Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015

XHCN Đến Đích tại Venezuela

Nguồn : Vững Đại Phát 
Venezuela sụp đổ
Mạnh Kim – 8 April 2015
Sự ngạo mạn thái quá, có phần điên rồ, của một cá nhân có thể dẫn đến tai họa cho cả một đất nước. Không bài học nào rõ ràng bằng trường hợp Venezuela. 10 năm sau khi Hugo Chávez đưa ra học thuyết “Chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21”, Venezuela đang trên bờ vực sụp đổ toàn diện. Ngay cả giấy vệ sinh giờ cũng trở thành mặt hàng khan hiếm!
David Boaz thuộc Viện nghiên cứu Cato mỉa mai: “Venezuela đã đến chặng cuối của con đường XHCN: không có giấy vệ sinh” (Business Insider 5-4-2015). Một phần vấn đề ở chỗ Hugo Chávez đã xây dựng nền kinh tế XHCN bằng “định hướng” công nghiệp dầu. Thay vì phát triển tư nhân hóa công nghiệp, Hugo Chávez chỉ dựa vào dầu. Doanh thu dầu được chi mạnh cho các chương trình phúc lợi xã hội, như “nguyên lý căn bản” của lý thuyết “CHXH”, tạo ra một xã hội làng nhàng mọi người đều vui vẻ cùng có cái ăn và không ai quá giàu hơn ai. Lý thuyết này, trong một thời điểm, đã giúp Venezuela tương đối ổn định và mang lại uy tín chính trị cho cá nhân Hugo Chávez. Tuy nhiên, dầu từng chiếm 95% doanh thu xuất khẩu Venezuela; cùng với khí đốt, chiếm 25% GDP; nay bị mất giá. Theo đó, “CNXH” cũng mất giá. Chính xác hơn, đó là hậu quả của thứ lý luận phi khoa học và phản kinh tế, được cổ súy từ những lãnh đạo bất chấp sự vận động tất yếu của khoa học và không màng qui luật kinh tế.
Lạm phát Venezuela hiện 70% (cao nhất thế giới) – Wall Street Journal (13-3-2015) cho biết. Cái giá phải trả cho nền kinh tế phi sản xuất là sự thiếu hụt nghiêm trọng gần như mọi mặt hàng, từ phụ tùng xe đến giấy vệ sinh (nhiều khách sạn Venezuela ra thông báo yêu cầu khách phải mang theo giấy vệ sinh, xà phòng, kem đánh răng…). Bị ảnh hưởng nặng nhất là các dịch vụ xã hội vốn sống bằng ngân sách bao cấp. Trong 45.000 giường tại các bệnh viện công, hiện chỉ có 16.300 giường còn hoạt động. Bệnh viện tư, với 8.000 giường, cũng bị ảnh hưởng mạnh. Venezuela cần khoảng 1 tỉ USD/năm để nhập thiết bị y tế nhưng họ được cấp không đến 200 triệu USD năm 2014; giảm mạnh so với 807 triệu USD năm 2010. Khoảng 70% các loại dược phẩm đang thiếu trầm trọng. Tỉ lệ ủng hộ Tổng thống Nicholás Maduro hiện chỉ 22%, thấp nhất kể từ khi kế nhiệm Hugo Chávez cách đây hai năm (The Guardian 22-3-2015). Maduro không đủ sức và không thể đổ “đống vỏ ốc” Hugo Chávez để lại.
Venezuela bây giờ cần gì? Không hẳn là việc (trông chờ) xóa cấm vận của Mỹ. Điều họ cần là một gương mặt đủ mạnh để xóa cái di sản “XHCN” của Hugo Chávez, đủ dũng cảm để đứng lên nói với quốc dân rằng từ bây giờ họ phải làm lại từ đầu, phải đi trên một con đường mà gần như mọi quốc gia trên thế giới này đang đi.
Mạnh Kim
(FB Mạnh Kim)
Giai đoạn cuối của Chủ nghĩa xã hội tại Venezuela: Giấy vệ sinh cũng chẳng còn
Đại Kỷ Nguyên – 9 April 2015
150110052713_sp_supermercado_venezuela_624x351_reuters
Ở Romania trong những năm cuối của chế độ cộng sản xuất hiện những hàng dài người đợi mua giấy vệ sinh. Tình hình tương tự hiện cũng đang xảy ra ở Venezuela.
