VỮNG ĐẠI PHÁT

Website: 888888.COM.VN .&. Email : vungdaiphat@gmail.com

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015

Tham Nhũng = Nhu Cầu Mưu Sinh của 20 -30 Triệu Người?

Nguồn : Vững Đại Phát
Chuyện tham nhũng
Tác giả: Nguyễn Vũ Bình – RFA – 18 April 2015
Trong thời gian gần đây, vấn để tham nhũng, hối lộ lại được hâm nóng trở lại bởi một phát biểu của ông bộ trưởng bộ Công an Việt Nam. Trong phiên chất vấn của Đại biểu Quốc Hội ngày 14/3/2015, bộ trưởng công an đã khẳng định: “Trong môi trường công tác chịu rất nhiều áp lực, tuyệt đại đa số cảnh sát giao thông giữ được phẩm chất đạo đức của mình, hoàn thành nhiệm vụ, không nhận hối lộ, không tiêu cực”
Không những vậy, trong các lập luận của những người yêu chế độ, muốn giảm thiểu mức độ trầm trọng của tình trạng tham nhũng ở Việt Nam thường cho rằng, nước nào cũng có tham nhũng, Việt Nam cũng tham nhũng như mọi nước khác trên thế giới mà thôi. Vậy thực hư của chuyện này là thế nào? có đúng là Việt Nam cũng như tất cả các nước đều có tham nhũng và tham nhũng đều giống nhau hay không?
Nhìn nhận một cách khách quan, ít nhất vế đầu của lập luận, nước nào cũng có tham nhũng và việt Nam cũng có tham nhũng là đúng! Sự khác nhau chỉ xuất hiện khi đi vào phân biệt sự khác nhau về tham nhũng ở các nước khác và sự tham nhũng ở Việt Nam. Có thể dùng hình ảnh về bệnh tật của con người để mô tả sự khác nhau về tham nhũng ở các nước và ở Việt nam. Ở các nước (những người nói Việt Nam giống các nước về tham nhũng rất hay so sánh với các nước như Mỹ, Đức, Nhật và châu Âu) thì tham nhũng của họ được ví như bệnh ghẻ lở, hắc lào tức là bệnh ngoài da. Còn tham nhũng ở Việt Nam, nhẹ thì so sánh với ung thư xương, ung thư máu còn chính xác thì so với Si đa giai đoạn cuối. Sự khác biệt là như vậy.
Ở các nước tư bản phát triển, nơi có sự công khai, minh bạch và thông tin trung thực, cùng với hệ thống tam quyền phân lập, đối trọng quyền lực và các định chế ngăn ngừa và phòng chống tham nhũng, thì việc tham nhũng là có, nhưng chỉ là số ít, các vụ việc đơn lẻ và mức độ không quá nghiêm trọng. Sự việc tham nhũng ở các nước này, nếu bị phát hiện thì tuyệt đại bộ phận đều bị truy tố, dù cấp bậc và chức vụ của người tham nhũng ở vị trí nào đi chăng nữa. Động cơ tham nhũng ở đây, thường là kẻ tham nhũng gặp khó khăn bất ngờ về tài chính, hoặc những phút bốc đồng nổi máu tham không kiềm chế được. Phần lớn công chức, quan chức trong hệ thống công quyền đều nhận thức được cái giá phải trả vô cùng nặng nề so với công sức họ bỏ ra để học hành, thi cử và làm việc để có được vị trí họ đang nắm giữ. Chính vì vậy, trong suy nghĩ và hình thành động cơ đã có sự khác biệt rất lớn với Việt Nam trong vấn đề tham nhũng. Tóm lại, với các định chế hiện hành cùng với mức lương đủ sống, tham nhũng ở các nước này là những hiện tượng cá biệt, trong các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, không phải phổ biến và không thành hệ thống.
Tham nhũng ở Việt Nam là câu chuyện khác hẳn. Đầu tiên, mức lương của tất cả các chức danh, của quan chức hoàn toàn không đủ sống theo nhu cầu bình thường của họ. Do hệ thống chính trị độc tài, toàn trị ở Việt Nam đã duy trì hai hệ thống tổ chức song song, đó là hệ thống đảng và hệ thống chính quyền. Đồng thời, Việt Nam còn có các tổ chức ngoại vi là các hội, đoàn thể cùng với hệ thống an ninh, mật vụ, đặc tình để giám sát và kiểm soát dân chúng. Chính vì vậy, số lượng người thông thường hưởng lương ngân sách của một quốc gia tương ứng với 90 triệu dân là khoảng 3-4 triệu người thì ở Việt nam, con số này khoảng 20-25 triệu người. Nếu tính cả số người nhận phụ cấp hàng tháng và khối doanh nghiệp nhà nước trong ngân sách chi quốc gia, thì số người hưởng phụ cấp từ 200.000 VNĐ trở lên, tới lương Tổng bí thư
số lượng khoảng từ 30-40 triệu người. Một con số khủng khiếp. Với một số lượng lớn chi thường xuyên của ngân sách như vậy, thì mức lương của công chức và quan chức hoàn toàn không thể đủ sống. Chính vì vậy mà nguyên nhân đầu tiên dẫn tới động cơ tham nhũng ở Việt nam chính là do cơ chế, do mức lương không đủ sống mà tất cả mọi người bắt buộc phải tham nhũng, kiếm chác để duy trì cuộc sống.
Lý do thứ hai, quan trọng không kém là tình trạng mua quan, bán tước đút lót, hối lộ để vào làm công chức, viên chức, vào biên chế nở rộ hiện nay. Tất cả những ai, có lương tâm và hiểu biết ở Việt Nam đều phải thừa nhận, gần như tuyệt đối, các suất biên chế, các chức danh ở Việt nam đều phải có một cái giá nhất định nào đó. Trường hợp các suất biên chế, các chức danh không mất một đồng nào chỉ có con cháu của cán bộ cao cấp gửi gắm ở cấp dưới mà thôi. Với việc mua các suất biên chế, mua các chức danh như vậy, các công chức, quan chức bắt buộc phải tham nhũng để bù vào số tiền, số vốn đã bỏ ra để mua các chức danh đó.
Có một điều cần nhấn mạnh, về các văn bản, thủ tục và quy trình thực hiện việc tham nhũng ở Việt Nam cũng không hề dễ dàng. Tức là nếu ai muốn tham nhũng được, ví dụ ở một công trình xây dựng, thì phải có sự đồng lòng của toàn bộ hệ thống, những đầu mối để hoàn thành các thủ tục giải ngân. Chính vì vậy mà tham nhũng ở Việt nam là sự tham nhũng có hệ thống, chứ không hề đơn lẻ và cá biệt. Điều này giải thích các vụ việc tham nhũng rất khó bị phanh phui, như mấy vụ tham nhũng tiền ODA của Nhật bản trong giao thông, đều do phía Nhật Bản phát hiện (vụ đại lộ Đông – Tây; vụ đường sắt trên cao). Và mức độ tham nhũng ở Việt Nam, theo luật ngầm tự hiểu trong hệ thống, đối với các công trình xây dựng, giao thông là 75%. Tức là số tiền thực được đưa vào các công trình là 25%, còn lại 75% là số tiền thất thoát, tham nhũng. Đây gọi là tỷ lệ vàng ở Việt Nam.
Như vậy, sự khác biệt về tham nhũng ở Việt Nam so với các nước khác, đó là tham nhũng do cơ chế. Người ta cần tham nhũng để có tiền để sống, để có tiền mua các chức danh, chức vụ và cùng với nó là cuộc sống sung sướng, hưởng thụ. Ngay từ năm 2000, đã có người tổng kết rằng: tham nhũng ở Việt Nam là phương thức tự tồn tại của tất cả những người có điều kiện tham nhũng do mức lương khốn khổ cộng với tình trạng mua quan bán tước nở rộ hiện nay. Như vậy, chúng ta đã có câu trả lời về tham nhũng và cách thức xóa bỏ tham nhũng ở Việt Nam./
Hà Nội, ngày 18/4/2015
N.V.B
Ảnh của Vững Đại Phát.
Người đăng: Unknown vào lúc 07:43 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

