đưa tôi ra hạm đội Mỹ ngoài khơi. Trước đó, tôi không thể ra khỏi cổng của Tòa Đại Sứ để tìm My vì đám đông dân xin di tản đang vây quanh trong tuyệt vọng và bắt đầu bạo động. Tôi guilty nghĩ về My, bâng quơ nhìn bóng tối mịt mùng quanh boong tàu và cầu xin một cơn mưa thật lớn xóa nhòa đi cơn ác mộng.
Giữa tháng 5, khi đã định cư ở California, tôi liên hệ với Esso và gọi được Mai đang tị nạn tại Singapore và đang được Esso bảo trợ giấy tờ qua Mỹ. Mai cho biết cả 2 ngày 29 và 30/4, ông tài xế có đưa chị My đến gần Tòa Đại Sứ, nhưng không cách gì lọt qua biển người đang vây quanh. Chị đành về và khóc sướt mướt cả vài tuần sau đó. Tôi thấy lạnh buốt tận đáy lòng, dù California đang chuẩn bị vào hè. Mùa đông của My thì mới bắt đầu.
Vài tháng sau, Mai viết thư báo một tin vui. My vừa lấy “chồng”. Ông xã (?) cũng là một sĩ quan cấp tướng, bên thắng cuộc, làm chức vụ cao ở miền Nam. Nàng đã dọn vào ở một biệt thự ông tướng mới chiếm được trên đường Tú Xương, người hầu kẻ hạ, xe hơi tài xế…tóm lại, một cuộc sống triệu lần “ngon” hơn thời trước 1975. Lòng tôi ấm lại. Tôi biết My sẽ đủ khôn khéo để vượt qua mọi trở ngại và nàng xứng đáng với cuộc đời nhung lụa mới. Tôi không còn bị ám ảnh bởi cảm giác guilty. Cơn mưa lớn ngày xưa đã hoàn toàn tạnh ráo.
&&&&&
Thơi gian lại tiếp tục trôi. Tôi loay hoay với cơm áo gạo tiền cho vợ con, thao thức với tham vọng ngất trời của tuổi trẻ và sự đam mê kinh doanh thường trực. California lại ít mưa. Câu chuyện về My chỉ còn là một âm vang rất nhỏ trong tiềm thức.
Tôi cũng không liên hệ gì nhiều với Mai, dù nàng định cư sau đó ở Texas. Cho đến cuối 1979, Mai lại thư cho tôi về My. Nàng không nói lý do, và tôi không hỏi; nhưng My đã ly dị với ông tướng và đã vượt biên trên một con tàu đánh cá phát xuất từ Hà Tiên. Gia đình đang lo lắng vì cả 2 tháng sau khi vượt biên, không ai nhận được tin tức gì từ nàng hay từ những người cùng đi trên tàu.
Lòng tôi lại chùng xuống vì guilty và bất lực. Tôi tiếp tục hỏi thăm Mai cũng như những thuyền nhân vừa đến các trại tỵ nạn bên Mã Lai, Indonesia…Không ai biết gì, cả năm sau đó.
Một lần đi trên một du thuyền từ Kota Kinabalu về Singapore, tôi mua một bó hoa thật lớn, rồi thả từng cánh dọc theo sóng nước trên eo biển mà tôi nghĩ là ngôi mộ lớn của My. Có lẽ nàng cũng biết. Tôi vừa thả xong nhánh hoa chót, thì trời chợt mưa tầm tã. Cơn mưa ngày nào trên vườn cao su, cơn mưa ngày nào trên số phận đất nước, cơn mưa ngày nào trên nỗi đau của từng con người.
Guilty as charged.
Alan Phan

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Chuyện Dài “Sở Hữu Toàn Dân”

Nguồn : Vững Đại Phát
Cái gốc của vấn nạn dân oan
Tác Giả: Kami - Blog RFA – 20 April 2015
Ngày 14/04/2015 tại Thạnh Hoá (Long An), gia đình ông Nguyễn Trung Can và bà Mai Thị Thu Hương do không đồng ý giao đất để tiến hành công trình bờ kè thị trấn Thạnh Hóa cho chính quyền, khi đoàn cưỡng chế tiến hành thực hiện thì đã có một số người trong gia đình đã chống đối, cho nổ bình hơi hàn và tạt axit đậm đặc làm nhiều công an trọng thương.
Nguyên nhân dẫn tới việc người dân dùng bạo lực để chống lại đoàn cưỡng chế cũng vì gia đình họ không được chính quyền đền bù khu đất vốn của họ đang định cư bị giải tỏa một cách thỏa đáng và công bằng. Theo gia đình nạn nhân cho biết, chính quyền chỉ đền bù 300 ngàn đồng/1m2, trong khi đó bán cho họ đất định cư ở ngay bên cạnh với giá 25 triệu đồng/1m2 tức là cao gấp gần 80 lần giá đền bù. Và cuối cùng một bi kịch đã xảy ra đối với cả những nhân viên nhà nước tham gia cưỡng chế, với hàng chục người bị thương do bị bỏng axit và 07 thành viên gia đình ông Nguyễn Trung Can và bà Mai Thị Thu Hương đã bị bắt giữ và sẽ bị truy tố
Sự việc này làm người ta liên tưởng tới các vụ án Đoàn Văn Vương ở Hải phòng, người đã dùng vũ khí tự tạo và bình gaz để chống trả lực lượng cưỡng chế từng làm rúng động dư luận cách đây mấy năm. Hay trường hợp của ông Đặng Ngọc Viết, một người dân oan ở Thái Bình, trong lúc tuyệt vọng đã cầm súng đến trụ sở cơ quan quản lý đất đai nã súng vào 5 cán bộ rồi tự sát v.v…. Điều đó cho thấy vấn đề những người dân bị mất đất, mất nhà, mất nơi làm ăn sinh sống… và bị dồn vào đường cùng và cuối cùng họ đã buộc phải lựa chọn sử dụng vũ khí để đáp trả nhân viên nhà nước tham gia cưỡng chế đất đai của gia đình họ trong tâm trạng tuyệt vọng đang là một vấn đề nổi cộm trong xã hội cần phải được các cấp, các ngành xem xét và tìm ra các giải pháp nhằm giải quyết triệt để.
Trước hết cần phải thừa nhận, vấn đề dân oan là sản phẩm đặc thù của xã hội Việt Nam, đây là một vấn nạn nhức nhối và dai dẳng của xã hội Việt Nam trong suốt gần 30 năm đổi mới và cho đến hôm nay vẫn chưa thấy lối thoát. Vấn nạn này xuất hiện kể từ khi nhà nước tiến hành việc đổi mới kinh tế, để chuyển nền kinh tế từ hình thái kế hoạch hóa kiểu XHCN theo mô hình cộng sản, sang nền kinh tế thị trường xuất hiện từ năm 1986. Kể từ đó, khi một bộ phận cán bộ nhà nước có thẩm quyền ở các cấp đã cấu kết với các thương nhân, núp dưới danh nghĩa đầu tư các công trình phát triển kinh tế – xã hội để thu hồi và sử dụng một số lượng đất đai rất lớn của nhà nước vào mục đích kinh doanh của mình. Thông qua việc chạy chọt các thủ tục và các hợp đồng ăn chia giữa các cán bộ có thẩm quyền, đất do nhà nước được cấp cho tư nhân với giá đền bù rẻ như cho, kể cả đối với đất đai của người dân đang canh tác hoặc sử dụng thì bị thu hồi và đền bù cho chủ đất với giá rẻ như bèo, cụ thể là đền bù cho chủ đất một phần rồi phân lô bán nền với giá cao hơn gấp cả trăm lần.