Như vậy, chỉ với khoảng thời gian 16 năm dưới sự lãnh đạo của ông Chavez, Venezuela đã cho thấy chủ nghĩa xã hội của thế kỷ 21 khá giống với chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ 20.
Tình trạng thiếu lương thực và các hàng hóa khác ở Venezuela đã trở nên rất nghiêm trọng. Một số khách sạn thậm chí còn yêu cầu khách hàng tự mang theo giấy vệ sinh và xà phòng, theo tuyên bố gần đây của một phát ngôn viên trong ngành công nghiệp du lịch, được trích dẫn trên mảng tin Fusion.
Gerardo Montilla, Chủ tịch Phòng Du lịch của thành phố Merida, nói với Fusion rằng những khách sạn lớn hơn có thể tránh được thiếu hụt này bằng cách mua giấy vệ sinh và các mặt hàng khác trên thị trường chợ đen, nhưng với mức giá cao hơn 6 lần so với bình thường. Còn những khách sạn nhỏ, khách sạn gia đình, họ thường không đủ khả năng để trả với giá đắt như vậy, có nghĩa là đôi khi bạn phải tự xoay xở trong những tình huống gặp phải.
Một công dân tên là Camacho cho biết cô từ chối mua giấy vệ sinh trên thị trường chợ đen.
“Trên thị trường chợ đen, bạn phải trả 110 bolivar [17 USD] cho một cuộn giấy vệ sinh, mà bình thường chỉ có giá 17 bolivar [2.7 USD] trong siêu thị,” Camacho nói với Fusion, “Tôi không muốn tiếp tay cho tham nhũng đang tồn tại trên thị trường chợ đen và cũng không thể có 4 giờ mỗi ngày để đứng xếp hàng mua giấy vệ sinh tại một siêu thị”.
Gần đây, các quan chức Venezuela đã quyết định hành động để ngăn chặn người dân đầu cơ khắp đất nước các hàng hóa thiết yếu, trong nỗ lực để kiểm soát và giảm thiểu việc buôn lậu các sản phẩm này.
Thiếu hụt hàng hóa, những hàng dài người trong các cửa hàng, trên chợ đen và trộm cắp ngang nhiên. Và nguyên nhân của mọi sự là do CIA. Vâng, Venezuela đã đạt được một chủ nghĩa xã hội thật sự.
Andrei Popescu – ET Romania

Tại sao Hàn Quốc phát triển rực rỡ còn Việt Nam thì không?

Nguồn : Vững Đại Phát 
Tại sao Hàn Quốc phát triển rực rỡ còn Việt Nam thì không?
Tony Buổi Sáng – Blog Ký Giả – Theo Tin Tức Hàng Ngày – 8 April 2015
Năm 2004, Việt Nam cho chiếu bộ phim “Thời đại anh hùng” trong đó có đoạn, Tổng thống Park Chung-hee đã khóc vì thấy dân khổ quá. Ông tuyên bố sau 10 năm nữa sẽ có nhiều nước trên thế giới phải đến làm thuê cho Hàn Quốc, và sự thật đã đến với họ trong đó có Việt Nam.
Thập niên 60, Hàn Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Năm 1968, người Hàn quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn để giảng dạy, ngoại trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học. Lúc đó cũng có nhiều người chỉ trích rằng, Hàn Quốc lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa, đây cũng bởi tính sĩ diện của họ rất cao.
Nhưng chính phủ vẫn quyết tâm thực hiện, vì để có được chương trình giáo dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên cách đào tạo phương Tây sao cho phù hợp với đặc trưng của châu Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian, Hàn Quốc chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh nghiệm của người khác, và để dành thời gian và công sức lo việc khác nữa. Vì Hàn Quốc muốn trở thành một bản sao mới của Nhật, nền kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức của toàn thể xã hội.