TPP : Cái Nhìn Của Alan Từ 2 Năm Trước

Nguồn : Vững Đại Phát
TPP : Cái Nhìn Của Alan Từ 2 Năm Trước
Alan Phan
Ngày: 30 / 07 / 2013
Bất hạnh giúp ta thử thách tình bạn và nhận diện kẻ thù (Misfortune tests friends and detects enemies) Proverb
Trong những buổi nói chuyện của tôi gần đây, câu hỏi “hot” nhất của mọi doanh nhân từ Việt, ASEAN…đến Mỹ và Trung Quốc…là chuyện gia nhập của Việt Nam vào Hiệp Ước Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) với 10 quốc gia và 2 đại cường kinh tế, Mỹ Nhật. GDP của các hội viên TPP chiếm đến 40% GDP toàn cầu. Nhiều chuyên gia cho rằng TPP là một sách lược của Mỹ để chống sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc.
Căn bản của quyền lợi
Trước khi đi sâu về phân tích, tôi xin nói rõ là tôi không có một thông tin nào ngoài những tin tức bình luận trên các mạng truyền thông. Và tôi cũng không thể bàn sâu vào góc cạnh chính trị của sự kiện quan trọng này vì lý do đơn giản là “pháp luật” của Việt Nam không cho phép.
Trước hết, theo kinh nghiệm làm ăn và các cuộc thương thuyết trong lịch sử, hay chỉ đơn giản giữa 2 người “dân đen”, bất cứ một giao dịch thành công nào cũng đòi hỏi sự thỏa mãn tối thiểu giữa hai bện hay nhiều bên. Thuận mua vừa bán. Sự đổi chác về quyền hay lợi đều dựa trên căn bản: tôi được gì và mất gì trong giao dịch này? Dù có thể một bên thiếu xuy sét và hoang ưởng trong kỳ vọng (gọi là ngu xuẩn) nhưng vào thời điểm giao dịch, họ đều thương lượng gay gắt để đạt được điều mình muốn.
Do đó, muốn hiểu rõ hơn về sự gia nhập của Viêt Nam vào TPP, ta phải trở lại vấn đề căn bản: Việt Nam muốn gì và Mỹ muốn gì? Dĩ nhiên 10 nước còn lại cũng có những lợi ích quốc gia riêng của họ, nhưng với sự chi phối và với vai trò đầu đàn, Mỹ có thể “thuyết phục” họ khá dễ dàng.
Một sinh viên trẻ cũng có thể đọc báo để thấy Việt Nam muốn gì từ TPP: thị trường béo bở và rông mở của 2 quốc gia Mỹ Nhật. Hiện nay, Viêt Nam đang xuất khẩu hơn 20 tỷ USD qua thị trường Mỹ và 9 tỷ USD qua thị trường Nhật (khoảng 25% của GDP). Xuất siêu từ Mỹ lên đến 15 tỷ USD mỗi năm. Nếu được hưởng hàng rào thuế quan ưu đãi dành cho hội viên (gần bằng 0% cho phần lớn mặt hàng), lượng xuất khẩu Việt Nam qua TPP sẽ tăng gấp 2 lần, chỉ cần nhờ vào lợi thế cạnh tranh duy nhất này.
Những suy đoán sai lầm
Nhiều nhà phân tích cho rằng Việt Nam cũng muốn tìm các đồng minh chiến lược mới, nhất là Mỹ, để hóa giải ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc về chánh trị và quân sự tại Biển Đông và sự áp đặt về cơ chế. Tôi không tin điều này. Việt Nam đã liên tục khẳng định “16 chữ vàng và 6 cái tốt” trong 80 năm lịch sử và gần đây nhất là vào 10 văn kiện vừa ký kết trong tháng 6 năm nay.
Trái với những suy đoán trước đây, tôi cho rằng thực sự Trung Quốc đang đứng sau và khuyến khích Việt Nam gia nhập TPP để họ có thể hưởng lợi gián tiếp từ khía cạnh kinh tế (sau khi đã nắm kỹ các yếu tô khác về đồng minh Việt).
Ba năm trước, tôi có tham dự nhiều buổi “trình diễn” (road show) tại Trung Quốc do các quỹ tư nhân ASEAN tìm nhà đầu tư vào Việt Nam. Phần lớn “không quan tâm” là câu trả lời. Trung Quốc đang xuất khẩu qua Việt Nam 29 tỷ USD mỗi năm (nhập siêu là 18 tỷ USD) chiếm đến 25% của GDP Việt mà không tốn sức lắm. Nhận xét chung của các doanh nhân Trung Quốc là việc đầu tư vào Việt Nam là một việc làm “thừa thãi”.
Tuy nhiên, 6 tháng vừa qua, tôi nhận liên tiếp những cuộc gọi và viếng thăm của doanh nhân Trung Quốc. Họ bắt đầu quan tâm đến việc thiết lập nhà máy tại Việt Nam để hưởng lợi từ TPP. Chẳng hạn hàng may mặc xuất từ Trung Quốc vào Mỹ phải chịu thuế hải quan là 20% đến 40%. Với TPP, nhà máy tại Việt Nam sẽ thâu lợi ngay khoản chi phí này và các quyền lợi khác mà Việt Nam thường ưu đãi cho các dự án FDI. Tôi nghĩ chánh phủ Trung Quốc rất thú vị nếu dùng được bàn đạp Việt trong trận chiến kinh tế với Mỹ. Với hơn 80% sản phẩm Việt xuất khẩu phải tùy thuộc vào linh kiện và nguyên liệu từ Trung Quốc, mối lợi cho Trung Quốc sẽ tăng lũy tiến với TPP. Có thể nói, Trung Quốc sẽ hưởng lợi từ TPP nhiều hơn là Việt Nam.
Nhìn từ phía Mỹ
Dĩ nhiên, các chuyên gia Mỹ không ngu gì mà không biết những gì Trung Quốc và Việt Nam sẽ hưởng từ TPP. Tuy nhiên, cái gót chân Achilles của nước Mỹ luôn luôn là các chính trị gia và những nhóm lợi ích quyền lực, nhất là nhóm tài phiệt Mỹ (gốc Do Thái).
Trước hết, nhóm tư bản tài chánh của Mỹ không bao giờ quan tâm đến quyền lợi quốc gia. Với họ, toàn cầu hóa và lợi nhuận tối đa là mục tiêu chính. Những yếu tố khác như chánh trị hay quân sự là chuyện “người khác”. Vì sự hấp dẫn của thị trường 1.3 tỷ dân mà họ đã lao đầu không suy nghĩ vào Trung Quốc. Cho đến nay, qua các nguồn tài trợ, họ đã giúp Trung Quốc cất cánh và trở thành một đối thủ đáng quan ngại của Mỹ. Vì số lượng khủng của petrodollars (tiền thâu nhập từ dầu khí) mà giới tài chánh Wall Street ủng hộ các vương quốc và chế độ độc tài (kể cả việc đẩy Mỹ vào trận chiến Iraq). TPP là một miếng mồi ngon cho các tập đoàn này.
Ngay sau đó là phe chính trị “tả phái” của Mỹ, hiện bao gồm những trí thức tháp ngà và các nhà hoạt động xã hội trẻ (hơi dư thừa lý tưởng). Phe tả luôn thích ra tay “giúp” người nghèo hay nước nghèo qua OPM (tiền người khác). Với lá phiếu của thành phần “hưởng đủ mọi phúc lợi của xã hội mà không đóng thuế” đang chiếm đến 53% số cử tri, phe tả đang nằm trong thời kỳ vàng son của đủ mọi chương trình OPM. Lãnh đạo số 1 và tiêu biểu cho phe tả là ngài Barrack Obama.
Có thể nói Obama là một chuyên gia cao cấp về OPM. Sinh ra trong một gia đình hưởng nhiều phúc lợi (welfare benefits) vì cha mẹ nghèo, Obama đã hiểu ngay từ thời thơ ấu về sự hấp dẫn của OPM. Sau khi tốt nghiệp luật sư, chàng Obama chọn làm một nhà tổ chức cộng đồng (community organizer) hoàn toàn sống nhờ vào các chương trình xã hội từ tiền ngân sách của các chánh phủ liên bang và địa phương. Có thể nói, Obama và phe nhóm đã dùng OPM để leo lên tuyệt đỉnh của danh vọng.
Việc Obama tung chút tiền vào cá cược TPP cho Việt Nam cũng là một điều dễ hiểu. Các lãnh đạo Việt Nam đã thuyết phục Obama với ngôn ngữ OPM và chủ nghĩa xã hội mà Obama rất am hiểu. Thực ra, nếu nói về OPM, quan chức Việt Nam phải là sư phụ của Obama. Thay vì qua Việt Nam thăm viếng, tôi nghe đồn là Obama định dự một khóa tu nghiệp dài hạn về OPM tại Hà Nội sau khi thôi làm Tổng Thống Mỹ.
Cuối cùng, giới quân sự của Mỹ luôn luôn “yêu” chiến tranh, nơi sự nghiệp và quyền lợi của họ gắn liền vào cái gọi là “an ninh quốc gia” và “cảnh sát quốc tế”. Dù họ biết thừa về khả năng rủi ro khi đổ quân vào các xứ lạ, họ cũng biết là không có một cuộc chiến nào mà không đem thêm quyền lực và tiền bạc cho phe nhóm (dĩ nhiên cũng là OPM). Mộng ước biến Việt Nam thành một đồng minh chiến lược có lẽ sẽ tan theo mây khói khi Mỹ thực sự đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông; nhưng đối với những phí tổn đang phung phí toàn cầu, thì cái giá phải trả cho tư duy sai lầm này của phe quân sự Mỹ sẽ rất nhỏ và có thể xếp vào loại “thử và sai” (trial and error).
Rào cản còn lại
Ba nhóm trên đã bắt tay để bỏ qua quyền lợi kinh tế của quốc gia để theo đuổi một chánh sách nhiều “hoang tưởng”, nhất là khi nghĩ rằng Việt Nam sẽ thành một con cờ để “cân bằng” Trung Quốc trong địa chánh trị toàn cầu.
Nhiều người cho rằng vấn đề nhân quyền và dân chủ sẽ là một rào cản ngăn Việt Nam gia nhập TPP. Phe nhóm Obama sẽ cố “vận động dư luận” để thỏa mãn phần nào đòi hỏi của phe hữu và khối cử tri Việt Kiều về vấn đề này. Nhưng trong cốt lũy của các nhóm lợi ích này, “nhân quyền hay dân chủ” không bao giờ là mục tiêu, mà chỉ là “miệng lưỡi đầu môi” (lip service). Trong khi đó, phần lớn cử tri Mỹ khác sẽ không quan tâm vì đây là chuyện quá nhỏ trong đời sống bình nhật của người dân Mỹ. Nếu có cuộc khảo sát về TPP, tôi chắc là 90% dân Mỹ sẽ nghĩ nó là chữ viết tắt cho một hiệp hội quần vợt mới của Mỹ.
Do đó, trong bản thông cáo chung của ông Obama và ông Sang, hai bên cam kết là sẽ hoàn tất việc Việt Nam gia nhập TPP vào cuối năm. Nếu đúng vậy, đây sẽ là thắng lợi lớn lao cho quan chức Việt Nam, Trung Quốc và vài ba nhóm lợi ích của Mỹ.
May vẫn hơn hay
Tuy nhiên, nó cũng sẽ giúp sự hồi phục của nền kinh tế Việt sớm hơn dự đoán nhờ sự gia tăng về xuất khẩu và đầu tư FDI từ nhiều nơi, nhất là Trung Quốc. Trong tình thế gần như tuyệt vọng của nền kinh tế Việt, TPP sẽ là một phép mầu và ân sủng từ Thượng Đế. Lá số tử vi của quan chức Việt và Tàu quả thật là đầy sao may mắn.
Về phía Mỹ, sự thất vọng gần như chắc chắn trong 5 năm sắp tới khi các nhà tư bản Mỹ nhận ra là những số liệu thống kê và báo cáo tài chánh của các đối tác Việt Nam còn tệ hơn tiểu thuyết; và các nhà chính trị quân sự thấm hiểu lời khuyên về việc “đừng nghe những gì họ nói”…
Kẻ cắp khi gặp bà già …thì cũng phải bó tay.
Ảnh của Vững Đại Phát.
Người đăng: Unknown vào lúc 13:46 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Báo Economist Nhìn Lại TPP