Hậu quả của việc thu hồi đất này đã đẩy vô số những người dân hiền lành ra đường để nhập vào đội ngũ dân oan khiếu kiện, vì trong tay họ lúc đó chỉ có một chút tiền đền bù do nhà nước chi trả, trong lúc mọi tư liệu sản xuất để duy trì cuộc sống của họ đã không còn. Trong trường hợp người dân không đồng tình vì giá cả đền bù quá rẻ mạt, họ không có cơ hội để kiếm sống thì chính quyền lấy danh nghĩa các công trình quan trọng của nhà nước để dùng lực lượng công an, thậm chí kể cả quân đội dùng bạo lực để tham gia cưỡng chế. Như ở khu đô thị Ecopark – Hưng yên hay Giáo xứ Cồn Dầu - Đà nẵng là những dẫn chứng điển hình. Và đối với những người không chấp nhận sự bất công đã cầm vũ khí đứng lên chống trả lực lượng cưỡng chế thì oan nghiệt lại ập lên gia đình họ. Lúc đó họ không chỉ mất nhà mất đất, mà bản thân họ và những người trong gia đình sẽ rơi vào vòng lao lý, tù tội.
Đây cũng là lý do giải thích vì sao hầu hết các đại gia ở Việt Nam hiện nay đều giàu và phất lên từ kinh doanh đất đai và bất động sản. Điểm mặt các doanh nghiệp tầm cỡ ở Việt Nam bây giờ, sẽ thấy các doanh nghiệp này hầu hết liên quan rất ít đến các ngành công nghiệp, dịch vụ, mà chủ yếu liên quan đến đất đai. Sự giàu lên một cách chóng mặt của các đại gia chủ yếu là nhờ vào xin cấp đất của nhà nước để kinh doanh bất động sản. Nguyên nhân sâu xa và là cái gốc của vấn đề dân oan cũng bởi chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới tình trạng một số ít người giàu lên nhanh chóng nhờ đất và trong khi đó thì có hàng nghìn, hàng vạn người đã bị đẩy ra đường để trở thành những người dân oan.
Vấn đề là ở chỗ, nếu mỗi người dân Việt Nam đều có quyền sở hữu chính danh trên mảnh đất của mình – sở hữu cá nhân, thì lúc đó nhà nước sẽ không thể áp dụng thủ tục thu hồi đất đai hay tổ chức cưỡng chế để thu hồi, mà phải tiến hành thủ tục trưng mua đối với chủ sở hữu. Song với thủ tục trưng mua, sẽ mang lại sự công bằng hơn cho người dân mất đất, nhưng lúc ấy sẽ khó khăn hơn cho người muốn có đất là các đại gia. Đây là lý do vì sao ở các quốc gia khác trên thế giới chúng ta không thấy hiện tượng có một lực lượng đông đảo những người dân bị mất đất, mất nhà, mất cửa… bị đẩy ra đường và tập trung khiếu nại trên đường phố các thành phố lớn như ở Việt Nam.
Điều bất hợp lý của chế độ sở hữu toàn dân mà ai cũng thấy là, người dân vinh hạnh được nhà nước coi là chủ nhân của đất đai, tài nguyên và vùng trời…, song trên thực tế cho thấy người dân hoàn toàn không có quyền định đoạt về những cái đó. Nghĩa là người dân thực sự chỉ có tiếng nhưng không có miếng. Vậy câu hỏi đặt ra là “ai là chủ sở hữu toàn dân”? Theo tất cả các văn bản luật hiện hành thì “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân”. Nhưng một câu hỏi đặt ra tiếp theo là “vậy thì ai là Nhà nước”. Theo quy định thì Nhà nước là một bộ máy và hệ thống tổ chức bao gồm nhiều thiết chế và cơ quan khác nhau, từ ông Thủ tướng cho đến ông Chủ tịch xã. Thậm chí một ông các bộ quèn của ủy ban xã cũng có thể nhân danh là người nhà nước. Do không làm rõ quyền đại diện, nên trong thời gian vừa qua đã xảy ra tình trạng khá phổ biến, đó là các cán bộ cấp xã cấu kết với nhau cũng có quyền bán đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Trong khi những người dân, vốn được cho là chủ nhân của đất đai, vùng biển, vùng trời thì chẳng hề mảy may có chút quyền hành gì.
Chính vì thế, theo chuyên gia Kinh tế Lê Đăng Doanh đã nhận định rằng : “Toàn dân không phải là một pháp nhân, cho nên cần phải cụ thể hóa người chủ sở hữu thật có tư cách pháp nhân là ai, có trách nhiệm giải trình như thế nào, ai giám sát việc thực thi quyền sở hữu ấy? Cần phải tiến tới xác định đa dạng hóa hình thức sở hữu về đất đai. Loại nào là sở hữu toàn dân? Loại đất mà người nông dân đã cày cấy bao nhiêu đời nay thì phải thừa nhận quyền sở hữu của họ chứ! Nếu không rõ ràng, dễ dẫn đến lạm dụng cái sở hữu toàn dân ấy để thu hồi đất, ăn chênh lệch giá, là điều hết sức nguy hiểm.”
Vấn đề sở hữu toàn dân thực sự là một rào cản, đồng thời là nguồn gốc của vấn đề dân oan. Những tồn tại và sự bất cập của loại hình sở hữu này thì ai ai cũng biết và chắc chắn những người lãnh đạo quốc gia đều biết. Song vì loại hình sở hữu mập mờ này vẫn có giá trị trong việc đánh lừa người dân, rằng sở hữu toàn dân là đặc trưng cho xã hội cộng sản, mọi tư liệu sản xuất đều thuộc về sở hữu toàn dân. Nhưng vấn đề cơ bản nhất là loại hình sở hữu này đã giúp cho các quan chức ở các cấp giàu lên nhanh chóng thông qua việc cấp đất cho các ông chủ tư nhân dưới chiêu bài các dự án phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
Tuy vậy. một vài người giàu lên vì những dự án liên quan đến đất thì cũng có hàng nghìn, hàng vạn người mất đất mất nhà, mất cửa. Với giá cả và các chính sách đền bù như hiện nay thì sẽ còn vô số những dân oan xuất hiện và trong số đó sẽ còn không ít người quá uất ức sẽ chống người thi hành công vụ, sẽ dẫn đến việc gây thương tích nghiêm trọng cho nhân viên nhà nước và bản thân họ sẽ lâm vào cảnh khốn cùng và có thể kết thúc trong vòng tù tội. Đã đến lúc, câu hỏi về giải pháp công bằng cho người dân trong các dự án thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội cần phải có câu trả lời thỏa đáng từ phía nhà nước. Vấn đề đất đai thuộc sở hữu toàn dân cần phải được xem xét hủy bỏ, để thay bằng các chủ sở hữu thực sự và phải là một thực thể pháp lý cụ thể. Khi đó, việc nhà nước thu hồi đất của dân để tiến hành các dự án phát triển kinh tế xã hội sẽ phải thông qua thủ tục trưng mua theo giá cả mà cả hai phía đều có thể chấp nhận được. Chỉ có như thế thì mới có thể giải quyết tận gốc vấn đề dân oan khiếu kiện như hiện nay.
Ngày 19 tháng 04 năm 2015
© Kami

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

Loạt Bài Về Khởi Nghiệp

Nguồn : Vững Đại Phát

Bài 7: Những Lời Khuyên Cần Suy Ngẫm
Theo: Thúy Huỳnh – Tổng Hợp Từ Inc. -
Khởi nghiệp là một quyết định khó khăn. Và có rất nhiều ý tưởng đã không thể thành hiện thực, bởi chủ nhân của ý tưởng đó không đủ quyết tâm, tự tin.
16 lời khuyên – có thể xem là những bí quyết quyết khởi nghiệp của các doanh nhân thành đạt – sau đây sẽ tiếp thêm động lực để bạn bắt tay vào xây dựng sự nghiệp cho riêng mình.