Đúng 20 năm sau, năm 1988, Hàn Quốc đăng cai Olympic Seoul, cả thế giới không ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ tích bên bờ sông Hàn. Ô tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, bánh kẹo… bên Nhật có cái gì thì bên này có cái đó mặc dù dù dân số chỉ bằng 1/3. Không ai biết trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn đã nắm chặt tay với quyết tâm thoát nghèo như thế nào, chỉ biết rằng trên tivi lúc đó chỉ có vẻn vẹn 2 chương trình là “dạy làm người” và “dạy làm ăn”; từ cái văn minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng cho đến cách quản lý chi phí của một quán cà phê, cách tạo dựng một nhà máy.
Từ một dân tộc “xin việc”, tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại Hàn và thuê lao động tại đây, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở thành dân tộc đi “cho việc”, mà người xếp hàng “xin việc” lúc bấy giờ lại là người Trung Quốc, Thái Lan, Philippines. Hàn Quốc đã thành công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi “cho việc” người khác.
Năm 1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn Quốc ôm nhau cười trong nước mắt, hơn 100 quốc gia giàu có nhất trên thế giới miễn visa cho họ. Hàn Quốc giờ đây đã bước chân vào nhóm 24 quốc gia thịnh vượng nhất loài người. Nhưng thách thức mới lại xuất hiện, vì bây giờ không phải là Nhật Bản nữa, mà là Hồng Kông và Singapore, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài chính, thương mại và giải trí.
Phim Hồng Kông tràn ngập thị trường và không có đối thủ. Ngay lập tức người Hàn tuyển chọn ra 2.000 sinh viên ưu tú nhất, cử sang Holywood, điên cuồng học hành, từ đạo diễn, diễn viên, phục trang đạo cụ… 4 năm sau tốt nghiệp, (năm 1992), những bộ phim đầu tay như: Cảm xúc, Mối tình đầu, Hoa cúc vàng,…với một thế hệ diễn viên đẹp từng milimet đã chinh phục được hàng triệu con tim.
Ngành làm phim đã phối hợp khéo léo với ngành thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng để xâm nhập vào các thị trường. Đại sứ quán Hàn Quốc tại các nước có nhiệm vụ dịch thuật ra tiếng địa phương và tặng không cho các đài truyền hình, tạo ra làn sóng Hanluy nổi tiếng. Người Nhật điên cuồng, người Trung Quốc điên đảo, các nước Đông Nam Á thì chỉ biết ụ pa ơi, ụ pa hỡi. Phim Hồng Kông bị đá văng ra khỏi thị trường cho thuê băng đĩa.
Vào năm 1988, ngoài 2.000 người đi Holywood để xây dựng công nghiệp điện ảnh thì cũng có ngần ấy người được cử sang Milan và Paris để học thời trang, mỹ phẩm. Các tập đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham vọng xuất khẩu xe sang Mỹ và châu Âu. Muốn bán cho Tây thì bao bì nhãn mác phải có óc thẩm mỹ của Tây, chứ kiểu “tròn tròn xinh xinh” của dân châu Á, người Tây không thích, không bán được. Có những năm mẫu xe của
Hyundai bán chạy nhất ở Bắc Mỹ và châu Âu. Người Mỹ bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng mộ, ngạc nhiên và thích thú.
Ngoài ra, người Hàn cũng cử những sinh viên giỏi toán nhất nước theo học ngành tài chính ở các trường đại học lớn của Mỹ, với tham vọng Seoul sẽ thành một London, New York. Các quỹ đầu tư ra đời và họ tự tìm kiếm các nhà máy mới khởi nghiệp be bé để rót tiền vào, tham gia vào quản trị. Hộ không hề chỉ trích, chỉ góp sức góp trí để xây dựng. Một người Hàn giàu có là cả dân tộc Hàn giàu có.
Hệ thống bán lẻ Lotte phải có nghĩa vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi. Ông lớn Samsung bắt đầu tuyển dụng những sinh viên giỏi nhất châu Á để cho học bổng thạc sĩ miễn phí với điều kiện tốt nghiệp xong phải mấy năm phục vụ cho họ. Họ gom trí tuệ của cả châu Á để chinh phục thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng, cạnh tranh đối đầu với Apple, đối đầu với cả một tập thể trí tuệ thung lũng Silicone, cứ như Airbus của châu Âu cạnh tranh với Boeing vậy
Người Hàn Quốc, dù dân thường hay sếp lớn, tất tần tật mọi thứ họ dùng phải là “Made in Korea”, dù vào thập niên bảy mươi sản phẩm vô cùng kém cỏi và xấu xí. Nhưng nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm nhem nhuốc của thời khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà có sản phẩm tinh xảo sau này?