Nguồn : Vững Đại Phát
Có chuyện gì to tát đâu?
What’s the big deal?
Economist 28.03.2015
Bản dịch: Kevin Bùi
Bài viết giải thích tại sao cơn gió hoảng loạn đã thổi vào cuộc đàm phán thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Các cuộc đàm phán về TPP, một hiệp định thương mại đầy tham vọng nối liền Mỹ, Nhật Bản và mười nước khác – có tổng GDP chiếm tới 40% toàn cầu – đã lỡ quá nhiều kỳ hạn tới mức mà lỡ thêm một lần nữa có vẻ cũng không thành vấn đề. Nhưng các cuộc đối thoại đã tới điểm không thể rút lui. Nếu không có được một thoả thuận trong vài tuần tới, sẽ không có đủ thời gian để hoàn tất TPP trước khi nước Mỹ bị lôi kéo vào chiến dịch tranh cử tổng thống, và tiến bộ sẽ không thể có được cho tới năm 2017. Tuy nhiên, các nhà ngoại giao Mỹ cứ khăng khăng rằng hiệp định này đang diễn tiến như kế hoạch. Họ đôi khi có vẻ như đang tự thuyết phục chính mình rằng mục tiêu ấy – giờ đây là cốt lõi của chiến lược của Mỹ, vẫn còn có thể đạt được.
Mức căng thẳng của họ đã tăng cao với sự mất mặt của Mỹ gần đây trước Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB), một tổ chức phát triển tài chính đa phương mới do Trung Quốc lãnh đạo. Một số đồng minh thân cận của Mỹ đã đồng ý gia nhập để trở thành thành viên sáng lập, bỏ qua những lời cầu xin của Mỹ hãy tránh xa AIIB như một mối đe doạ tới các tiêu chuẩn toàn cầu. Sau thất bại đó, nước Mỹ cần TPP thành công hơn bao giờ hết. Họ rất có thể hoàn thành điều đó. Tuy nhiên vòng đối thoại gần đây nhất ở Hawaii, dường như đã kết thúc với nhiều bất đồng quan trọng chưa được giải quyết.
Điều này không hề gây ngạc nhiên. TPP được coi là hiệp định “của thế kỷ 21”, bao gồm các cải cách gây tranh cãi trong các lĩnh vực như tài sản trí tuệ, cách đối xử với các công ty nhà nước, các tiêu chuẩn về môi trường và lao động. Nó bao gồm các nền kinh tế ở các giai đoạn phát triển rất khác nhau – từ Peru và Việt Nam cho tới Mỹ và Úc. Và thậm chí với các vấn đề của thế kỷ 20 về thuế nhập khẩu và tiếp cận thị trường, vẫn tồn đọng khoảng cách lớn giữa hai nền kinh tế lớn nhất trong TPP, Mỹ và Nhật Bản. Cả về lĩnh vực nông nghiệp lẫn công nghiệp ô tô, Mỹ đều đòi hỏi những nhượng bộ mà thủ tướng Nhật, ông Shino Abe khó tìm được sự hậu thuẫn chính trị.
Tuy nhiên, các vấn đề khó khăn nhất, lại có thể lại ở chính Washington. Mười một quốc gia còn lại sẽ miễn cưỡng lật những lá bài cuối cho tới khi chính quyền Obama “đẩy nhanh” được Quyền Xúc tiến thương mại (Trade Promotion Authority) từ Quốc hội. Không có TPA, Quốc hội có thể loại bỏ bất kỳ điều khoản thoả thuận nào thay vì thông qua hay bác bỏ toàn bộ hiệp định. Và còn lâu mới có được TPA. Hiệp ước đang đối mặt với các chỉ trích từ cánh hữu đảng Cộng hoà cũng và rất nhiều nghị sỹ đảng Dân chủ. Paul Krugman, nhà kinh tế đoạt giải Nobel- cây viết thường xuyên trên tờ New York Times, đã đánh giá ảnh hưởng kinh tế của TPP là “yếu”. Vào tháng hai (2015), ông đã viết rằng nếu TPP không thành công cũng “không phải chuyện gì lớn”.
Ông Krugman đã sai ở đây. Thất bại trong việc hoàn thành TPP sẽ là đòn khủng khiếp tới các lợi ích của Mỹ với nhiều nguyên do. Bản thân tự do thương mại đã là một lý do. Với việc mất đi các triển vọng để đạt được các thoả hiệp toàn cầu tại WTO, hy vọng của Mỹ nằm ở TPP và xa xôi hơn là các hiệp định xuyên Đại Tây Dương và Đối tác đầu tư với châu Âu. Trong bài phát biểu thông điệp liên bang trước Quốc hội hồi tháng Giêng, Barack Obama nhấn mạnh vào “khu vực phát triển nhanh nhất thế giới”, tức là Châu Á và Thái Bình Dương.
TPP cũng đã trở thành trọng tâm của liên minh quan trọng nhất của Mỹ ở châu Á – Nhật Bản. Hoàn thành được TPP sẽ cho thấy hai đất nước có thể vượt qua những tranh cãi thương mại vốn luôn luôn là thước đo cho mối quan hệ. TPP cũng được xem là phần cốt yếu trong chiến lược của ông Abe để kéo nền kinh tế Nhật Bản ra khỏi sự trì trệ kéo dài, phần nào dựa vào các cải cách cơ cấu bắt buộc trên nền tảng TPP. Trong tuần qua, ông Obama đã xác nhận lời mời ông Abe tới Nhà Trắng vào ngày 28 tháng 4. Ông Abe cũng sẽ phát biểu trước Quốc hội Mỹ. Nhưng việc không thể hoàn tất được TPP, cộng với những khó khăn mới trong việc di chuyển một căn cứ hải quân Mỹ trên đảo Okinawa phía nam Nhật Bản có thể khiến việc công bố ra những lỗ hổng trong tình bạn vĩnh cửu giữa hai nước là không thể tránh khỏi.
Nói rộng hơn, một trọng tâm khoe khoang khác của chính sách ngoại giao Obama, “chuyển trục” hay “ tái cân bằng” các lợi ích của Mỹ về châu Á cũng vậy. Về mặt ngoại giao, điều này luôn có vẻ cho có lệ, vì các cuộc khủng hoảng ở Trung Đông và châu Âu đã làm phân tâm Mỹ. Các yếu tố quân sự tới giờ có vẻ chưa phải rất đáng kể. Và do vậy ngày càng nhiều các nhấn mạnh tới yếu tố kinh tế – chính là TPP. Sau khi đã quảng cáo nó là một biểu tượng Mỹ trong vai trò lãnh đạo khu vực này, Mỹ khó có thể than phiền nếu các nước khác cũng hiểu theo nghĩa này.
Dầu vậy, khi ông Obama trong bài phát biểu Thông điệp liên bang cổ vũ cho TPA, ông đã không bảo vệ nó như là về thương mại toàn cầu, về liên minh với Nhật Bản hay “tái cân bằng” với châu Á. Thay vào đó, ông lập luận rằng TPP là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của người lao động và doanh nghiệp Mỹ trước sự cạnh tranh chiến lược từ Trung Quốc, mà theo ông , muốn “thiết lập các quy tắc” trong khu vực.
Trung Quốc hiện tại bị loại trừ khỏi TPP, nhưng đang tham gia đàm phán với 15 quốc gia khác, bao gồm 10 thành viên khối ASEAN, cũng như Ấn Độ và Nhật Bản, về một cái có thể coi là hiệp định thương mại đối lập, gọi là RCEP. Trung Quốc từ lâu đã nghi ngờ rằng TPP được thiết kế để loại trừ nó – một trong các chính sách kiềm toả của Mỹ. Ví dụ, tại sao Việt Nam lại được tham gia? – một số học giả Trung Quốc đặt câu hỏi. Nền kinh tế đó (Việt Nam) cũng thiếu minh bạch và bị bóp méo bởi các doanh nghiệp nhà nước.
Ảo tưởng về cuộc chơi kẻ được người mất
Vậy là cuộc chiến đấu để hoàn tất các hiệp định thương mại dường như đã trở thành một lĩnh vực cạnh tranh chiến lược khác giữa Mỹ và Trung Quốc khi họ đấu nhau để giành ảnh hưởng trong khu vực. Cũng như với thất bại (của Mỹ) với AIIB, điều này là không đáng : Cả hai đất nước đều có lợi từ việc thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu mà TPP lẫn RCEP mang lại. Và Trung Quốc được tự do tham gia TPP nếu họ chấp nhận luật chơi, và điều này là không loại trừ. Giấc mơ ở đây là, cuối cùng thì sự chồng chéo các hiệp định thương mại sẽ hợp nhất một khu vực tự do thương mại rộng lớn bao gồm cả Mỹ lẫn Trung Quốc – dưới hệ thống luật lệ kiểu Mỹ. Vì vậy mỗi nước nên cổ vũ nỗ lực của nước kia. Thất bại trong việc hoàn thành TPP sẽ là thất bại nặng nề về mặt ngoại giao cho Mỹ vì nhiều nguyên do. Chọn cách mô tả TPP như cách chống lại mối hiểm hoạ từ Trung Quốc là thêm vào một lý do không cần thiết: Nó sẽ giống như một thắng lợi của Trung Quốc.
Ảnh của Vững Đại Phát.
Người đăng: Unknown vào lúc 13:45 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Ảo Vọng Hòa Giải Hòa Hợp…

Nguồn : Vững Đại Phát
Tác Giả : Alan Phan
Tháng Tư – 2015
(Bình an là khi những gì chúng ta nghĩ, chúng ta nói và chúng ta làm đều hòa hợp nhất quán – Peace is when what you think, what you say and what you do are in complete harmony – Mahatma Gandhi)
Tôi còn nhớ khoảng vài tháng sau khi bức tường Berlin sụp đổ, tôi ngồi ăn tối với một đại gia Mỹ (gốc Đức) và một chính trị gia khá cao cấp dưới quyền của TT Helmut Kohl/Tây Đức (lúc ấy vẫn là 2 quốc gia Tây và Đông Đức). Ngài đại gia Mỹ có một công ty lớn ở Tây Đức và đang liên doanh với một công ty nhỏ của tôi ở Trung Quốc. Ông cần một phân tích pháp lý và thị trường kỹ càng về chiến lược và hệ quả của thế trận mới khi nước Đức thống nhất. Nhà máy này của ông tại Trung Quốc hợp tác với một doanh nghiệp nhà nước của Đông Đức và đang cho họ giữ độc quyền phân phối sản phẩm tại khắp châu Âu. Tôi phải lò mò bay qua Munchen để bàn việc với ngài.
Mệt với chuyến bay và múi giờ, tôi lười biếng chỉ muốn bữa ăn qua nhanh để về khách sạn ngủ. Tuy nhiên, một phần câu chuyện của 2 ông làm tôi chú ý. Trước hết, vị chính khách than phiền là khá bận rộn với những sửa soạn cho sự hòa nhập chính thức của 2 quốc gia dự định hoàn tất trước cuối 1990. Vì theo hiệp định giữa 2 bên, nước Đức thống nhất sẽ là một successor (hậu thân) của Tây Đức, nên phía chính quyền Kohl gần như phải lo mọi vấn đề phát sinh; từ pháp lý, chính trị, kinh tế đến xã hội, dân sinh. Mệt nhất là một ngân sách rất tốn kém để trang trải tất cả chi phí cho việc nâng cao mức thu nhập của dân Đông Đức lên được khoảng 70% của dân Tây Đức trong thời hạn 10 năm sắp đến.
Với đầu óc còn ngây thơ, tôi nghĩ thống nhất là điều mọi người Đức đều ao ước, kể cả đại gia gốc Đức, vì ngài luôn luôn khoe về một quá khứ huy hoàng của Đế Chế Đức và hãnh diện với bất cứ điều gì, vật gì…liên quan đến Đức. Nhưng ngài lại phê phán một câu rất…ngược,” Chính quyền của anh (Tây Đức) đã làm một điều ngu xuẩn nhất. Đi nuôi từ thiện một thằng nghèo đói, bệnh hoạn…Trong vài chục năm tới, các anh sẽ phải mang cục nợ nặng nề này trên vai, và mọi ngươi dân Tây Đức sẽ nguyền rủa các anh vì họ phải đóng bao nhiêu thuế thêm để nuôi những thằng lười biếng, lợi dụng ; mặc cho nền kinh tế bị lụn bại, không thể cạnh tranh hữu hiệu. Ngoài ra, với dân số nghèo, tăng trưởng nhanh, di dân thông thoáng, Đông Đức sẽ lần lần nắm cán cân quyền lực chính trị…cũng như kinh tế. …Cũng may là Tây Đức còn đủ cash để vất tiền qua cửa sổ.”
Dĩ nhiên, ngài đại gia chỉ là thiểu số và nước Đức đã vượt qua nhiều thử thách để hòa nhập gần như toàn diện sau 25 năm. Thu nhập của dân Đông Đức đã đạt mức 78% thu nhập của dân Tây Đức. Tuy nhiên, ngài đại gia đã khá chính xác về dự đoán của mình. Theo thống kê từ The Telegraph, vào cuối 2014, Tây Đức đã tiêu xài gần 2 ngàn tỷ euros, khoảng 100 tỷ euros mỗi năm cho Đông Đức. Một quốc gia nghèo hơn Tây Đức chắc đã phá sản.
Lịch sử khó khăn trong việc thống nhất nước Đức là một đề tài tranh luận sôi nổi gần đây tại Hàn Quốc, nhất là khi tin đồn về sự sụp đổ của chính quyền Bắc Triều Tiên lan tràn trên mạng truyền thông quốc tế. Yêu nước, yêu đồng bào…là một chuyện, nhưng đa số người Hàn không muốn “phá sản” chỉ vì những anh em bà con chỉ lăm le “chôn sống” mình để cướp của. Một giáo sư Hàn Quốc tâm tư, “ Thống nhất đất nước là một lý tưởng overrated (đánh giá quá cao) và over its time (không hợp thời). Cứ giữ nguyên trạng như thế này thì tốt cho cả hai bên. Dân Bắc Triều Tiên chắc cũng quen và thích lối sống nô lệ rồi.”
Đây là chuyện của những quốc gia dân chủ pháp quyền, tôn trọng đa nguyên, dân trí tương đối cao và đủ giàu mạnh để trả tiền “mua thuốc Hòa Giải Hòa Hợp (HGHH)”. Ngay cả những lãnh tụ lớn với mục tiêu “quốc gia dân tộc trên hết”như Lincoln, Mandela, Truman…cũng rất vất vả để thực thi chính sách HGHH mà không gây nhiều thiệt hại đến người thua hay kẻ thắng…..
&&&&&&
Tháng tư lại về. Quận Cam của Nam Cali và có lẽ tại khắp các cộng đồng Việt ở hải ngoại, lại tràn ngập cờ vàng và những buổi lễ tưởng niệm ngày gẫy súng, ngày quốc hận, ngày thua cuộc. Bên kia bờ Thái Bình, chính quyền cờ đỏ đang chuẩn bị một lễ hội tưng bừng với pháo hoa, diễu binh và văn nghệ hoành tráng mừng ngày đại thắng. Hai thái cực, hai tác động, hai niềm tin, hai ký ức, hai thế giới…có thể nói là đối nghịch nhau như nước với lửa. Tuy nhiên, không ít người từ mỗi bên kêu gào …hòa giải hòa hợp (HGHH) để cùng nhau bắt tay xây dựng một Việt Nam hùng cường, giàu mạnh.
Mặc cho nghi ngờ từ nhiều phía, lời kêu gọi được giới trẻ và dân trí thức yêu thích vì đích đến của HGHH quá lý tưởng và đúng với tinh thần yêu nước yêu dân của lứa tuổi “yes, we can”. Tuy nhiên, lý tưởng là một chuyện nhưng thực tế còn rất xa vời với những rào cản chính:
Mọi xã hội hay cộng đồng ngày nay đã đa dạng hóa:
Từ quốc gia dân chủ đa nguyên đến xã hội độc tài chuyên chế, thành phần dân chúng gồm rất nhiều phân khúc: khác biệt về trí tuệ, khoảng cách giàu nghèo, thế hệ trẻ già, quan điểm chính trị, môi trường sinh hoạt, văn hóa truyền thống, nhu cầu dân sinh…Tại Mỹ, không ai có thể đem một anh chị “WASP” (da trắng, gốc Anglo-Saxon, đạo Tin Lành) hay tín đồ của KKK…đi HGHH với một người Mỹ gốc Phi, sống trong ổ chuột Harlem, theo đạo welfare…Còn Việt Nam, mỗi một đề tài tranh cãi dù rất nhẹ nhàng như chuyện “tự hào dân tộc” là đủ ma xát để gây ẩu đã bạo lực.
Nói chi đến những sự kiện lịch sử đã thay đổi như biển dâu định mệnh của cả chục triệu người?
2. Bất cứ việc HGHH nào cũng phải dựa trên tự do ngôn luận
Quyền tranh cãi, thảo luận, đề nghị… trong một khung cảnh hoàn toàn vắng mặt sự hù dọa hay cưỡng chế là điều kiện tất yếu của HGHH. Không ai dám mở miệng thành thực nói lên những suy nghĩ, những phán xét, những bức xúc của mình (vì sợ) thì HGHH cái gì? Ai có quyền làm trọng tài độc lập để định đoạt chuyện gì là nhậy cảm hay phạm luật? Ai đặt ra luật?
Khi phe đối diện không được tôn trọng và bị chửi rủa liên tục dưới nhiều hình thái thì ai muốn dây vào HGHH? Ích lợi gì?
3. HGHH phải dựa trên một nguyên lý căn bản (như quy luật ”đa số” quyết định)
Như đã trình bày, có quá nhiều phân khúc dân số mà dù có trăm ngàn lý lẽ khoa học hay logic cũng không thể thuyết phục người bất đồng quan điểm, chưa kể đến sự kiên định vì lơi ích riêng. Do đó, ở những xã hội dân chủ thực sự, mọi người phải tuân theo quyết định của đa số. Trong kỳ bầu cử năm 2008 , ông Obama thắng với số phiếu lịch sử là 52.7%. Tuy vậy, có nghĩa là gần 47% cử tri Mỹ đã không ủng hộ ngôi vị Tổng Thống của ông này.
Sự đồng thuận về quy luật căn bản để thực thi HGHH là điều gần như bất khả. HGHH không thể là một ban phát như xin-cho hay bổng lộc.
4. HGHH phải có niềm tin vào sự thành thực của phe đối diện
Chưa bao giờ “Nói Và Làm” quan trong như trong tiến trình này. Bởi vì chúng ta không phải nói về một đề tài khoa học, mà là một sự kiện chứa nhiều cảm xúc. Cả hai bên đều có những mất mát quá lớn lao đến độ chữ “nợ máu” được sử dụng thường xuyên. HGHH không thể xẩy ra khi chúng ta chưa hóa giải được nghi ngờ này. Câu nói “Đừng tin những gì CS nói mà nhìn những gì CS làm” đã quá phổ biến trong đầu óc và miệng lưỡi của mọi người ở hai bên. Chỉ có những việc làm đích thực đến từ những lời hứa nghiêm túc mới có thể bắt đầu quy trình HGHH.
&&&&&&&&
Từ những suy ngẫm trên, tôi tin sự HGHH giữa hai bên thù địch sau 40 năm hòa bình là điều không tưởng cho Việt Nam trong tương lai gần. Nhiều người còn nêu lý do sâu xa hơn về thái độ bảo thủ kiên định của các quyền lực bên phe XHCN, hay nói về những hận thù của các thuyền nhân bị mất người thân, tài sản… Họ đều đúng vì người có tài sản thâu tóm được sau 1975 sẽ không bao giờ “hy sinh” lợi ích riêng cho cái viển vông của lý tưởng HGHH. Người bị cướp của trắng trợn cũng khó thể nào mở lòng và ngồi HGHH thoải mái với người gây đau khổ cho mình?
Tệ hại hơn nữa, nhiều chính trị gia từ 2 bên, dùng mồi HGHH để câu khách thêm cho phe mình, được sắp xếp như một chương trình PR qua nhiều “bánh vẽ” với nhiều mưu tính ở sân sau.
Theo suy nghĩ cá nhân của tác giả, những gì chưa thể làm được thì nên im lặng đợi lúc “thiên thời”. Hãy để một hay vài thế hệ mới, với một dân trí và tư duy của thế kỷ mới, bắc cầu tiếp nối. Với HGHH, chắc chắn Việt Nam sẽ tạo thêm được một lực đẩy mới, giúp nhiều cho sự phát triển kinh tế và dân sinh như mong ước. Nhưng chém gió mãi về một giải pháp chưa thể khả thi chỉ làm chúng ta sao lãng những việc phải làm trước mặt và gây nên những thất vọng mới cho lớp trẻ.
HGHH phải xếp hàng đợi vậy…
Alan Phan
Ảnh của Vững Đại Phát.