1. Làm sao để bạn leo lên ngọn núi quan trọng hơn là việc lên đến đỉnh. (Yvon Chouinard, nhà sáng lập Patagonia)
2. Tôi không quan tâm bạn thành công hay thất bại, bạn là Bill Gates hay một doanh nhân chưa ai biết đến. Sự khác biệt của bạn chính là bạn đã dám mạo hiểm, chống lại bất cứ ai đang cố giữ bạn trong những suy nghĩ cũ kỹ, không để bạn tìm ra ý tưởng hay bắt tay làm một điều gì đó mới mẻ. (Chris Dixon, đồng sáng lập Hunch)
3. Hãy giữ vững lập trường để không bị cuốn theo bất cứ quy tắc hay hệ thống nào ngăn cản bạn khám phá ra những thế mạnh và sở trường của mình. (Ishita Gupta, người sáng lập tạp chí Fear.less)
4. Khi khởi nghiệp, người ta thường phân tích nhiều yếu tố, như thời cơ, tình hình tài chính… Những phân tích nhiều khi hơi thái quá. Đôi khi, bạn chỉ cần làm những gì bạn nghĩ, vì quá chần chừ sẽ đánh mất cơ hội. (Michelle Zatly, đồng sang lập CloudFlare)
5. Tôi ước gì tôi đã đọc sách nhiều hơn và cân nhắc những ưu và khuyết điểm của các triết lý khác nhau thay vì chỉ nhảy vào làm những gì tôi nghĩ là hợp lý về mặt đạo đức và tài chính. (Jason Cohen, nhà sáng lập phần mềm SmartBear)
6. Hãy trở nên thực sự tốt. Không một nỗ lực marketing hay truyền thông xã hội nào có thể thay thế được điều đó. (Anthony Volodkin, nhà sáng lập The Hype Machine)
7. Không có gì lãng mạn hơn cảm giác được trở thành một doanh nhân. Đó là một cuộc đấu tranh để “gìn giữ” sự sống cho công ty bạn, giống như bạn chăm sóc làn da của mình mỗi ngày. (Spencer Fry, nhà sáng lập CarbonMade)
8. Bạn chỉ cần chú ý quan sát nhu cầu của mọi người và những điều họ chưa làm được. (Russell Simmons, nhà sáng lập Def Jam)
9. Nhìn từ nhiều khía cạnh, tiền bạc không thể giúp bạn sáng tạo nhưng nó chắp cánh cho những ước mơ, ý tưởng và là phương tiện để giúp bạn đạt được những mục tiêu đã đề ra. (Travis Kalanick, nhà sáng lập Red Swoosh và đồng sáng lập Uber).
10. Tự hỏi xem khách hàng của bạn muốn gì. Hãy hỏi. Đừng nói. (Lisa Stone, đồng sáng lập và giám đốc điều hành của BlogHer)
11. Hãy chia sẻ và trao đổi thật cởi mở với mọi người về ý tưởng của bạn. Nếu mọi người thờ ơ và hoài nghi bạn, hãy tận dụng điều đó như một động lực thúc đẩy bạn sớm thực hiện các ý tưởng của mình. (Todd Garland, nhà sáng lập BuySellAds)
12. Tránh xa những người khiến bạn nhụt chí. Chỉ có những người thiếu tầm nhìn mới làm điều đó, trong khi, những người giỏi sẽ luôn mang đến cho bạn niềm tin rằng bạn có thể trở nên vĩ đại như họ. (Erica Nicole, nhà sáng lập tạp chí YFS)
13. Nghĩ lớn thôi chưa đủ, mà còn phải táo bạo. Ngay cả khi những người xung quanh cho rằng những ý tưởng thật hoang đường, bạn cũng đừng bao giờ từ bỏ sự táo bạo và khác biệt. (Josh James, nhà sáng lập Domo and Omniture)
14. “Hãy Kiên nhẫn, nỗ lực cùng với một chút sợ hãi”, Jack Nickell – đồng sáng lập Threadless mô tả cảm giác khi bắt đầu thành lập một công ty.
15. Bạn phải sẵn sàng cho công việc khó khăn và chi tiêu tiết kiệm để biến những ý tưởng trở thành hiện thực. (Garrett Camp, đồng sáng lập Uber và là nhà sáng lập của Stumbleupon and Expa)
16. Bạn sẽ học được nhiều điều bằng việc đương đầu với những thứ không mong muốn trong công việc. Tôi đã biết nhờ đến sự giúp đỡ từ người khác khi công việc làm tôi quá mệt mỏi. Và điều duy nhất tôi có thể khuyên bạn là tiếp nhận sự giúp đỡ trên phương diện thực tế để tiếp tục khởi nghiệp. Bạn không thể làm mọi thứ một mình. (Catharina Bruns, nhà sáng lập WorkisNotaJob).
THUÝ HUỲNH

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Làm sao kinh doanh trên thương trường đầy phản trắc?

 Nguồn : Vững Đại Phát
Làm sao kinh doanh trên thương trường đầy phản trắc?
(Bàn thêm về “thất bại Alan Phan”)
Tác Giả: Phan Châu Thành – DLB – 26 April 2015
(GNA: Ông già Alan thực sự không muốn đào sâu về đề tài này; nhưng anh Thành muốn lấy những sự kiện của Vinabull để tạo một case study về chuyện làm ăn tại VN. Nghĩ rằng quan điểm của anh Thành có thể giúp thêm cho phân tích của các doanh nhân VN khác, nên GNA post với lời lưu ý là mọi ý kiến và chuyện kể trong bài viết là của tác giả. Alan xin im lặng về mọi phản hồi. Cám ơn anh Thành).
…Bạn chỉ có thể kinh doanh thành công ở VN hôm nay trong phạm vi nhỏ và không toàn diện, khi kinh doanh của bạn phát triển lớn dần, bạn sẽ không thể kinh doanh thành công như một doanh nhân đích thực được nữa nếu không thỏa hiệp chính trị… Thỏa hiệp chính trị trong kinh doanh là chấp nhận luật bắt thành văn của môi trường là tham nhũng, hối lộ, gian dối, mua bán quan hệ để đổi lấy lợi thế hay được quyền kinh doanh...
Lý do bài viết “bàn thêm” này:
Trước tiên, tôi xin lỗi bác Alan Phan vì lại mang “thất bại kinh doanh” của bác Alan ở VN ra bàn, khi vẫn biết Alan không thích nói nhiều về mình, mà lại là nói nhiều về… “thất bại Alan”!
Nhưng gần đây, sau khi mạo muội viết bài “BCA giải mã thất bại của Alan Phan ở Việt Nam” gửi đăng trên vài báo lề dân và GNA – mà mãi gần hai tuần sau bác Alan mới cho đăng trên GNA, tôi nhận được nhiều câu hỏi của bạn đọc, học trò cũ về bài viết đó, và thấy việc trả lời công khai các câu hỏi đó có thể cũng có ích cho nhiều người hơn, nên tôi viết bài này xin phép bác Alan được mạo muội “bàn thêm” đề tài trên.
Tôi cũng muốn “nói thêm” xung quanh đề tài “thất bại của Alan” vì trong bài trước tôi chỉ tập trung nói hai ý, rằng bác Alan không thất bại mà đã/đang thành công lớn ở VN và thất bại của Vietbull là tất yếu, nhưng chưa nói rõ được các nguyên nhân của sự tất yếu thất bại của NVHN hay mọi doanh nhân đích thực ở VN nói chung.
Lý do thư ba là, hiện nay như nhiều người biết, tôi vẫn đang tư vấn, động viên, hỗ trợ, đào tạo… cho các bạn trẻ khởi nghiệp kinh doanh (ở VN), mà tôi lại khẳng định trước rằng các doanh nhân chân chính không thể thành công ở VN hôm nay (chỉ bọn “chân không chính” thôi) thì tôi có tự mâu thuẫn quá không?