Tony nhớ lần đi Hàn đầu tiên, mùa thu năm 2005, bà chị ở Việt Nam cẩn thận ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ phẩm ưa thích của chị ấy rồi nhắn mình mua giùm. Ở cửa hàng mỹ phẩm, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản phẩm này đến sản phẩm khác cho Tony xem, đều là của Hàn cả. Do tiếng Anh không nói tốt nên cô cứ giải thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc. Đến lúc Tony lấy tay chỉ hộp phấn Lancom, thì cô thất vọng oà khóc. Cô khóc vì cô đã không thành công khi tình yêu nước của cô không thuyết phục được khách hàng. Tony nhìn cô ấy sững sờ, lẽ nào chỉ là 1 cô gái bán hàng bình thường mà có lòng yêu đất nước mãnh liệt thế sao? Tony thôi bèn mua mấy hộp mỹ phẩm của Hàn, dù chẳng biết có tốt không, vì kính phục quá. Lúc Tony bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại vẫn thấy cổ gập đầu cung kính.
Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học sinh chạy tập thể dục rầm rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ quốc gia ở sau lưng. Và Tony biết, sau lưng của mỗi công dân luôn là tổ quốc.
Tony Buổi Sáng
(Blog Ký Giả)

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

Nước Nga Mến Yêu

Nguồn : Vững Đại Phát 
Blog Người Buôn Gió – 7/4/2015
Hồi bé nước Nga gọi là Liên Xô. Lúc ấy mình thích Liên Xô lắm, đầu tiên mình nghe được là người Liên Xô coi Việt Nam như đứa em, giúp đỡ hết mình, viện trợ ( tức là cho ) đủ thứ từ bột mỳ đến cái máy cày.
Thứ ngoại ngữ mình học được ở trường là tiếng Nga, cuốn sách dạy tiếng Nga là cuốn sách đẹp nhất trong số SGK, bìa dày bọc vải gai sần, bên trong giấy trắng bóng, hình minh hoạ in màu cực đẹp.
Bọn trẻ con chơi ngoài đường, phá phách cái gì đều bảo nhau – tội đâu Liên Xô chịu
Liên Xô hào hùng và lãng mạn qua những bộ phim và các cuốn tiểu thuyết, dạo ấy ra đường nhìn thấy người nước ngoài đều nghĩ đó là người Liên Xô tất. Nhất là người lính tình báo đẹp trai, giỏi đấm bốc trong cuốn Đứng Vững Đến Cùng.
Liên Xô là thiên đường trong bộ óc của mình suốt cả tuổi thơ.
Bỗng nhiên một hôm mình đọc được cuốn Những Đứa Con phố Arbat, sách có 3 tập, mình chỉ đọc được 2 tập. Tập 3 kiếm mãi không thấy. Đọc xong 2 tập sách, mình thấy kinh hoàng, tình trạng của những thanh niên phố Arbat không khác gì những người thanh niên ở Hà Nội. Cũng tập trung cải tạo, cũng công an mật theo dõi, hàng xóm cũng tố giác nhau. Rồi cũng vì vài ba câu thơ vui vui mà một chàng trai trẻ phải đi đầy trong trại tù rừng thẳm Xi Be Ri.
Mình so sánh với chú Quý, một người đàn ông gầy gò. Vợ bỏ do chú ấy bị đi tù, ai cũng xa lánh chú ấy, mọi người nói chơi với thằng ấy là nguy hiểm, nó làm mình chết lây đấy. Chú Quý làm thợ hàn, lúc có việc lúc không, nhà chú trống hoác chả có gì. Một mình chú rang một đống lạc pha muối ăn dần với cơm. Con gái chú rất xinh, nó ở với mẹ. Nó cũng ghét bố vì mẹ nó nói bố nó là người hư hỏng.