Người đăng: Unknown vào lúc 12:52 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2015

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975

Nguồn : Vững Đại Phát
Bài 3: Thiếu Đói Khắp Noi
Quốc Việt – Đặng Phong – Tuổi Trẻ – 5 April 2015
TT - “Một hôm tôi xuống thăm người dân xã Hòa Nghĩa, huyện An Thụy, Hải Phòng thì thấy nhà nào cũng đói. Có gia đình ba cháu đói lả trên giường mà chẳng thấy người lớn…
Tôi hỏi cha mẹ các cháu đâu, bọn trẻ trả lời bố mẹ cháu ra bãi biển mò tôm cá về bán đong gạo”. Nhắc nhớ những ngày khó khăn này, ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, vẫn ngậm ngùi suy tư. Ông tâm sự hồi đương chức chủ tịch rồi bí thư Tỉnh ủy Hải Phòng phải chứng kiến nhiều cảnh như vậy. Người dân phải tìm mọi cách để xoay xở miếng ăn.
“Ám ảnh việc kiếm cái ăn!”
“Không biết lúc nào cha mẹ các cháu mới về đến nhà, mà có kiếm được gì để ăn không, tôi bảo tài xế về gấp nhà tôi lấy gạo nấu ngay cho các cháu ăn lại sức” – vừa tâm sự, ông Đoàn Duy Thành vừa giở lại những tài liệu ố màu thời gian.
Hồi còn kháng chiến, ông nghĩ dân mình chỉ cần có đất là không lo, thế mà hòa bình người dân có đất vẫn cứ đói triền miên. Ruộng quê ông xưa cày cấy bình thường cũng được 100kg lúa mỗi sào đất, bây giờ cũng ruộng ấy chỉ được 40kg lúa. Ở các thửa ruộng khác lão nông tri điền cũng chẳng làm khá hơn.
Cày cho mình thật sự mọi người hăng hái đổ mồ hôi, cày cho hợp tác xã cuối vụ tính điểm còn không đủ thóc nuôi con, chẳng ai hăng hái nổi. Ông Thành đi tham quan các tỉnh lúa khác tình hình cũng chẳng khá hơn. Nông dân vẫn phải ăn bo bo, khoai độn, cháo nấu với thân chuối mỗi ngày.
Ở Hải Phòng, ông Thành kể: “Kinh tế hợp tác xã chỉ bảo đảm được 20% cuộc sống xã viên, mọi người phải bổ ra ngoài kiếm sống. Ngay trên ruộng hợp tác xã rộng lớn dân cũng chỉ làm qua loa cho xong để còn về làm ruộng 5% thuộc về mình. Quanh đi quẩn lại mọi người triền miên ám ảnh việc kiếm ăn”.
Cũng như nhiều địa phương khác, chỉ qua 10 ngày đầu tháng cửa hàng gạo Hải Phòng chẳng còn gì bán cho cán bộ công nhân viên, kể cả bo bo. Thành phần có lương, có tem phiếu đã vất vả, người dân lao động càng khó sống hơn.
Hồi tưởng năm tháng vật vã kiếm ăn hầu như ai cũng có kỷ niệm khó quên. Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy, giám đốc Bảo tàng Dân tộc học – con trai cố bộ trưởng giáo dục Nguyễn Văn Huyên, tâm sự: “Hồi ấy đồng lương eo hẹp quá. Ở Hà Nội cả nhà tôi người là giáo sư, viện phó, người là tiến sĩ này nọ đều phải xoay xở kiếm thêm.
Khoảnh sân nhà tôi trở thành vườn – chuồng đúng nghĩa, chỉ còn thiếu mỗi ao, mà nếu có thể đào được thì chắc chúng tôi cũng đào rồi. Từ mẹ tôi, vợ một bộ trưởng đến con cái, dâu rể đều lăn ra nuôi heo, gà vịt, trồng nấm, sắn dây. Tối tối mọi người còn cặm cụi phân từng hạt đậu phộng bỏ vào bọc nilông đem bán kiếm thêm mấy hào”.
Tiến sĩ Huy bùi ngùi nhớ mẹ mình hồi ấy đã lớn tuổi mà đêm đêm vẫn thức khuya nối len, đan mũ, khăn quàng để vun vén thêm nồi cơm cho cả nhà ba thế hệ.
“Đến giờ tôi vẫn có thói quen ăn cơm nguội bữa sáng, mà hồi ấy có chén cơm là quý lắm. Chỉ mẹ già và con còn nhỏ mới được ưu tiên, chúng tôi vẫn phải ăn độn bo bo” – tiến sĩ Huy tâm sự mình vẫn nhớ “hương” phân gián trong chén bo bo.
Cứu đói!
Nhiều nơi ở miền Nam mấy trăm năm chưa từng có chuyện thiếu miếng ăn, thế mà người dân thời kỳ này cũng phải bươn chải xoay gạo từng bữa. Cả xã hội vật vã kiếm ăn. Cả sinh viên cũng không thể toàn tâm ngồi ghế giảng đường.
Thầy giáo Nguyễn Xuân Thiệu, Trường tiểu học Nguyễn Văn Nguyên, huyện Đức Huệ, Long An, kể năm 1986 mình rời quê đi học sư phạm ở thị xã Tân An. Tiếng là ngành sư phạm được bao cấp hơn ngành khác, nhưng suốt thời gian dài người thầy này chỉ ăn hai bữa
mỗi ngày, thậm chí một bữa. “Lương” sinh viên sư phạm 13kg gạo, sau được quy tiền. Cầm số tiền đó mà ra ngoài ăn dè sẻn nhất cũng chỉ năm ngày đã thiếu, nên 25 ngày còn lại là nồi cơm sinh viên tự nấu và độn đủ thứ từ bo bo đến bắp, khoai mì… Tất cả trông vào gạo nhà quê tiếp tế, nhiều đợt không có phải nấu cháo húp với muối ớt chứ không được nước mắm ớt.
Hồi tưởng thời kỳ thiếu đói, ông Lê Văn Triết – nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại – ray rứt kể có những cuộc họp Chính phủ, Quốc hội thật nặng nề chuyện miếng cơm người dân.
Một lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa họp Quốc hội bị chất vấn: tại sao tỉnh lúa Bắc Trung bộ lại để dân đói trầm trọng? Vị cán bộ này khóc ròng giữa Quốc hội và thừa nhận địa phương bất lực…
Ông Đoàn Duy Thành, nguyên phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, cũng có kỷ niệm ngậm ngùi Tết Nguyên đán năm 1988 với hơn 100 người chết đói ở Thanh Hóa vì tình hình kinh tế khó khăn, lạm phát chung lại thêm mất mùa nặng ở địa phương.
Tuy nhiên, theo ông Thành, con số này vẫn chưa đầy đủ vì nhiều nơi báo cáo thiếu. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng mới nhận chức định vào Nam ăn tết, phải ở lại Hà Nội lo chuyện cứu đói. Hai ông gặp nhau ngày tết mà nặng trĩu nỗi lo.
Là nhân chứng trong đoàn cán bộ cứu đói Thanh Hóa, ông Nguyễn Thành Thơ – tức Mười Thơ, nguyên phó bí thư Thành ủy TP.HCM – kể vừa xuống ga xe lửa đã sốc với cảnh dân lén lút bán gạo với giá đắt gấp nhiều lần bình thường.
Lúc đong gạo, vài hạt bị vương vãi dân tranh nhau lượm. Ông Mười Thơ hỏi cán bộ tỉnh: “Địa phương có gạo dự trữ không?”. Người này thở dài: “Còn một ít dự trữ, nhưng chỉ đủ cho cán bộ, nhân viên ăn thôi”.
Đi vào vùng thiếu đói Thanh Hóa, ông Mười Thơ tiếp tục sốc với những góc bếp không một hạt gạo nào, có nhà chỉ còn một vài củ khoai mì, bắp, thậm chí chỉ có những rổ lá cây dại mà dân vào rừng kháng chiến như ông cũng không biết có ăn được không.
Bà Cao Thị Hảo – nguyên cục phó Cục Cung cấp lương thực Bộ Lương thực – đi kiểm tra tình hình phân phối lương thực ở Thanh Hóa ám ảnh mãi cảnh: “Một bà cụ chống gậy từ trong nhà ra đón chúng tôi. Bà đi được vài bước thì ngã quỵ xuống không đứng lên nổi. Tôi hỏi người con thì nghe câu trả lời nhiều ngày nhà không còn gì ăn, bà cụ lả vì đói”.
Bà Hảo kể những thời điểm thiếu đói nghiêm trọng đến mức xe chở gạo miền Nam ra Hà Nội nhưng cứ phải đỗ dọc đường vì không thể qua được các nơi thiếu đói gay gắt như Thanh Hóa, Nghệ An. Chính bà Hảo phải điện khẩn cấp về Bộ Lương thực xin ứng ít gạo, bo bo để tạm cứu đói cho dân.
Nền kinh tế tập thể nông dân chỉ tồn tại trên giấy và trên hình thức do cấp ủy địa phương sợ trung ương nên phải làm. Nông dân lại sợ cấp ủy nên phải vào tập đoàn sản xuất hay hợp tác xã.
Năm 1976 sản lượng lúa bình quân trên một người dân là 211kg thì đến năm 1980 chỉ còn 157kg. Kế hoạch năm năm 1976-1980 nâng tổng sản lượng lúa lên gần gấp đôi vào khoảng 21 triệu tấn, nhưng đến năm 1980 chỉ đạt được khoảng một nửa, chưa bằng mức 11,827 triệu tấn của năm 1976.
…Do không thu mua được lương thực, người dân các thành phố phải ăn độn. Thủ đô Hà Nội khẩu phần định lượng được mua giá cung cấp 0,40 đồng/kg vốn đã ít ỏi (13 kg/người/tháng), đến tháng 3-1978 thực tế chỉ còn được 4kg gạo, còn lại là khoai lang, sắn khô… Chưa bao giờ tình trạng thiếu hụt lương thực lại trầm trọng như vậy, kể cả thời chiến. Thường trực Ban bí thư Nguyễn Duy Trinh phải điện khẩn các tỉnh nông nghiệp Hải Hưng, Hà
Bắc, Thái Bình, Hà Nam Ninh bằng mọi cách “làm nhiệm vụ chính trị” cung cấp gạo cho Hà Nội. Từ tháng 4 năm đó, số gạo đủ để bán cho mỗi nhân khẩu cũng chỉ bằng 40% tiêu chuẩn định lượng.
Nhà nghiên cứu ĐẶNG PHONG
Đêm Dài Đói Khát
Quốc Việt – Tuổi Trẻ – 4 April 2015
Thời khan hiếm miếng ăn, người ta hay nghĩ ai có chân trong công ty lương thực là mèo sa hũ mỡ, nhưng thực tế không hẳn ai cũng vậy. Bà Nguyễn Thị Kim Anh, cán bộ văn phòng Công ty Lương thực TP.HCM từ thời còn là tổ thu mua, vẫn nhớ chế độ được mua gạo của mình cũng thiếu hụt như mọi người.
Mãi khi gạo miền Tây về thành phố nhiều hơn, bà mới được nâng suất lên 25kg gạo mỗi tháng. Tuy nhiên, bọc gạo ấy chẳng thấm vào đâu với sáu miệng ăn trong nhà, bữa cơm cũng lẫn lộn hạt bo bo.
“Ba má tôi hồi ấy lớn tuổi rồi, không nhai bo bo được mà có cố nuốt chửng vào cũng không tiêu nổi. Chị em tôi phải nhường cơm cho ba má. Lo sáu cái bao tử trong nhà đã vã mồ hôi, tụi tôi còn phải chia sẻ thêm cho dòng họ lúc ấy còn đói hơn mình”- bà Kim Anh nhớ những ngày ghé thăm nhà người chú đang nuôi bốn con ăn học ở Thanh Đa.
Trước năm 1975, người chú này bán phụ tùng xe máy, sau giải phóng tình hình kinh doanh bết bát phải về Bình Quới làm vườn. Nồi chỉ bo bo độn khoai mì mà cũng thường hụt miệng ăn. Chị chia phần gạo ít ỏi của nhà mình qua cho nhà chú vẫn không đủ, phải sẻ thêm cả bo bo.
Hũ gạo cán bộ nhà nước có chế độ hẳn hoi mà còn thiếu hụt, tình hình ngoài dân rất căng thẳng. Ông Trần Văn Đức, dân kinh tế mới, chạy lên ở khu Mã Lạng, quận 1, đợt miền Tây lụt nặng năm 1978.
Nhiều đợt cả tháng liền vợ chồng ông Đức chỉ ăn bo bo để dành gạo nấu cơm, cháo cho con. Có tối bà vợ loay hoay lo ba đứa nhỏ, quên ngâm bo bo để sáng kịp nấu sớm cho chồng đi đạp xích lô.
Ông thức dậy, đói quá, đổ đại vốc bo bo khô vô nồi nấu suốt gần hai giờ, hạt bo bo chưa được ngâm vẫn cứng.