Trong bài này, tôi chỉ coi “thất bại của Alan” với công ty Vietbull của ông ở VN như một ví dụ điển hình, một “case study”, để phân tích và và tìm câu trả lời cho những câu hỏi chính như: 1) Có thật không thể kinh doanh ở VN thành công (cho bất kỳ ai) mà không cần biết đến và thỏa hiệp về chính trị? 2) Tại sao các doanh nhân, doanh nghiệp của NVHN về VN kinh doanh cho đến nay không thể thành công? 3) Các doanh nhân trẻ có cơ hội nào ở VN hôm nay?…
Có thật không thể kinh doanh ở VN thành công (cho bất kỳ ai) mà không cần biết đến và thỏa hiệp về chính trị ở VN?
Câu hỏi trên tôi đã nêu ra và trả lời ở bài trước, rằng không thể. Còn bác Alan Phan thì vẫn nói rằng có thể chỉ cần khéo léo hơn một chút. Cả hai đều trả lời qua kinh nghiệm thực tế “đau thương” của mình, tức là đều có hơi chút cảm xúc.
Về phía mình, tôi muốn bớt phần cảm xúc đi để nói rõ hơn: bạn chỉ có thể kinh doanh thành công ở VN hôm nay trong phạm vi nhỏ và không toàn diện, khi kinh doanh của bạn phát triển lớn dần, bạn sẽ không thể kinh doanh thành công như một doanh nhân đích thực được nữa nếu không thỏa hiệp chính trị. Đó là câu trả lời “chính xác” của tôi, trong đó có ba khái niệm cần làm rõ: thế nào là phạm vi kinh doanh nhỏ, thế nào là doanh nhân đích thực, và thế nào là thỏa hiệp chính trị của doanh nhân?
Phạm vi kinh doanh được xác định bằng vốn đầu tư hoặc doanh thu. Phạm vi kinh doanh nhỏ là khi tổng vốn bỏ ra ban đầu (trong 2-3 năm) chỉ khoảng vài tỷ vnđ đổ lại hay dưới 300 hay 500 ngàn đôla. Công ty Vietbull của bác Alan Phan trong mấy năm đầu hút hết gần 2 triệu đô thì không phải là nhỏ. Phạm vi nhỏ là khi doanh thu hàng năm của doanh nghiệp chỉ khoảng đến vài chục tỷ vnđ trở lại (dưới 3 hay 5 triệu đôla).
Khi bạn khởi nghiệp kinh doanh từ số 0 đến khi bạn đạt doanh thu một vài triệu đôla/năm ở VN hay bất cứ ở đâu cũng đều cần khoảng thời gian một vài năm, cần một sự nỗ lực khổng lồ từ bạn và đội ngũ trong thời gian đó và cần môi trường hỗ trợ kinh doanh (thường là miễn giảm thuế) mà hầu như nước nào cũng phải có và thể hiện trong các chính sách, nhất là thuế má, để thu hút đầu tư. Công ty Vietbull của Alan Phan là dạng đầu tư nước ngoài càng được nhiều ưu đãi chính sách, tức là ít bị sách nhiễu. Tôi nói, các công ty nhỏ và mới ít bị sách nhiễu, nên vẫn có cơ hội phát triển lúc ban đầu ở VN, là vì vậy. Vậy tại sao Vietbull đã thất bại?
Nếu ở trong môi trường kinh doanh bình đẳng và minh bạch (kinh tế thị trường và xã hội dân chủ – cả hai cái đó mới cho các doanh nghiệp, doanh nhân sự bình đẳng và minh bạch – mà VN không có – để mà thi tài kinh doanh theo luật và khai thác qui luật thị trường như những doanh nhân đích thực), thì 80% doanh nghiệp mới thành lập, được nhiều ưu đãi, vẫn phá sản trong vòng 5 năm đầu tiên, “nhường chỗ” cho các doanh nghiệp mới hơn nữa. 20% doanh nghiệp mới vượt qua giai đoạn 5 năm đầu tiên là vì họ hơn người, họ là chuyên gia giỏi hơn người khác trong lĩnh vực của họ.
Còn thỏa hiệp chính trị trong kinh doanh là chấp nhận luật bắt thành văn của môi trường là tham nhũng, hối lộ, gian dối, mua bán quan hệ để đổi lấy lợi thế hay được quyền kinh doanh (trong khi ai không thỏa hiệp sẽ không có quyền kinh doanh bình đẳng).
Tôi không nghĩ Vietbull đã phá sản thuộc dạng lý do do kinh doanh non nớt, do không hiểu chuyên môn kinh doanh (tài chính-chứng khoán-và IT). Alan Phan đã chứng minh mình là bậc thầy kinh doanh, Vietbull đã được kiểm chứng qua Sinobull là mô hình thành công, đội ngũ do Alan Phan tuyển chọn và xây dựng. Vậy tại sao? Vietbull cũng không phản đối môi trường kinh doanh kia mà, chỉ không làm theo thôi? Cái chưa được kiểm chứng ở đây là môi trường kinh doanh VN, gồm 3 yếu tố chính sau: các đối tác cạnh tranh có phải gần giống như Vietbull về đạo đức hay văn hóa kinh doanh (về lý thuyết là phải thế, chắc bác Alan chắc đã giả định thế), luật kinh doanh có được thực thi đúng như thế (hay nói vậy mà không phải vậy), và thông tin kinh tế tạo nên cơ sở kinh doanh có đúng như thế (tức tương đối đáng tin cậy như ở thị trướng nước khác).
Chúng ta biết, môi trường kinh doanh ở VN đã bị chính trị hóa từ lâu trước khi nó được sinh ra gần đây. Kết quả của chính trị hóa môi trường kinh doanh là gì? Là tạo ra các doanh nghiệp và doanh nhân có lợi thế hơn nhiều về tài chính, thông tin, chính sách, quan hệ nhân sự không chính thức (nhưng không bị cấm) với các thế lực “nhà nước quản lý” môi trường kinh doanh.
Lấy ví dụ FPT là đối thủ cạnh tranh chính của Vietbull, là gì? Đó là tập đoàn tham nhũng chỉ biết dùng tham nhũng và đi đêm để có “lợi thế cạnh tranh” trong kinh doanh – chứ không phải bằng tài năng kinh doanh. Xin lấy một ví dụ “kinh doanh thành công” của FPT năm xưa mà tôi biết rõ để minh chứng.
Khoảng năm 1990, khi FPT mới ra đời là công ty Công nghệ Chế biến Thực phẩm (Food Proccessing Technology-FPT), tôi lúc đó còn trẻ là kỹ sư dầu khí đã cùng các bạn cho ra đời 1 trong 5 công ty tư nhân về IT đầu tiên của VN dựa trên luật DN 1990 đầu tiên và còn tươi rói, với tình yêu hừng hực dành cho IT và kinh doanh – mặc dù tất cả đều chưa biết gì về kinh doanh. Lúc đó chúng tôi 17 người mới ra sức cùng nhau góp đủ 200 triệu tiền mặt vốn điều lệ để cho ra đời công ty IT đó, mà phần tôi là 14 triệu đồng từ tiền tiết kiệm mấy năm đi làm để mua chiếc xe máy mơ ước đầu tiên – đại loại là “kế hoạch xe máy” phải nhường chỗ cho giấc mơ IT và kinh doanh, nên tôi còn đi xe đạp đi làm thêm vài năm sau đó nữa. Cuối năm 91 công ty IT của chúng tôi đã khá có uy tín, chúng tôi tham gia đấu thầu dự án của EC (European Community) cung cấp 320 máy tính bàn PC 386 và thiết bị đồng bộ cho 32 trung tâm IT tại 32 tỉnh thành khắp cả nước để tạo công ăn việc làm cho những người Việt di tản (những thuyền nhân hay cả rừng nhân, không may mắn) bị các nước xung quanh trả về cho chính phủ VNCS. Chúng tôi rất trân trọng tính nhân đạo cao cả của Dự án nên đã chuẩn bị mọi phương án hết sức kỹ càng để thắng chỉ để được làm việc đầy ý nghĩa lớn lao đó (không còn chỉ là mục tiêu IT và kinh doanh nữa), và chúng tôi đã tin mình sẽ thắng thầu vì không thấy đổi thủ “đáng gờm” nào, còn mình thì đã hạ giá sát ván để được làm việc đó. Ở Hà Nội khi nộp thầu, chúng tôi gặp Trương Gia Bình (con rể Duẩn) và công ty FPT, họ thú nhận lần đầu tiên tham gia làm IT, chuyển từ công nghệ “măm măm” (thực phẩm) sang. Khi mở thầu, chúng tôi kinh ngạc vì FPT thắng, mà họ thắng sát nút chúng tôi – chỉ rẻ hơn mấy trăm đôla trên tổng khoảng 300 ngàn đô của chúng tôi! Nhưng chúng tôi phải tin vào các nhân viên Việt của Văn phòng Đại diện EC – người tổ chức “đấu thầu quốc tế” ở Hà Nội lúc đó. Đó là lần đầu tiên tôi “chạm trán” FPT, im lặng chấp nhận thua nhưng tâm không phục – chắc chúng nó đã mua đứt người (Việt) của EC rồi, và biết được giá của chúng tôi để thắng thầu chỉ mấy chục phút nộp sau.