Mình chả thấy chú hư hỏng gì, chú có việc thì làm chăm chỉ. Nhà chú nghèo nhưng nhiều sách, mình đến chơi nằm đọc cả ngày cũng được. Chắc chú buồn, thấy mình nên cũng kệ cho vui nhà. Rồi có lần chú lĩnh lương, làm món bún bò cho mình ăn cùng, chú sai đi mua rượu. Về hai chú cháu ăn, chú vừa ăn vừa uống rượu trầm ngâm. Mình đánh bạo hỏi sao chú bị đi tù.
Chú nghĩ một lúc, nhấp vài ngụm lại nghĩ, như là không nghe thấy câu hỏi. Mãi sau đột nhiên chú kể.
Lúc đó chú làm công đoàn nhà máy cơ khí, gần Tết bạn cùng nhà máy của chú trúng thưởng gì đó được một cái xe đạp Phương Hoàng màu ngọc bích. Lúc mọi người xúm vào xem xe, chú cũng xem và ngẫu hứng đọc câu thơ chế.
Xuân này hơn hẳn những xuân qua
Phương Hoàng ngọc bích đã về ta.
Vợ chồng làm tốt, con học giỏi
Niềm vui chan chứa khắp trong nhà.
Nửa tháng sau khi đọc bài thơ chế chúc mừng bạn có xe đạp, công an đến khám nhà chú, thu sách truyện một đống. Chú bị đi tù 4 năm vì tội xuyên tạc thơ chủ tịch HCM với ý đồ chế giễu …âm mưu phản động.
Vợ chú bỏ chú luôn, đi tù về chú lang thang ai thuê gì làm đấy. Mọi người ai cũng xa lánh chú.
Mình liên tưởng chú đến chàng sinh viên trong truyện Những Đứa Con Phố Arbat, tự thấy những chuyện bắt tù như này không đúng tí nào. Dạo ấy học văn giỏi nên cũng ham suy luận, mình nghĩ câu thơ chế ấy rất vui, thậm chí nó còn tốt để phổ biến thơ Bác cho nhân dân, thế mà bị bắt đi tù những 4 năm. Rồi về gia đình tan nát, thân cô thế cô bữa đói bữa no thì tội.
Hoá ra Liên Xô cũng ác như Việt Nam. Nước Nga của mình không chỉ có Cây Phong Non Trùm Khăn Đỏ, Bình Minh Mưa, Bông Hồng Vàng mà còn đã có thêm Một Ngày Trong Đời của I Van, Quần đảo Gu Lắc, Vĩnh Biệt Tình Em ( tức đốc tờ Zivaho ) của Sài Gòn cũ xuất bản.
Liên Xô thiên đường của mình còn là địa ngục, nơi đó những câu nói vu vơ, đùa cợt cũng có thể khiến người ta đi tù như chú Quý.
Mình không thích nước Nga nữa, sau này lớn chút thì hiểu, nước Nga và chế độ Nga khác nhau, người dân Nga cũng bị chế độ Xô Viết làm cho khốn khổ. Nước Nga xưa có những đại văn hào, danh hoạ, nhạc sĩ, hiền triết cũng rất đáng mến yêu. Còn nước Nga Xô Viết của Stalin lại là một nước Nga khác hoàn toàn với Puskin, Pautopxky…đã miêu tả.
Khi đi qua Hung, Tiệp, Ba Lan mấy năm trước, càng ngạc nhiên hơn khi biết người dân những nước này còn ghê sợ lính Nga hơn là lính phát xít Đức. Ở Hung Ga Ri trong một viện bảo tàng, mình xem được đoạn phim những tên mật vụ phát xít Đức người Hung khi quân Liên Xô tiến vào chúng chỉ thay bộ quần áo khác và vẫn làm mật vụ. Những nhà tù, chỗ tra tấn, hành hạ tù nhân của bọn mật vụ Hung Nga còn khủng khiếp hơn bọn mật vụ Hung Đức chục lần.
CCCP tan rã, đã 20 năm người Nga được thay thế ở Việt Nam bằng một người anh tốt khác là Trung Quốc. Tình cảm lần này có vẻ mặn mà hơn vì không những cùng lý tưởng XHCN mà vì còn là láng giềng gần gũi.