“Nhai đâu có nổi, tôi phải cố nuốt trộng xuống bụng, bị nghẹn suýt tắc thở. Tôi ngã lăn ra. Bà vợ tưởng chồng bị tai biến vừa khóc vừa la làng. Hàng xóm chạy sang thấy tôi ho ói được mớ bo bo nguyên hột ra ngoài”. Cái bao tử không thể nghiền được hạt bo bo!
Không chỉ dân kinh tế mới quá khó khăn, nhiều người có nhà cửa, sinh kế bình thường ở TP.HCM lúc ấy vẫn nhai đều khoai mì, khoai lang, bo bo độn cơm.
Bà Trần Thanh Thủy, ở đường Phạm Văn Hai, quận Tân Bình, nhớ mãi: “Con gái tôi lúc ấy vừa 7 tuổi, mới thay răng. Một hôm cháu đang ăn tự nhiên máu chảy đầy miệng. Tôi bắt cháu phun ra thì thấy trong mớ bo bo có cả cái răng non bị gãy. Hóa ra nhà hết vôi, tôi chỉ ngâm bo bo vài giờ trong nước nên nấu lẫn cơm bo bo không mềm ra được”.
Nguyên cục phó Cục Cung cấp lương thực Bộ Lương thực, bà Cao Thị Hảo chính là nhân chứng thời cả nước phải chạy vạy từng hạt gạo, hạt bo bo, khoai sắn.
Bà tâm sự: “Nhiều đợt các kho lương thực Hà Nội cạn sạch. Gạo cung cấp cho dân dù chỉ là chế độ tem phiếu 9kg, 13kg nhỏ giọt cũng không còn. Tin đồn hết gạo lan nhanh như đám cháy nhà.
Dân đổ xô đi lùng sục, vét nhẵn tất cả những gì còn lại. Gạo bán lén lút ngoài vỉa hè theo tin đồn giá nhảy lên vùn vụt”.
Chính bà Hảo nhiều ngày ra cảng Hải Phòng chờ chực lương thực về. Tình hình căng đến mức bà phải xin xoay trước cho Hà Nội năm xe gạo nhỏ để “chữa cháy” tin đồn mặc dù thực chất nó chưa đủ cho một tổ dân phố ăn vài ngày.
Năm xe mở bạt cứ chạy vòng phố xá Hà Nội để dân thấy “đầy gạo” mà yên tâm. Đến cửa hàng lương thực, tài xế còn vờ dừng lại cố tình cho dân nhìn cảnh gạo về kho. Rồi xe lại qua cửa hàng khác. Hình ảnh “gạo về kho” tiếp diễn …
Nhà bà Hảo có năm miệng ăn gồm hai vợ chồng, ba đứa con với hai suất gạo 13 kg và 4-5kg cho mỗi con tùy độ tuổi. Nguồn gạo tem phiếu thiếu hụt mỗi tháng thành nỗi ám ảnh, còn thêm nỗi lo con cháu ở quê lên nương tựa ăn học.
Bà nhớ mãi: “Nhường bọn nhỏ đang tuổi ăn tuổi lớn, tôi không ăn sáng, đạp xe đi làm. Nhiều hôm đạp từ Bộ Lương thực ở phố Ngô Quyền về đến Ngã Tư Sở người cứ lả đi. Khi mở nắp nồi thì lưng chén cơm nguội cũng không còn. Con cháu đang tuổi ăn kiềm chế không nổi”.
Làm ở Bộ Lương thực mà vẫn phải ăn cơm độn ê cả răng, nhưng bà Hảo thừa nhận dù sao mình vẫn đỡ. Có lần bà đi kiểm tra cửa hàng lương thực thấy thầy hiệu trưởng Trường đại học Ngoại thương một thời của mình đang lom khom vác bao bo bo từ xe tải vào cửa hàng.
Bà Hảo thảng thốt: “Ôi! Thầy ơi, sao thầy vất vả thế này?”. Người thầy ngại nhìn học trò cũ, mắt mờ đục: “Nhà hết nhẵn cái ăn rồi. Con lại đang bệnh. Cửa hàng trưởng nói ai chịu khó vác bo bo vào sẽ ưu tiên cho mua trước, mà xếp hàng muộn cũng chẳng còn để mua nữa”.
Sau năm 1975, với tiêu chuẩn phân phối trung bình 9kg gạo mỗi người thì 4 triệu dân phải cần 530.000 tấn gạo. Nhưng số lượng này không được đảm bảo khi Nhà nước chỉ có thể huy động nổi hơn 1 triệu tấn mỗi năm trên toàn quốc.
Còn sản lượng của cả vựa lúa miền Nam từ mức 1,9 triệu tấn năm 1976 cứ tụt dần xuống còn 0,99 triệu tấn năm 1977 và 0,64 triệu tấn năm 1979.
TP.HCM mặc dù rất cố gắng, nhưng những năm 1970-1980 chỉ phân phối được trung bình 6kg gạo cho mỗi người dân.
Theo nhà nghiên cứu Đặng Phong, đô thị lớn nhất miền Nam từ thừa mứa gạo trong suốt 300 năm qua, lần đầu phải ăn độn khoai mì, khoai lang, kể cả bo bo, thứ hạt cứng ngắc mà Liên Xô viện trợ.
Bo Bo Từ Đâu Ra?
Quốc Việt – Tuổi Trẻ – 08 April 2015
TT - Sau khi thị sát tình hình Nam bộ, phó thủ tướng Phạm Hùng phát biểu ngày 10-9-1979 ở TP.HCM: “Nhiều tỉnh đã tiến hành tập thể hóa theo kiểu mệnh lệnh, gò ép.
Chẳng những thế còn có tình hình ức hiếp, còng kẹp, tập trung học tập để gò ép vào tập đoàn. Các tập đoàn không có nội dung nhưng vì sợ phê bình làm chậm nên thành lập vội vã. Có nơi tình hình này rất nghiêm trọng: đánh trói nông dân, bắt tập trung học tập cải tạo cho thông rồi mới cho về…”.
Hậu quả là sản lượng lương thực Nhà nước huy động trong năm 1979 chỉ còn được 1,45 triệu tấn, sút giảm nghiêm trọng so với 2,04 triệu tấn năm 1976. Sản lượng lúa đầu người, tức nồi cơm người dân, cũng giảm từ 211 kg/người năm 1976 xuống còn 157 kg/người năm 1980.
Bo bo cứu đói
Trong hồi ký của mình, nguyên phó thủ tướng Trần Phương kể: “Nhiệm vụ nặng nhất của Chính phủ và của phó thủ tướng phụ trách lưu thông hồi ấy là chạy gạo. Nhu cầu gạo ăn và thóc giống mỗi năm phải đảm bảo tối thiểu 300kg thóc/đầu người.
Dưới mức ấy phải “vác rá” đi xin viện trợ của các nước anh em hoặc vay nợ để mua lương thực”. Chính vì tình hình nghiêm trọng như vậy nên cơ cấu bữa ăn được độn cả rau, khoai vào, mà đặc biệt là bo bo đã thành nỗi ám ảnh của người dân.
Giáo sư Nguyễn Văn Luật, nguyên viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long, kể khi còn đi học đã thấy Liên Xô và nhiều nước khác trồng bo bo, nhưng họ ít sử dụng trực tiếp làm thực phẩm cho con người.
Tinh bột chủ yếu trong bữa ăn của họ là khoai tây, bột mì đã qua chế biến và một ít cơm gạo. Loại bo bo mà dân Việt một thời phải trệu trạo nhai để sinh tồn còn gọi lúa miến (sorghum), là loại cây chịu hạn rất tốt.
Vẻ ngoài của nó rất giống cây bắp, nhưng trổ ra chùm nhiều hạt nhỏ như hạt đậu ở phần ngọn. Bo bo có vỏ rất cứng không thể nấu ăn trực tiếp như kiểu người Việt từng phải ăn. Liên Xô, Ấn Độ cùng một số nước khác từng viện trợ và bán nợ bo bo cho VN làm lương thực. Ngoài ra cũng có một số thực hiện theo nghị định thư hàng đổi hàng.
Ngoài bo bo, người dân VN còn ăn độn lúa mì và lúa mạch nguyên hạt chưa xay, được quen gọi chung là bo bo. Theo giáo sư Mai Văn Quyền – chuyên gia cây lương thực, từ thời chiến miền Bắc VN đã nhập lúa mì (wheat) nguyên hạt từ Liên Xô về làm lương thực tạm.
Để làm thực phẩm cho con người phải qua xay xát thải cám, lên men thành bột mì nhưng nhiều đợt VN không có điều kiện làm kịp nên đưa thẳng đến người dân. Ngoài cách ngâm nước, nấu lâu để ăn trực tiếp như cơm, người dân còn tự giã làm bột, nhưng vẫn dai cứng do không lên men được.
Đặc biệt, lúa mì được nhập thời kỳ ấy có phẩm cấp thấp từ đầu nguồn, lại tiếp tục bị suy giảm ở khâu vận chuyển nên thành “miếng khổ nhớ đời”. Miền Bắc từng trồng thử lúa mì vào vụ đông xuân với năng suất 2-3 tấn mỗi mẫu trong thời gian 80-90 ngày nhưng không phát triển đại trà được vì sâu bệnh…
Riêng lúa mạch (barley) chủ yếu dùng trong công nghiệp chế biến rượu bia, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học. Một số ít được làm bánh kẹo truyền thống nhưng phải qua xay xát kỹ và trộn thêm với các loại bột khác như bột mì, bắp và sữa.
Nó không được làm thức ăn trực tiếp như gạo nấu cơm ăn ngay cho con người. Tuy nhiên, người VN cũng từng trệu trao nhai nó trong thời đói kém
Từng được trồng, nhưng dân chê
Giáo sư Võ Tòng Xuân nhớ: “Năm 1972, miền Nam đưa hạt giống bo bo, tức lúa miến, về trồng trong chương trình đa canh hóa. Đầu tiên bo bo được trồng thí nghiệm ở Cần Thơ và Bình Đức, An Giang. Sau mùa thu hoạch lúa nổi tháng 12, hạt bo bo được gieo.
Hồi ấy vùng đất này rất màu mỡ nhờ phù sa lũ và rơm rạ sau vụ lúa. Sản lượng bo bo trồng khoảng 3-4 tấn/ha qua ba tháng”. Sau năm 1975, bo bo tiếp tục được trồng ở vùng này trong chương trình mở rộng nguồn lương thực vì hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên nó không được phát triển đại trà vì bị dân chê khó ăn.
Giáo sư Luật chưa quên miền Bắc sau năm 1975 cũng trồng thử cây này nhưng không thể mở rộng vì năng suất kém. Vợ ông Luật từng nhận ít hạt bo bo về trồng ở vườn mà chưa lần nào được ăn.
Mới đầu hàng xóm tưởng giống bắp mới, nhưng nó không cho trái lớn mà đậu thành từng chùm hạt tròn và bị sâu bệnh phá hoại dữ dội. Hiện nay hầu như chỉ một số vùng núi Tây Bắc và Bắc Trung bộ còn lẻ tẻ trồng bo bo phù hợp với đất khô nóng.
Hồi khó khăn, gia đình ông Luật ở Thanh Trì, Hà Nội, được phân phối bo bo. Với tem phiếu giáo viên, bà Trần Thị Minh Thu, vợ ông, được mua 13kg lương thực. Có đợt bà nhận một nửa bo bo, nửa gạo, có đợt toàn bo bo.
“Hồi ấy đói khủng khiếp. Những nhà không có tem phiếu càng đói gay gắt. Bây giờ nghĩ lại không hiểu sao mình ăn bo bo nổi. Thế mà hồi ấy nó vẫn bị người ta ăn cắp vì quá đói”- bà Thu kể mình đi dạy cất bọc bo bo ở góc phòng bị lấy mất.
Bà phải vay tiền ra mua tạm ngoài chợ đen với giá đắt hơn gấp mấy lần. Con bà lúc ấy mới 5 tuổi cũng phải nhai bo bo cứng ngắc, nên nhà lúc nào cũng lộp cộp tiếng giã bo bo trong cối giã cua…
Đến giờ ông Nguyễn Nhật Tân, lúc đó là thứ trưởng Bộ Ngoại thương, vẫn nhớ chính vì bữa ăn người dân khổ sở như vậy nên Chính phủ phải căng thẳng xoay xở. Tàu vận chuyển vừa về Hải Phòng hay TP.HCM là phải nhanh chóng bốc dỡ đưa về hệ thống phân phối quốc doanh cho dân ăn.
Có giai đoạn việc dỡ hàng bị chậm trễ trong lúc dân thiếu đói gay gắt, chính các ông Đỗ Mười, Đinh Đức Thiện và Đồng Sỹ Nguyên đều phải lần lượt xuống giải tỏa bằng kỷ luật quân đội.
Lãnh đạo các tỉnh trông vào nguồn lương thực từ cảng Hải Phòng cũng dồn về. Nhiều đêm đến 2g sáng họ còn đứng ở cảng. Nhưng họ vừa về Hà Nội tình hình lại như cũ, kể cả nạn ăn cắp bùng nổ. Công nhân quá khổ không trộm được nguyên bao thì dùng ống sắt, ống trúc chọc thủng bao bo bo, gạo cho chảy vào túi mình.
Ảnh của Vững Đại Phát.
Ảnh của Vững Đại Phát.
Ảnh của Vững Đại Phát.