Tôi không ngờ “bí quyết thắng thầu” của FPT lại lộ ra nhanh chóng ngay sau đó. Trở lại Sài Gòn, đi làm (tôi chỉ giúp công ty IT mà mình là cổ đông nhỏ việc đấu thầu EC ở Hà Nội vì khi đó tôi rành tiếng Anh và các điều khoản thương mại quốc tế hơn các bạn), khoảng tháng sau Công ty phân cho phòng tôi nhận 5 bộ máy tính mới toanh (trước đó tôi chỉ dám xin 2 bộ), và tôi trố mắt khi đọc các dòng chữ in to và rõ ràng trên từng hộp máy: “Computers for Vietnamese Returned Regugees – EC’s Project”. Tôi chạy thẳng lên phòng IT của công ty và căn vặn anh Trưởng phòng về lô máy tính mới, thì được biết Tập đoàn Dầu khí nơi tôi làm đã mua liền hơn 100 máy mới của FPT với giá khoảng gấp… 4 lần giá FPT đã đấu thầu thắng với EC (khoảng 3-4 ngàn đôla/bộ)! Vậy là FPT đã ăn cả hai đầu – nhận của EC với giá “thắng thầu” gần ngàn đô/bộ để rồi mua máy nhưng không lập 32 trung tâm IT ở 32 tỉnh thành như đã cam kết với EC mà đem máy bán cho các công ty lớn như DK với giá gấp 4 lần thế nữa! (Lúc đó, rất ít ai biết giá thực máy tính trên thị trường, và máy 386 là serie mới và hiện đại ở VN nên… giá nào cũng được!?)
Như vậy, FPT là ai thì đã rõ. Nhưng tôi cứ băn khoăn chả lẽ EC họ quan liêu đến nỗi không bao giờ kiểm tra các dự án nhân đạo cao cả của mình đã đến với “các nạn nhân được cứu giúp” thế nào ư? Tôi đem việc này hỏi một cậu em học Harvard về và có công ty chuyên làm (giải ngân) các dự án từ thiện của NGO ở VN, nó cười lớn: “Anh ngây thơ quá! Vụ nhỏ như thế – có 300 ngàn đôla năm 1991- thì FPT nó chỉ cần làm report thật ngon kèm vài bức ảnh bịa, và một lễ nghiệm thu giả của một trung tâm nào đó là EC Ok liền, chưa kể đi nhậu nhẹt chơi bời vui vẻ với nhân viên EC ở một vài nơi. Nếu là người Việt thì… EC nó còn viết Report về thành công của dự án hộ mình luôn!” Nó nói xong thì tôi lại trố mắt nhìn thằng em họ đã có 3-4 năm dùi mài sau đại học ở Havard: Cựu sinh Harvard là thế này ư? Tôi không tin nổi tai mình. Ngẫm lại, nó được học bổng Harvard là vì bố nó (cậu tôi) là cựu chiến binh và là quan to ở tỉnh mà thôi.
Tôi đã hơi lạc đề để cố nói khách quan về FPT với các bạn (và ông Alan Phan) – họ là ai và họ “kinh doanh” thế nào, để nói về môi trường kinh doanh IT ở VN mà bác Alan đã không thể hiểu từ “trong chăn” như tôi.
Bây giờ, Trương Gia Bình với FPT như thế – có công nghệ và văn hóa “Ăn tất cả – foods processing” như thế, còn hơn bọn chuyên “cướp có business plan” của bác Alan nhiều, và bác Alan với Vietbull như thế, và môi trường kinh doanh “định hướng XHCN” của VN như thế, bác Alan có còn tin mình sẽ kinh doanh thành công về lâu về dài ở VN (với CSVN) được hay không?
Tôi biết hàng trăm, có khi hàng ngàn công ty như FPT, với hàng ngàn, có khi hàng vạn dự án như kiểu “EC’s Computers” cho người Hồi hương, đã rất ăn nên làm ra ở VN trên thân xác những kẻ hồi hương, kể cả “hồi hương” tự nguyện như NVHN về nước kinh doanh.
Khoảng dăm năm sau vụ EC đó, tôi đã có một công ty khác về cơ khí và đưa một Nhà sản xuất bơm lớn của Mỹ (Ingersoll) ra Hà Nội đấu thầu (dự án vốn vay ADB) cung cấp thiết bị bơm cho ba trạm bơm chống lụt ở 3 tỉnh Bắc miền Trung, và lại gặp FPT là đối thủ. Họ (mấy cậu bé non choẹt) cũng tự nhận là không biết gì về cơ khí và bơm cả, nhưng… lại thắng thầu, lần này là hàng mấy chục triệu đô la. Tôi cười quay sang xin lỗi ông bạn người Âu (dù hãng là Mỹ) vì đã không thể cùng ông thắng thầu, chỉ đứng thứ 2 về giá (đứng đầu về kỹ thuật, chất lượng), song tôi cũng cười đảm bảo “thêm” với ông ấy rằng ba tỉnh đó sẽ không bao giờ có các trạm bơm lớn chống lũ lụt được cả – vì FPT sẽ hoặc là cung cấp bơm dổm (rẻ, không chạy được, nhưng giải ngân được) hoặc không thèm cung cấp bơm luôn sau khi có tiền Ban quản lý Dự án vay ADB chuyển cho, rồi tịt luôn… và họ/ban quản lý dự án sẽ ước ao mãi là hôm nay giá mà họ chọn ông (Ingersoll) và tôi (“hãng cò mồi PCT”) thắng thầu. Tôi còn chốt lại cho vui: Tin tốt là, ít nhất họ cũng sẽ nhớ tên hãng bơm Ingersoll của ông suốt đời vì ân hận. Đến nay, năm nào mùa mưa chúng ta chúng ta cũng nghe đến các vụ lũ lụt lớn ở các tỉnh đó, vì tiền chống lụt ADB cho vay thì FPT đã tiêu hết từ hồi đó trước 2000 rồi.
Từ hình ảnh FPT và Vietbull, hãy hình dung trong IT của VN có hàng chục con bạch tuộc đỏ (kinh doanh bằng quyền lực chính trị) như FPT và hàng trăm, hàng ngàn con cá pirania đỏ lớn nhỏ xung quanh con “Trâu Vàng” Vietbull của ông già Alan (kinh doanh phi chính trị), thì… liệu con trâu đó dù có đúc bằng vàng cũng trụ được bao lâu?
Và trong tất cả mọi lĩnh vực kinh doanh khác ở VN, tình trạng đều như thế.
Tại sao các doanh nhân, doanh nghiệp của NVHN về VN kinh doanh cho đến nay đều không thể thành công?