Người đăng: Unknown vào lúc 08:18 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Vừa làm vừa run: Giữ chặt tiền trong túi là hơn

Nguồn : Vững Đại Phát
Vừa làm vừa run: Giữ chặt tiền trong túi là hơn
Tác giả: Trần Thủy – VEF – 16 April 2015
Các DN Việt vẫn ngày càng thu nhỏ về quy mô, năng suất lao động thấp, năng lực quản trị và đổi mới công nghệ yếu, năng lực tài chính kém và có tỷ lệ thua lỗ cao.
Ngày 15/4, Phòng Thương mại và Công nghiêp Việt Nam (VCCI) đã công bố Báo cáo thường niên DN Việt Nam năm 2014.
Tiếp tục thua lỗ và phá sản
Theo đó, mặc dù kinh tế đang trên đà phục hồi, nhưng DN vẫn gặp nhiều khó khăn. Số DN tạm ngừng hoạt động, giải thể vẫn cao. Năm 2014 có 67.823 nghìn DN tạm ngừng hoạt động, giải thể, con số này vẫn cao hơn so với 2011-2013.
Trong số đó có 9.501 giải thể, tuy có thấp hơn so với 9.818 DN của năm 2013 nhưng vẫn cao hơn so với các năm 2011 và 2012. Đặc biệt các DN nhỏ chiếm tới 93,57% số DN tạm ngừng hoạt động.
Nguyên nhân quan trọng khiến nhiều DN phải tạm ngừng hoạt động, giải thể là do không tìm được thị trường đầu ra và chi phí đầu vào tăng cao. Kết quả này cho thấy, 2014 vẫn tiếp tục là một năm khó khăn với các DN Việt Nam.
Qua khảo sát, cũng cho thấy chiếm tới 96% trong tổng số các DN là những DN siêu nhỏ, chỉ có 2% DN cỡ vừa và 2% DN lớn. Trong đó có đến 99% số DN siêu nhỏ thuộc khu vực ngoài Nhà nước. Lao động bình quân của DN đã giảm từ 49 người năm 2007 xuống còn 29 người vào năm 2014, trong đó, DN ngoài Nhà nước giảm từ 27 lao động, năm 2007 xuống còn 18 lao động năm 2014.
Dấu hiệu phục hồi của các DN rất chậm, năng suất lao động thấp, năng lực quản trị và đổi mới công nghệ kém. Đặc biệt DN nhỏ là đối tượng dễ bị tổn thương nhất. Các DN càng nhỏ thì năng lực tài chính càng yếu kém. Chỉ số khả năng chi trả lãi vay của DN không cao, chỉ số thanh toán hiện tại có xu hướng giảm từ 5,1 lần xuống còn 3,2 lần. Trong khi đó, tỷ lệ thua lỗ rất cao, trong giai đoạn 2007-2013 có đến 50,7% số DN siêu nhỏ thua lỗ, bản Báo cáo viết.
Đã nhỏ ngày càng siêu nhỏ
Theo ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI, sau gần 30 năm đất nước mở cửa, hội nhập mà chỉ có 2% DN cỡ vừa là điều rất khó chấp nhận.
Thiếu vắng những DN cỡ vừa, hội chứng mà thế giới gọi là the missing middle, chính là lỗ hổng lớn nhất của nền kinh tế Việt Nam, là điểm yếu nhất trong khả năng cạnh tranh của cộng đồng DN Việt, ông Lộc khẳng định.
Theo các nhận định của VCCI, nguyên nhân DN Việt ngày càng nhỏ đi chủ yếu là do các thể chế hỗ trợ thị trường hoạt động kém hiệu quả. Khu vực tư nhân chưa bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực. Tiếp cận vốn đầu tư luôn là một cản trở cố hữu đối với DN nhỏ. Các DN nhỏ thường phải tiếp cận các nguồn vốn phi chính thức với lãi suất cao hơn nên không có lợi thế về chi phí. Ngoài ra, về nội tại của DN cũng còn nhiều yếu kém. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu, tầm nhìn của lãnh đạo hạn hẹp, trình độ công nghệ còn thấp.
Trao đổi với VietNamNet, một số DN nhỏ cho biết họ rất muốn mở rộng sản xuất kinh doanh, nhưng lực bất tòng tâm.
Chủ một DN tư nhân sản xuất tủ, bàn ghế văn phòng tại Hoài Đức (Hà Nội) cho biết, năm qua dự định thuê thêm 5.000m2 đất, mở rộng nhà xưởng, tăng sản xuất kinh doanh. Song kế hoạch này phải gác lại bởi tính đi tính lại thấy không có hiệu quả. Ngoài tiền gia đình bỏ ra, DN này phải vay thêm 2 tỷ đồng để đầu tư cho sản xuất. Muốn vay 2 tỷ đồng, phải có tài sản thế chấp ngân hàng giá trị khoảng 3 tỷ đồng và lãi vay phải chịu là 10%/năm. Xét thấy khả năng của DN không thể đáp ứng được và sản xuất kinh doanh không có lợi nên lại thôi.
Nếu được ưu đãi vay với lãi suất thấp, được hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực quản lý hay tiếp cận thị trường… thì chắc chắn chúng tôi sẽ mở rộng quy mô, ít nhất là tạo việc làm thêm cho 15 lao động… Nhưng chúng tôi không nhận được những hỗ trợ cần thiết và cũng không biết tìm sự hỗ trợ đó ở đâu, ông chủ cơ sở cho biết.
Theo ông Vũ Tiến Lộc, để cải thiện tình trạng này, từng bước nâng quy mô DN, Chính phủ và các cơ quan chức năng có thể nghiên cứu ban hành Luật hỗ trợ DN nhỏ và vừa. Đồng thời tạo điều kiện cho khu vực tư nhân, tập trung đầu tư về mặt nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và tài chính trong sản xuất. Cùng đó, khuyến khích DN FDI, DN lớn hỗ trợ các DN nhỏ và vừa tham gia mạng lưới vệ tinh công nghiệp hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hướng dẫn, đào tạo…
Mặt khác, Chính phủ cần tăng cường hoạt động của Quỹ phát triển DN nhỏ và vừa, thông qua đó tạo nguồn vốn dài hạn, có lãi suất hợp lý cho các DN khu vực tư nhân đầu tư vào các ngành công nghiệp hỗ trợ, chuỗi giá trị ngành nông nghiệp. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động của các Quỹ đầu tư tư nhân, Quỹ đầu tư mạo hiểm, thúc đẩy hoạt động mua bán, sáp nhập, tạo điều kiện hình thành các DN quy mô lớn.
Ảnh của Vững Đại Phát.
Người đăng: Unknown vào lúc 13:42 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Khi Vua Chúa Xài OPM