Ở phần trên, tôi đã khẳng định, nếu không gian dối, tham ác… như FPT hay hàng ngàn hàng vạn công ty (trực tiếp hay gián tiếp) của CSVN, mà chỉ kinh doanh theo đạo đức doanh nhân thì không có công ty nào về lâu về dài có thể thành công ở VN.
Nhưng còn một lý do chủ yếu và quan trọng khác – đó là sự kiểm soát ngầm của an ninh CSVN đối với mọi tổ chức, doanh nghiệp ở VN, nhất là với các doanh nhân và công ty của NVHN. Theo quan sát của tôi, tình hình rất tệ – sự theo dõi và kiểm soát của an ninh CSVN với các doanh nghiệp rất ngặt nghèo và phi pháp.
Chúng ta biết, đến nay 2015, CSVN vẫn chưa cho phép tổ chức các nhóm xã hội dân sự, hay các nghiệp đoàn độc lập, dù họ rất cần được vào TPP để mong cứu vãn nền kinh tế đang sắp sập. Thậm chí, các tổ chức tôn giáo tổ chức các khóa tu, khóa thiền cho dân chúng cũng không được – CSVN cho côn đồ đến phá. Sau vụ Bát Nhã 2009, rất nhiều vụ đàn áp tôn giáo vì “tu tập đông người” khác nữa liên tục xảy ra, mà gần đây nhất là các khóa thiền Vipassana chỉ hơn trăm người tu (ngồi thiền) ở Lâm Đồng, Sài gòn bị phá. Cậu học trò tôi than: Chúng em chỉ đến để ngồi và thở thôi mà CS cũng không cho! Chỉ ngồi và thở thôi!
Thế mà tại sao từ 1990 CSVN cho phép lập công ty, doanh nghiệp tư nhân – cũng là những nơi “tập trung đông người”? Là vì CSVN phải cho lập DNTN thôi, nếu không thì chết đói hết. Nhưng chúng không bao giờ tin vào, và rất sợ các tổ chức không do chúng lập nên đó. Vì thế, chúng luôn cố gắng kiểm soát tối đa được các tổ chức đó – dù họ chỉ có mục tiêu rõ ràng là kinh doanh. CSVN bằng mọi cách hợp pháp và phi pháp tổ chức và duy trì kiểm soát bằng hai hướng: từ ngoài – bằng các tổ chức quản lý và chính sách của họ với sự kiểm tra thường xuyên và đột xuất dày đặc, và từ bên trong – bằng việc cài cắm “an ninh kinh tế” vào trong tất cả mọi doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, nước ngoài và cả nhà nước – trong đó doanh nghiệp của NVHN được “chăm sóc” kỹ nhất vì “nguy hiểm” nhất.
Chúng theo dõi cái gì trong một doanh nghiệp? Có bốn nội dung theo dõi chính: thân nhân, quan điểm và hoạt động của lãnh đạo doanh nghiệp, tình hình tài chính và đóng thuế của DN, và các dự án cụ thể của DN mà họ quan tâm, các đối tác kinh doanh của DN mà họ cần theo dõi gián tiếp. Tùy vào loại hình công ty, độ lớn và vị thế công ty, tùy nội dung cần theo dõi mà CSVN đào tạo và cài cắm người của mình vào các DN đó, chủ yếu qua đường để các DN tuyển chọn công khai (ứng viên của chúng – số này đông nhất) hay mua chuộc dọa dẫm, ép buộc người lúc đầu không phải “đặc tình” của chúng, gọi là loại “cài cắm” và loại “ép buộc”, hoặc bố trí (nếu là doanh nghiệp nhà nước hay liên doanh).
Loại cài cắm, thường được chúng tuyển chọn trước hay ngay sau khi tốt nghiệp đại học kinh tế và kế toán tài chính, sau đó được đào tạo nghiệp vụ “an ninh kinh tế” 1-2 năm, và sẽ được tung ra “xin việc” vào tất cả các loại doanh nghiệp mà chúng cần theo dõi, hầu như vào mọi doanh nghiệp có nhu cầu tuyển người ngoài gia đình (có từ khoảng chục nhân viên trở lên). Chức danh chủ yếu là kế toán viên, hay kế toán trưởng (để theo dõi tình hình chung của các công ty), hay thậm chí tạp vụ, gác cổng (để theo dõi hành tung ban giám đốc), hoặc kỹ sư ngoài công trường (để theo dõi một dự án cụ thể nào đó), hay chuyên viên thương mại kinh doanh (để theo dõi các đối tác của công ty).
Với đa số công ty, các nhân viên an ninh cài cắm trên sau một thời gian vài tháng đến 1-2 năm sẽ hoàn tất nhiệm vụ (được ăn hai lương) và tự động xin nghỉ vì các lý do nào đấy. CSVN thấy tuyệt đại đa số các DN đúng là chỉ kinh doanh, nên sẽ chuyển sang theo dõi công ty mới khác.
Các công ty của NVHN thường bị theo dõi cả bốn nội dung (thân nhân, tài chính, dự án và đối tác) nên an ninh kinh tế của CSVN có một đội ngũ được đào tạo riêng để làm việc theo dõi họ.
Nếu hiện nay CSVN có khoảng 300,000 dư luận viên (DLV) ăn lương và lên mạng quậy phá, thì từ 1990 đến nay CSVN cũng đã đào tạo, tuyển dụng và đang sử dụng tổng cộng đến khoảng trên 100,000 kẻ “an ninh kinh tế” để cài cắm vào theo dõi các doanh nghiệp từ bên trong, do mấy Vụ thuộc bộ Công an cùng làm (mấy cái “C3-mấy”, “C4-mấy”, “C5-mấy” gì đó…). Đây tất nhiên là vi phạm nhân quyền (quyền riềng tư) trắng trợn và có hệ thống của CSVN rồi, nhưng “who dám care?!”
(Người viết bài này đã làm ở vị trí quản lý của tất cả các loại hình doanh nghiệp tư nhân, nhà nước, nước ngoài, liên doanh – mà doanh nghiệp NVHN là loại DN nước ngoài “đặc biệt nguy hiểm”, và đã nhìn ra và phải âm thầm loại bỏ bọn “an ninh cài cắm” của CS ở khắp mọi nơi đó, đôi lần ngay khi đang còn phỏng vấn tuyển dụng đã rõ rồi, và chỉ có thể làm thế thôi).
Nói chung, trừ các lý do đặc biệt, như trường hợp Vietbull của bác Alan, NVHN thường có thể kinh doanh thành công mấy năm đầu tiên vì họ nhỏ và mới, nên được “ tạm tha” quấy rối, nhưng họ luôn biết rõ mọi chuyện nội tình “để phòng ngừa các thế lực thù địch”. Khi cần, họ sẽ khai thác, sử dụng (xào nấu) các thông tin có được từ đặc tình cho mục tiêu cụ thể như phạt công ty của Lê Quốc Quân “trốn thuế”, khép công ty của Trần Huỳnh Duy Thức vào tội “kinh doanh không phép” và “trốn thuế”.
Nhờ có vốn độc lập hơn các doanh nghiệp trong nước, thông tin kỹ thuật và chuyên ngành cập nhật hơn, quan hệ quốc tế rộng rãi hơn, các doanh nghiệp của NVHN lúc đầu có vẻ dễ phát triển hơn. Nhưng rất tiếc giai đoạn đó không đủ để họ thực sự hiểu môi trường kinh doanh trong nước và có các đối tác lớn tin cậy, càng không biết mình bị theo dõi từ bên trong, mà họ đã có nhu cầu và kế hoạch phát triển mở rộng rồi. Đây là lúc họ đa số đều sa vào bẫy của các đối tác cộng sản mà họ tưởng mình đã tạo được lòng tin với nhau.
Thực sự thì quan chức và các doanh nghiệp CSVN không có khái niệm lòng tin, không bao giờ tin và tôn trọng các doanh nghiệp nói chung và DN của NVHN càng không, họ chỉ lợi dụng vì cần đầu tư, hay thông tin, hay đơn giản cần ăn hối lộ. Họ luôn sẵn sàng “diệt” – thay thế đối tác Việt Kiều và các doanh nghiệp “của họ” bất cứ khi nào có thể và vì bất cứ điều gì, bất chấp pháp luật (vì pháp luật là họ). Nói chung, trong con mắt của CSVN, các doanh nghiệp NVHN chỉ để làm cảnh (mị dân) và không bao giờ được phép thành công!
Cái khó của NVHN khi làm ăn trong nước là, lúc đầu thì quá tin nhau mà không biết mình bị theo dõi và coi như kẻ thù (thậm chí NVHN hay nghĩ: ồ, CS cũng tốt đấy chứ!) nên không phòng bị, tự bảo vệ mình, đến khi cơm không lành canh không ngọt thì chả có gì để tự vệ, mà cả hệ thống pháp luật lại ở phía bên kia. Tự nhiên, từ “người mình với nhau cả” thành chiến tuyến hiện ra rõ ràng mà NVHN đơn độc trong vòng vây “người mình”, thường chỉ còn cách bỏ của chạy lấy người. Tôi đã đau lòng chứng kiến những cảnh “tranh chấp” – thực ra là ăn cướp công khai như vậy của CSVN (cá nhân, doanh nghiệp hay cả chính quyền) với NVHN. Ngay cả những người NVHN đã từng hối lộ các quan chức và đối tác trong nước rất nhiều và cảm thấy mình đã mua chuộc được CS cũng bị (và càng hay bị) chính những kẻ nhận hối lộ đó làm hại, phản lại, tấn công dữ dội (thay vì công khai hay ngầm ủng hộ), vì “không có bằng chứng” chúng nhận hối lộ bao giờ, lại luôn có bằng chứng NVHN đi hối lộ.
Đã hơn ba chục năm quan sát NVHN về nước kinh doanh, tôi chưa thấy ai thực sự thành công – đến trên 90% là thất bại. Tại sao?
Ngoài lý do đạo đức kinh doanh (như kiểu FPT) thì còn sự đa nghi và theo dõi rất gian manh phi pháp của CSVN với các doanh nghiệp – nhất là của NVHN – để hãm hại và kiểm soát là lý do cơ bản khác khiến các DN nói chung không thể phát triển được. Đó là lý do tại sao tôi nói môi trường kinh doanh VN đầy phản trắc – nó phản trắc từ trong tâm địa của những kẻ “trọng tài” đang quản lý “sân chơi kinh doanh XHCN” này là CSVN rồi.
Đó là chưa kể, “về nước kinh doanh” nhưng NVHN nói chung đều chỉ cần làm được phần đầu: “về nước…”, rồi để lại tất cả, và lại ra đi (lần “ra đi” này là “di tản lần 2”: ai cũng biết mình sẽ không bao giờ về nước kinh doanh nữa… với cộng sản.)
Với những công ty của NVHN còn chưa phải và không muốn “di tản lần 2” (và mọi doanh nghiệp chân chính khác), tôi khuyên nên tỉnh táo nhìn lại mình ngay và loại khỏi đội ngũ mình những kẻ ăn hai lương (một của an ninh CS) trước khi quá muộn.
Các doanh nhân trẻ có cơ hội nào ở VN hôm nay?
Vâng, tôi vẫn luôn khuyến khích, động viên và thường xuyên tư vấn cho các bạn trẻ hãy khởi nghiệp kinh doanh. Tại sao mâu thuẫn vậy, khi tôi luôn khẳng định môi trường kinh doanh VN là rất không thuận lợi?
Trước hết, là vì giai đoạn khởi nghiệp của doanh nhân trẻ ít bị chính trị hóa, bạn còn nhỏ quá và mới quá, non quá – nhưng thực ra nó bị chính trị hóa từ trước đó rồi, từ trong nhà trường, trên sách vở và ngoài xã hội nó đã được “định hướng” rồi, định hướng làm nô lệ. Khởi nghiệp vì thế là bạn tái định hướng cho mình, là định hướng đến Tự do!
Không chỉ môi trường kinh doanh ở VN rất tệ hại và bị chính trị hóa, mà môi trường chuẩn bị cho các thế hệ sau kinh doanh (tức những gì người Việt trong nước nghĩ về, nói về, được dậy về, viết về, đọc về kinh doanh và doanh nhân trong gia đình, nhà trường, xã hội) cũng đều sai trái và tệ hại. Vì thế, cả xã hội VN dù nay rất thích tiền nhưng không biết và không thích kinh doanh, doanh nhân. Cả xã hội định nghĩa sai về doanh nhân và đem tôn thờ những kẻ ăn trộm làm thuê là doanh nhân. Cả xã hội nghĩ kinh doanh là phải có tiền và chỉ cần có tiền là có thể kinh doanh.
Chính những bất cập và sai lệch trên về kinh doanh và doanh nhân ở VN khiến việc kinh doanh (bản chất là sáng tạo) ở VN rất ít, và doanh nhân đích thực ở VN càng hiếm hoi hơn. Vì thế nhu cầu có danh nhân đích thực càng lớn và tôi càng cố khuyến khích và động viên các bạn trẻ khởi nghiệp kinh doanh nhiều hơn. Vì ở VN quá thiếu doanh nhân và hoạt động kinh doanh, chỉ toàn ranh nhân và chụp giật, lừa lọc mánh mung – nên nếu bạn là doanh nhân và kinh doanh theo đúng nghĩa của nó thì bạn là của hiếm và bạn có cơ may thành công cao hơn, bền vững hơn! Ví dụ, khi chế độ CSVN đỏ thì sự nghiệp kinh doanh của bạn không đổ, mà càng phát triển hơn! Đó chính là cơ hội của các bạn trẻ.
Ở mọi nơi trên thế giới, các doanh nhân trẻ luôn có những lớp người doanh nhân đi trước dẫn dắt và truyền cảm hứng. Ở VN, rất tiếc, sau ba bốn thế hệ cai trị của cộng sản, xã hội không có doanh nhân, chỉ toàn ranh nhân “đỏ đít”, tìm đâu ra doanh nhân đích thực để nọi theo và học hỏi? Thế hệ tôi U60 rồi, thế hệ cha tôi trước đó – đều quả là những thảm họa của dân tộc: không có doanh nhân! Thế hệ con cháu tôi, các bạn trẻ tuổi 20s-30s, thật may là có Internet và các bạn một số có thể du học (phương Tây), cũng đã có một ít sách về kinh doanh và doanh nhân đích thực được dịch ra… nên chúng ta có thể hy vọng người Việt sẽ có lớp doanh nhân mới đích thực (tất nhiên, trừ đám trẻ COCC CS, chúng nó du học để tiêu tiền, không cần biết làm ra tiền – kinh doanh là gì).
Thế cho nên, khởi nghiệp kinh doanh vừa là cơ hội, vừa là sứ mệnh cao cả của thế hệ trẻ VN để cứu nước, cứu nhà. Các bạn hãy khởi nghiệp đi, thấy nhiều vào! Dăm ba năm nữa, khi cá bạn đã vững vàng thì cũng là khi môi trường kinh doanh phản trắc của CSVN này phải biến mất, thay bằng môi trường bình đẳng, tự do cho sáng sáng tạo của các bạn!
Cơ hội lớn vẻ vang đang ở ngay phía trước các bạn: trở thành những doanh nhân chân chính của nước Việt không cộng sản, từ hôm nay! Đã đến lúc rồi đó, các bạn!
28.4.2015

Sếp Phải Tự Quản Lý Bản Thân Trước

 Nguồn : Vững Đại Phát
Muốn làm sếp, hãy học cách tự quản lý bản thân trước!
Nếu bạn quản lý bản thân tốt, sếp sẽ xem bạn như một người biết tận dụng tối đa cơ hội và phát huy các ưu điểm cá nhân.