Nguồn : Vững Đại Phát
Công chúa Ả rập Saudi và cơn cuồng mua sắm (rồi lừa gạt) hàng hiệu nhiều triệu đôla
The Saudi Princess and the Multi-Million Dollar Shopping Spree
By James Reginato – Vanity Fair – April 7, 2015
Người dịch: Kevin Bùi
Công chúa Saudi Maha Bint Mohammed bin Ahmad al-Sudairi tìm cách xù khoảng 20 triệu USD nợ các cửa hiệu thời trang sang trọng nhất Paris và lờ đi hoá đơn khách sạn khoảng 7 triệu USD. James Reginato lần theo dấu của cô trong bài viết dưới đây.
Đó là một nước cờ cũ – lẻn ra khỏi khách sạn trong đêm khuya để tránh các hoá đơn. Nhưng có vẻ khó khăn một chút khi mà bạn có đoàn tuỳ tùng lên tới 60 người, một hoá đơn phải thanh toán lên tới 7 triệu USD, và một hàng dài các xe hạng sang và các loại xe khác đợi ở ngoài để đón bạn cũng như chở đi cả núi túi xách của bạn. Đó là tình huống xảy ra lúc 3:30 sáng ngày 31/5/2012 khi công chúa Maha bint Mohammed bin Ahmad al-Sudairi được cho biết là tìm cách bỏ trốn từ khách sạn 5 sao Shangri-La, ở quận 16, nơi cô và đoàn tuỳ tùng chiếm 41 phòng trong vòng 5 tháng. Sau một cuộc đối đầu căng thẳng đi kèm các cuộc gọi tới các nhà ngoại giao và quan chức cấp cao, bà được phép rời đi, chuyển tới khách sạn Royal Monceau gần đó, được sở hữu bởi Qatar, một láng giềng thân thiện của Saudi.
Có lẽ công chúa Maha nghĩ rằng bà có thể lẻn đi vì cũng ba năm trước đó tại Paris, theo báo chí, bà cũng suýt thành công trong việc tránh né trả 20 triệu USD sau cơn cuồng mua sắm lịch sử tại các cửa hiệu thời trang trên Đại lộ Montaigne, quảng trường Place Vendome và những nơi khác nữa. Đến khi phải trả tiền, công chúa Maha đã bỏ qua các phương thức thanh toán thông thường, thay vào đó để cho một tuỳ tùng trao cho bộ phận tính tiền một văn bản in nổi dòng chữ “Thanh toán sau” – một cách báo nợ (I.O.U) rất thời thượng. Tuy nhiên, đến một thời điểm nào đó, các chi phiếu bị ngừng lại. “Bà ấy là một khách hàng rất tuyệt vời trong vòng tám năm, nhưng rồi sau đó bà ấy chỉ đơn giản là ngừng trả tiền”, bà chủ cửa hàng đồ lót O Caprices de Lili cho báo chí biết vào tháng 6 năm 2009 khi bà chờ đợi để được trả số tiền gần 100 ngàn USD. Một chủ cửa hàng quần áo mặc ở nhà có tên gọi Key Largo tuyên bố rằng ông bị công chúa nợ số hàng hoá có giá trị lên tới gần 125 ngàn USD.
Thời gian cuối trong lần ở lại Paris năm 2009 – lần này ở khách sạn George V – có ít nhất một trong số 30 chủ nợ đã tới cắm trại nhiều ngày trong sảnh của khách sạn sang trọng này với hy vọng đòi được tiền, trước khi đệ đơn yêu cầu bồi thường. Bất kể hàng núi nợ này, lần ra đi của bà từ khách sạn này có vẻ không bị cản trở. Khách sạn này thuộc sở hữu của người anh em họ của bà, hoàng tử Alwaleed bin Talal (tổng tài sản 30 tỷ USD), và theo một số tờ báo, khoản nợ của bà được thanh toán bởi các quan chức thuộc đại sứ quán Saudi. Nhưng anh rể của bà, nhà vua Abdullah ( đã mất ngày 23 tháng 1 vừa qua), được biết là không vui vẻ gì về hành vi gây tai tiếng của công chúa Maha và trong lần trở về Saudi của bà, đã cho nhốt giữ bà tại gia.
Maha, ở độ tuổi 50, là vợ ba trong số ba bà vợ của Nayef bin Abdulaziz al- Saud. Cặp đôi này – cũng là anh em họ – đã chung sống với nhau tới ba thập kỷ cho tới khi chia tay. Họ có năm con chung, giờ đây có độ tuổi từ 22 tới 30. Vào năm 2009, Nayef (anh em cùng bố khác mẹ với nhà vua Abdullah) xếp thứ nhì trong danh sách kế thừa ngai vàng – và có những khoảng thời gian là người cai trị không chính thức của Saudi khi tình trạng sức khoẻ của cả nhà vua lẫn thái tử lúc đó, Sultan –anh ruột của Nayef – đều không tốt. Nayef được trao ngôi thái tử vào tháng 10 năm 2011 khi Sultan mất; vào đầu năm 2012 ông và Maha li dị. Ốm yếu vì bệnh tiểu đường, ông mất ngày 16 tháng 6 năm 2012, thọ 78 tuổi.
Vào tháng 12 năm 2011, Maha bất chấp chỉ dụ của hoàng gia và “thoát” trở lại Paris, theo tờ The Telegraph. Lần checkout phiền toái của bà tại khách sạn Shangri- La trùng với thời điểm mất của chồng cũ của bà, và theo một số người, cũng là khi bà mất hoàn toàn sự ưu ái từ vua Abdullah. “Nhà vua thực sự đã không chịu đựng nổi công chúa tại thời điểm đó – ông kệ bà muốn làm gì thì làm”, theo một phụ nữ Trung Đông sống tại châu Âu và biết công chúa.
Lần đòi tiền này của các nhà cung cấp còn khó khăn hơn nữa. Tháng 3 năm 2013, một thẩm phán ở Nanterre, phía Tây Paris, đã ra lệnh thu giữ hàng hoá trữ tại hai kho chứa hàng chất đầy số đồ mà bà Maha mua năm 2012, mang ra bán đấu giá để hoàn trả tiền cho các chủ nợ. Kho giấu đồ này được cho biết gồm quần áo, mũ, túi xách, đồ trang sức, các tác phẩm nghệ thuật, trang phục tắm, kính thời trang, thùng thuốc lá, các đĩa mạ vàng, khoảng một ngàn đôi giày phụ nữ, và một số bức ảnh đóng khung chân dung công chúa đội vương miện và đeo mặt nạ lễ hội.
Một trong số các chủ nợ là một công ty dịch vụ sang trọng đã cung cấp cho công chúa các tài xế và các xe sang – khoảng 30 chiếc mỗi ngày, bao gồm hai chiếc Rolls-Royce Phantom. Công ty này bị bỏ rơi với khoản nợ gần 400 ngàn USD, một quan chức của công ty cho phóng viên của tờ Người Paris. “ Chúng tôi chấp nhận rủi ro khi giao dịch với bà ấy, vì đó là một bản hợp đồng hấp dẫn, nhưng cuối cùng đó là thảm hoạ”, ông này cho biết. “Các thủ tục phải tuân theo để được hoàn lại tiền hiển nhiên là sẽ lâu, rất rất lâu”.
Do vậy, kết cục của chuyến đi thị sát gần đây của công chúa tới Paris khiến người ta tò mò. “Hoá đơn được thanh toán trong vòng 48 giờ” sau khi công chúa đi khỏi, một đại diện báo chí của Shangri-La cho biết. “ Chuyện này đã xong. Đây không phải là đề tài mà khách sạn muốn thảo luận”. “ Tất cả đều ổn”, theo lời người quản lý của Key Largo, cửa hàng đồ thể thao đã phải ra toà để đòi lại 125000 USD hồi năm 2009. “Hoá đơn đã được trả”.
Các cửa hiệu cũng rắc rối như chính vị khách Ả rập này, rõ ràng là không có ai muốn mất đi thị trường này. Paris từ lâu đã là điểm đến ưa chuộng của những người Ả rập giàu có. Họ tụ tập chủ yếu ở Quận Tám – nơi có các khu mua sắm cấp cao (như Đại lộ Montaigne). Có lẽ để ở gần với nơi mua sắm, các khách sạn được ưa thích của họ cũng ở quanh đó – George V hoặc Plaza Athénee (sở hữu bởi vua Brunei). “ Hiệu Ritz không là kiểu họ chuộng”, một quý bà có nhiều ảnh hưởng, bạn với gia đình hoàng gia và miêu tả thị hiếu thời trang Ả rập là hào nhoáng và dùng nhiều phụ kiện: “ Họ thích những thứ phô trương như Vuitton hay Chanel. Họ không phải là fan của Hermes. Anh không thể tưởng tượng được số giày mà họ mua đâu. Nhưng nếu anh có lúc nhìn thấy đế giày họ khi họ ngồi vắt chân, thì chúng lúc nào cũng mới. Đó là vì họ không bao giờ bước xuống đường cả”.
Giày dép, cũng như túi xách là loại mặt hàng được phụ nữ ưa chuộng nhất vì ở Ả rập, với bộ đồ che kín của phụ nữ, người khác chỉ nhìn được những phụ kiện này.
Theo những người Trung Đông thân thiết với công chúa Maha, khoản nợ của công chúa được trả – một cách bất đắc dĩ một lần nữa nhằm tránh tai tiếng cho gia đình – bởi một trong số những người anh em ruột của chồng cũ của bà, có thể là Salman, người kế vị ngai vàng từ nhà vua quá cố Abdullah từ tháng 1 năm 2015.
Trong khi đó, bản thân Maha lại bị nhốt tại gia một lần nữa – lần này giám sát chặt chẽ, cũng theo lời quý bà Trung Đông kia. “ Bà ấy không được rời khỏi đất nước một lần nữa”, bà nói thêm. (Các nỗ lực để liên lạc với công chúa Maha để bình luận về chuyện này đều không thành công).
Với vương triều al –Saud cai trị vương quốc Ả rập Saudi ( Xê-Ut) – nơi mà vua Abdulaziz (người sáng lập quốc gia vào năm 1932) có tới 45 con trai với ít nhất 22 bà vợ, có một sự khác biệt căn bản giữa anh em cùng bố khác mẹ với anh em ruột.
Salman và Nayef là hai trong số bảy con trai của vua Abdulaziz với bà vợ được sủng ái của ông, Hassa bint Ahmad al-Sudairi, thuộc gia tộc quyền lực Sudairi đến từ vùng cao nguyên trung phần Nejd của Saudi, cũng là nơi mà hệ tư tưởng Wahhabi chính thống nổi lên khoảng 300 năm trước. Theo một số nguồn tin, Hassa al-Sudairi có thể chỉ khoảng 13 tuổi khi bà được chọn để lấy vị vua tương lai. Sau vài năm, Abdulaziz ly hôn bà để lấy các bà vợ khác – đàn ông đạo Hồi chỉ được phép có cùng lúc bốn bà vợ tại mỗi thời điểm- nhưng ông cũng nhanh chóng kết hôn lại với bà. Họ có 12 con chung và chung sống với nhau cho tới khi ông qua đời vào năm 1953. Những người con trai của họ – được biết đến là Bảy người nhà Sudairi – hình thành một khối anh em ruột đông nhất trong gia đình hoàng gia và do vậy nắm giữ quyền lực khổng lồ. Nhà vua Abdullah (người không có anh em ruột nào) được cho là không ưa gì nhóm này và tìm cách giới hạn quyền lực của họ.
Nhưng với sự lên ngôi của Salman, người nhà Sudairi lại quay về vị trí đỉnh cao quyền lực. Một trong số 10 con trai của Nayef, hoàng tử Mohammed bin Nayef, 55 tuổi – con của Nayef với bà vợ thứ hai, Al Jawhara- mới đây được chọn là Phó Thái tử.
Tiền bạc vẫn chảy tràn trề trong đại gia đình hoàng gia. Vào tháng 5 năm 2013, con trai út của Maha, hoàng tử Fahd, khi đó 21 tuổi đã tổ chức bữa tiệc tốt nghiệp kéo dài 3 ngày tại công viên Disneyland Paris cùng 60 người bạn, với chi phí lên tới 20 triệu USD. (80 vũ công được thuê để tạo ra các màn trình diễn ngoạn mục, với khu Main Street hoá thành đại lộ Paris, còn công viên mở cửa từ sớm và đóng cửa muộn, tới 2 giờ sang chỉ để phục vụ cho bữa tiệc này. Hoàng tử cũng mời Mickey và Minnie đi cùng trên máy bay riêng của mình). Sự thừa thãi rõ ràng là truyền thống của gia đình hoàng gia.
Được xây dựng là cung điện cho hoàng tử Roland Bonaparte, cháu họ của Napoleon, Shangri-La là một trong số những khách sạn đắt đỏ nhất Paris. ( Giá phòng khởi điểm từ 750 USD, và các phòng hạng sang có thể lên tới 23000 USD cho một đêm). Kết hợp giữa phong cách Pháp cổ điển với nội thất sang trọng, hiện đại theo hướng tối giản, khách sạn này tự hào với dịch vụ tuyệt hảo của họ. Tuy nhiên những dịch vụ này hầu như vô ích đối với công chúa Maha, cho dù hoá đơn của bà lên tới 7 triệu USD. “ Bà ấy mang toàn bộ người của bà ấy theo”, cũng theo lời quý bà Trung Đông kia. “Từ lái xe cho tới hầu phòng, đầu bếp…”.
“Chúng tôi hầu như không bao giờ thấy bà ấy”, người gác cửa tại Shangri-La thì thầm. “Bà ấy sống về đêm. Bà ấy chỉ đi ra ngoài vào ban ngày vài lần trong suốt sáu tháng ở đây… Khi ấy bà ấy được bao bọc bởi khoảng 10 người hối hả đưa bà vào một trong những chiếc xe sang bên ngoài”. Theo một nguồn tin khác, người hầu của công chúa bao gồm cả bồi bàn, thợ cắt tóc, thư ký, vệ sĩ và đông đảo những người khác để khuân vác hành lý cho bà.
Lối sống về đêm như vậy là bình thường với cả giới giàu lẫn nghèo ở Ả rập Saudi, nơi mà ban ngày có thể nóng tới bỏng da. Bởi vậy, một số cửa hiệu sang trọng bậc nhất của Paris mở cửa tới khuya. Chẳng hạn cửa hiệu mang tính biểu tượng của Louis Vuitton ở đại lộ Champs- Elysees, được biết là đã mở lại vào lúc 2 giờ sáng chỉ để phục vụ công chúa. Có lúc trong khi mua sắm, bà muốn ăn và các gói hamburger ăn nhanh cũng được chuyển vào cho bà. (Dior, Dolce&Gabbana, Chaumet và Victoria Casal là một trong số các cửa hiệu hay được bà lui tới).
Dù rằng không nghi ngờ gì việc công chúa Maha là người nghiện mua sắm tầm cỡ thế giới, bà lại không phân biệt đối xử gì với các thương hiệu. “Bà ấy mua ở mọi nơi, từ Hermes cho tới Zara và tất cả các thương hiệu khác trong khoảng đó”, quý bà Trung Đông cho tôi biết.
Quả vậy, Key Largo, nơi bà để lại món nợ 125000 USD, là một cửa hàng thời trang giảm giá tại một khu mua sắm tồi tàn gần Trocadero, chuyên bán giày dép, đồ lót và đồ jeans hạ giá.
Bà hầu như càn quét sạch những gì gặp phải trên đường đi của mình, bất kể nơi nào. Theo quý bà Trung Đông, sau khi công chúa Maha đi thăm Geneva về, bà cần tới bốn chiếc xe tải để chở những gì bà mua về – bà thậm chí còn mua cả một chiếc Lamborghini và một chiếc Ferrari, dù rằng bà không lái xe (Phụ nữ không được phép lái xe ở Ả rập Saudi)
Theo quý bà Trung Đông, người tới thăm bà tại khách sạn, rất nhiều trong số hành lý của công chúa Maha chưa bao giờ được mở ra: “ Có bao nhiêu phòng chất đầy túi lẫn hộp. Nhìn chỗ nào cũng đầy túi với hộp, gần như tất cả đều chưa được mở”.
“ Khi tôi thấy bà ấy trong khách sạn, bà ấy chỉ mặc đồ pajama”, chứ không phải một trong số cả núi đồ bà đã tích luỹ. “ Và bà ấy đem theo năm tới sáu người chỉ để làm việc trong khu bếp, vì khu này cần sẵn sàng 24 giờ mỗi ngày”.
Mặc dầu được biết đến với sự vô cùng lãng phí của mình, công chúa Maha nổi bật như một người biết cảm thông một cách kỳ lạ khi bạn có cơ hội hiểu bà nhiều hơn.
“ Bà ấy có sự duyên dáng và ngọt ngào”, theo lời quý bà mà tôi nói chuyện với. “Nhưng bà ấy là một linh hồn lạc lối. Bà ấy thất học, anh biết đấy, người ta muốn kết hôn với những cô gái càng trẻ càng tốt. Và sau đó những người phụ nữ chẳng biết làm gì ngoài chuyện mua sắm. Điều này làm phụ nữ càng ngốc dại đi, và đó là vấn đề lớn với đất nước ấy – khi đàn ông quyết định mọi thứ”.
Là một người phụ nữ sống động, Maha được cho là đam mê âm nhạc, ca hát và yêu thơ ca, bà cũng thường thích làm thơ – toàn những thứ cấm kị trong văn hoá Wahhabi siêu bảo thủ của Ả rập Saudi. Và một trong những người thi hành trung thành nhất với văn hoá này chính là chồng bà.
Là bộ trưởng bộ nội vụ từ 1975, ông phụ trách cơ quan tình báo và an ninh của vương quốc, thậm chí nắm giữ phần lớn quyền điều khiển lực lượng cảnh sát tôn giáo của quốc gia này. Là một người bảo thủ không khoan nhượng, ông không chấp thuận những cải cách xã hội dù khiêm tốn của nhà vua Abdullah và được biết đến là người bỏ tù và xử tử những người Saudi chống chế độ, theo tác giả Karen Elliott House trong cuốn “ Bàn về Ả rập Saudi : Con người, Quá khứ, Tôn giáo, Các ranh giới và Tương lai”.
Tuy vậy, ít nhất là trong những năm đầu của cuộc hôn nhân với Maha, ông mê mẩn bà. “Ông ấy chiều chuộng, đam mê bà, trao cho bà ấy tất cả những gì bà ấy muốn”, theo lời kể của quý bà Trung Đông, người miêu tả ông ta như một “Kẻ thù của Chúa trời”.
“Ai mà lấy ông ta thì cũng sẽ phát điên”, bà này nói thêm.
Tới một thời điểm nào đó, cuộc hôn nhân bị vấp váp. Khoảng đầu những năm 2000, theo tờ tạp chí Le Nouvel Observateur của Pháp, có những lời đồn đại rằng bà thân thiết với một ca sỹ hát nhạc trữ tình của Saudi, Khalid Abdul Rahman. Được biết đến như “người tình của đêm“, ông được cho là đã phổ nhạc cho một số bài thơ của bà – việc gây tủi hổ tới cùng cực đối với định kiến tôn giáo của Saudi.
Phụ nữ Ả rập Saudi vẫn tiếp tục nằm trong số phụ nữ bị áp chế nhất trên thế giới. Họ hầu như không bao giờ được rời khỏi nhà nếu không có sự giám hộ của đàn ông. Thậm chí hoạt động chính mà những người phụ nữ giàu có được cho là được phép hưởng thụ – mua sắm – cũng rất bị hạn chế. Vì nhân viên bán hàng ở Ả rập Saudi đều là đàn ông, phụ nữ không thể thử quần áo trong cửa hiệu được, do vậy họ phải mang toàn bộ đồ đạc tới nhà vệ sinh của khu mua sắm, nơi được trông giữ bởi phụ nữ. “ Tôi đoán đây là điều khiến cho việc mua sắm quốc tế trở nên hấp dẫn với phụ nữ Saudi – khả năng được bình thường ở mức độ nào đó”, theo House – dù rằng “bình thường” có vẻ không phải là từ chính xác để miêu tả các cuộc thám hiểm mua sắm của công chúa Maha al-Sudairi. Với Salman giờ đây trị vì vương quốc, thậm chí còn có tin đồn là Maha có thể trở về từ trạng thái thất sủng và có thể được tự do như xưa. Hãy đợi đấy, Đại lộ Montaigne.
Ảnh của Vững Đại Phát.
Ảnh của Vững Đại Phát.
Người đăng: Unknown vào lúc 13:41 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Bài đăng (Atom)

Giới thiệu về tôi

Unknown
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Lưu trữ Blog

  • thg 10 17 (1)
  • thg 10 12 (2)
  • thg 10 09 (1)
  • thg 10 05 (2)
  • thg 10 02 (1)
  • thg 9 30 (3)
  • thg 9 29 (1)
  • thg 9 28 (4)
  • thg 9 25 (1)
  • thg 9 24 (1)
  • thg 9 23 (1)
  • thg 9 21 (2)
  • thg 9 19 (1)
  • thg 9 18 (3)
  • thg 9 17 (1)
  • thg 9 11 (2)
  • thg 9 10 (1)
  • thg 9 01 (1)
  • thg 8 31 (3)
  • thg 8 29 (1)
  • thg 8 27 (2)
  • thg 8 26 (4)
  • thg 8 25 (1)
  • thg 8 17 (1)
  • thg 7 02 (1)
  • thg 7 01 (3)
  • thg 6 30 (1)
  • thg 6 29 (3)
  • thg 6 27 (1)
  • thg 6 26 (3)
  • thg 6 25 (1)
  • thg 6 24 (2)
  • thg 6 22 (5)
  • thg 6 16 (2)
  • thg 6 15 (3)
  • thg 6 13 (2)
  • thg 6 11 (4)
  • thg 6 09 (3)
  • thg 6 08 (1)
  • thg 6 07 (2)
  • thg 6 06 (2)
  • thg 6 05 (1)
  • thg 6 03 (4)
  • thg 6 02 (1)
  • thg 6 01 (2)
  • thg 5 30 (1)
  • thg 5 29 (2)
  • thg 5 28 (2)
  • thg 5 27 (1)
  • thg 5 26 (1)
  • thg 5 25 (3)
  • thg 5 23 (2)
  • thg 5 22 (2)
  • thg 5 21 (1)
  • thg 5 20 (1)
  • thg 5 19 (1)
  • thg 5 18 (3)
  • thg 5 17 (2)
  • thg 5 16 (2)
  • thg 5 15 (1)
  • thg 5 14 (3)
  • thg 5 13 (1)
  • thg 5 12 (1)
  • thg 5 11 (2)
  • thg 5 10 (1)
  • thg 5 09 (2)
  • thg 5 08 (1)
  • thg 5 07 (1)
  • thg 5 06 (2)
  • thg 5 05 (2)
  • thg 5 04 (3)
  • thg 5 03 (2)
  • thg 5 02 (2)
  • thg 5 01 (1)
  • thg 4 30 (1)
  • thg 4 29 (1)
  • thg 4 28 (8)
  • thg 4 26 (2)
  • thg 4 25 (1)
  • thg 4 24 (1)
  • thg 4 23 (1)
  • thg 4 22 (1)
  • thg 4 21 (1)
  • thg 4 20 (2)
  • thg 4 19 (1)
  • thg 4 18 (1)
  • thg 4 17 (4)
  • thg 4 15 (3)
  • thg 4 14 (1)
  • thg 4 13 (1)
  • thg 4 12 (1)
  • thg 4 11 (1)
  • thg 4 10 (2)
  • thg 4 09 (2)
  • thg 4 08 (2)
  • thg 4 07 (2)
  • thg 4 06 (3)
  • thg 4 05 (1)
  • thg 4 03 (22)
  • thg 3 19 (1)
  • thg 3 18 (11)
  • thg 3 17 (49)
  • thg 3 16 (21)
  • thg 3 15 (2)
  • thg 3 14 (2)
  • thg 3 13 (8)
  • thg 3 11 (4)
  • thg 3 10 (7)
  • thg 3 06 (1)
  • thg 2 12 (1)
  • thg 2 11 (1)
Chủ đề Trừu tượng. Được tạo bởi Blogger.