Theo Trí Thức Trẻ – 28 April 2015
Đối với bất kỳ ai muốn làm quản lý hay thăng tiến, điều cần làm là ghi điểm với cấp trên. Không có gì tạo được ấn tượng tốt với cấp trên hơn là khả năng quản lý bản thân. Nếu cấp trên thường phải tiêu tốn nguồn lực vào việc quản lý bạn, bạn sẽ bị xem là kẻ bòn rút thời gian và năng lượng của họ. Nhưng nếu bạn quản lý bản thân tốt, sếp sẽ xem bạn như một người biết tận dụng tối đa cơ hội và phát huy các ưu điểm cá nhân. Nhờ đó họ sẽ tìm đến bạn mỗi khi cần giúp đỡ hay lời khuyên khi gặp khó khăn.
Dưới đây là 7 điều bạn cần làm để tự quản lý bản thân được bậc thầy nghệ thuật lãnh đạo John C.Maxwell đề cập trong cuốn sách The 360o Leader (Tạm dịch: Nhà lãnh đạo 360o).
1. Quản lý cảm xúc
Các nghiên cứu khoa học cho thấy những người có các vấn đề cảm xúc dễ bị tai nạn ô tô hơn những người bình thường tới 144% hay cứ 5 nạn nhân của các vụ tai nạn chết người, có 1 người đã cãi nhau với người khác trong 6 giờ trước vụ tai nạn. Quản lý cảm xúc là điều rất quan trọng, đặc biệt là với các nhà lãnh đạo bởi mọi hoạt động của họ đều có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người khác.
Những nhà lãnh đạo giỏi biết khi nào nên thể hiện và khi nào nên trì hoãn cảm xúc. Đôi khi họ bày tỏ cảm xúc để tìm sự thông cảm và làm lay động người khác. Liệu đây có phải “mị dân” không? John C.Maxwell cho rằng không phải vậy, miễn sao điều đó tốt cho tổ chức và không phải là vì lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên kiềm chế cảm xúc khác với phủ nhận và chôn vùi nó. Điểm mấu chốt là bạn nên đặt người khác chứ không phải bản thân lên đầu khi giải quyết và xử lý các cảm xúc.
2. Quản lý thời gian
Quản lý thời gian là vấn đề đặc biệt khó khăn đối với những người ở vị trí giữa một tổ chức. Những nhà lãnh đạo cấp cao có thể ủy quyền, những công nhân được trả tiền theo giờ và làm bất cứ điều gì có thể trong khoảng thời gian đó còn những người ở giữa thường chịu áp lực từ 2 nhóm trên và thường được kỳ vọng làm thêm giờ để hoàn thành công việc.
Thời gian là tiền bạc, một chuyên gia tâm thần học từng nói “Chừng nào chưa coi trọng bản thân, bạn còn chưa coi trọng thời gian.” Trong cuộc sống này mọi người không thanh toán mọi thứ bằng tiền mà bằng thời gian của họ. Vì vậy thay vì nghĩ đến việc bạn làm và thứ bạn mua dưới dạng tiền bạc, hãy nghĩ tới chúng dưới dạng thời gian. Hãy nghĩ xem điều gì đáng để bạn dành trọn cả cuộc đời? Từ đó bạn sẽ có cách quản lý thời gian hiệu quả hơn.
3. Quản lý các ưu tiên
Quy luật chung thường cho thấy khi bạn không biết cách quản lý các ưu tiên, công việc của bạn sẽ luôn áp lực và giảm hiệu suất. Đặc biệt với vị trí ở giữa một tổ chức, bạn sẽ có một núi công việc cần xử lý. John C.Maxwell đề xuất cách quản lý các ưu tiên như sau:
80% thời gian- làm những việc bạn giỏi nhất
15% thời gian- làm những việc bạn đang học hỏi
5% thời gian-làm những việc cần thiết khác.
Có thể bạn sẽ gặp khó khăn trong thời gian đầu thực hiện nhưng bạn cần học cách giao quyền, tính kỷ luật và phải “nhẫn tâm” khi quyết định đâu là những việc không nên làm. Thích làm một số công việc không có nghĩa phải đưa nó vào danh sách việc cần làm. Hãy chỉ làm những việc có thể giúp bạn phát triển khả năng hoặc những việc cấp trên yêu cầu đích thân bạn làm. Tất cả những công việc còn lại đều là ứng viên cho danh sách những việc không nên làm của bạn.
4. Quản lý năng lượng
Ngay cả những người giàu năng lượng nhất cũng có thể bị rút cạn năng lượng trong những tình huống khó khăn hoặc không biết cách phân bổ, sử dụng chúng. Có 3 nhóm hao mòn năng lượng mọi người thường mắc phải gồm: Làm những việc không quan trọng, Không có khả năng làm những việc thật sự quan trọng, Không có khả năng ứng phó với vấn đề.
Vì vậy để quản lý năng lượng bản thân tốt nhất, mỗi ngày bạn bên nhìn vào lịch làm việc của mình và tự hỏi “Việc nào là việc chính?” . Từ đó hãy đảm bạn mình có đủ năng lượng để thực hiện việc đó với sự tập trung và xuất sắc.
5. Quản lý suy nghĩ
Kẻ thù lớn nhất của suy nghĩ sâu sắc là sự bận rộn. Khi bạn muốn trở nên xuất sắc, hãy biết cách quản lý sự bận rộn quanh mình. Nếu bạn thấy nhịp độ cuộc sống quá gấp gáp và không có phút nào để suy nghĩ trong cả ngày làm việc, hãy tạo thói quen viết nhanh ra giấy 3 đến 4 điều cần đầu tư thời gian để tìm cách giải quyết. Sau đó tìm thời gian thích hợp để suy nghĩ về những điều đó.
Việc suy nghĩ chỉ mất khoảng 30 phút mỗi ngày, hoạc bạn có thể lưu lại những điều đó trong một tuần và dành thời gian xử lý trong ngày thứ 7, miễn sao đừng để quá lâu đến nỗi nó làm bạn nản lòng và sợ hãi.
Hãy nhớ một nguyên tắc: 1 phút> 1 giờ. Một phút suy nghĩ đáng giá hơn một giờ nói chuyện phiếm hay làm việc không có kế hoạch.
6. Quản lý lời nói
Các nhà lãnh đạo cấp cao thường không nghe lời bạn nói mà thường đánh giá cao hành động. Nếu họ ngừng việc đang làm lại để lắng nghe, những lời họ nghe sẽ có giá trị. Vì vậy hãy sử dụng ngôn từ hiệu quả nhất. Nếu bạn muốn lời nói của mình có sức nặng, hãy để tâm nhiều hơn đến chúng Nếu bạn quản lý tư duy và tận dụng hiệu quả khoảng thời gian tập trung suy nghĩ, kỹ năng quản lý lời nói của bạn sẽ tiến bộ trông thấy. Đối với cấp trên, nếu bạn có điều gì đáng nói, hãy nói ngắn gọn và súc tích. Nếu không có gì đáng nói, đôi khi việc tốt nhất nên làm là giữ yên lặng.
7. Quản lý cuộc sống riêng
Điều cuối cùng, dù bạn làm việc và quản lý bản thân rất tốt ở chỗ làm nhưng cuộc sống của bạn là một mớ bung bét, cuối cùng mọi thứ sẽ trở nên tồi tệ. Có ích gì khi leo lên đỉnh cao sự nghiệp nhưng hôn nhân lại tan vỡ, bạn trở thành người xa lạ với con cái?
“Không có thành công nào trong sự nghiệp đáng để ta phải hy sinh gia đình của mình”, John C.Maxwell cho biết. Vì vậy, John C.Maxwell định nghĩa thành công là có những người thân thiết nhất luôn yêu thương và tôn trọng mình. Ông muốn có được tình yêu và sự tôn trọng của vợ, con trước khi có sự tôn trọng của bất cứ ai làm việc với mình. Và bạn cũng thế chứ?
Yên Nhiên
Theo Trí Thức Trẻ