Người Nga lúc trước đi, để lại cho Việt Nam hoang tàn, đói khỏi vì chủ nghĩa bao cấp, hợp tác xã và cái thói đóng cửa ngoan cường không thèm đếm xỉa đến thế giới, chỉ cần có anh bạn Liên Xô là đủ. Vô tình tạo một điều kiện lý tưởng để anh bạn Tàu tiếp quản và áp đặt ảnh hưởng.
Bây giờ người anh lớn Tàu có vẻ muốn nhường lại ảnh hưởng ý thức hệ ở Việt Nam cho anh lớn Nga tiếp quản, sau khi đã huỷ hoại môi trường, đào sạch tài nguyên, thôn tính được cả mớ đất đai, lãnh hải chắc chắn rồi. Còn chỗ chưa thôn tính được, trước cảnh Nhật, Mỹ, Ấn cản trở. Anh Tàu giơ một chân để anh Nga có chỗ đứng cùng.
Có vẻ như một lần nữa, anh Nga và Tàu lại bắt tay để xây dựng Việt Nam thành tiền đồn chống thực dân, đế quốc.
Sự có mặt của Nga ở Việt Nam, nhất là một căn cứ quân sự Nga sẽ khiến Mỹ phải bỏ xa vùng biển Việt Nam vì e ngại xung đột lớn. Những tranh chấp còn lại giữa Việt, Tàu sẽ được anh Nga làm ngơ vì không can thiệp vào công việc nội bộ , để cho hai nước song phương giải quyết. Y như hồi Gạc Ma, anh Nga đóng ở Cam Ranh đã làm ngơ trước việc Tàu chiếm đảo, bắn giết lính Việt Nam.
Chủ trương làm em kết nghĩa của hai anh lớn Nga, Tàu đều do ĐCSVN quyết định. Mới đây TBT đã ký kết hợp tác toàn diện giữa đảng CS với đảng Putin, cùng với việc TBT Trọng dẫn các đoàn viên, lớp hậu thế sang TQ để bàn giao việc giáo dục nhồi sọ tinh thần phụng Tàu cho lớp lãnh đạo trẻ sau này.
Sở dĩ hai anh Nga, Tàu ráo riết như vậy, vì các anh thấy âm ỉ một làn sóng trong nhân dân Việt Nam muốn thoát khỏi cảnh chư hầu cho các anh, hướng đến một xã hội văn minh phương Tây. Những tên chủ nô không bao giờ muốn nô lệ của mình tự do cả, bằng cách này hay cách khác chúng phải buộc những tên nô lệ tan rã ý chí tìm kiếm tự do, tiếp xúc với sự văn minh của xã hội. Chúng vẽ ra bầu trời bên ngoài là u ám, là bạo động, là chết chóc, bất ổn. Chỉ ở trong vòng vây của chúng là an toàn.
Nhân dân Việt Nam ưa chuộng hoà bình, địt mẹ, nói thế thì nhân dân phương Tây đều thích chiến tranh bạo động chăng.? Từ hoà bình ở đây còn có nghĩa chính là sự ổn định. Chứ thằng Việt Nam nợ đầm đìa, vũ khí, khí tài cũ rích, máy bay tập huấn hơi tí là rụng, tướng tá béo núc không đi nổi thì định chiến với ai mà không mong hoà bình. Ổn định ở đây mấu chốt là giữ nguyên hiện trạng chư hầu cho các anh Nga, Tàu, đừng có mơ tiếp cận nền văn minh, tiến bộ nào. Cứ ngoan ở trong vòng tay che chở của các anh.
Ngoan ngoãn đi nhân dân Việt Nam, ngoan mà hưởng sự ổn định.
Anh mày là thằng lưu manh, giờ ấm thân ở tư bản, tháng chả làm gì cũng lãnh 2 ngàn Euro, đéo hơi đâu nói nhiều để chúng nó bảo là kích động gây loạn, phá hoại đời sống yên bình của nhân dân Việt Nam.
Mai này anh quay sang ca ngợi cộng sản, mong cho nó độc tài mãi mãi, có thế anh mới thấy sự sung sướng của mình. Nịnh cộng sản vài bài, lúc đó anh về Việt Nam với mác Việt Kiều yêu nước, rồi được lên ti vi còn oai gấp tỉ lần bọn Nguyễn Phương Hùng, Nguyễn Ngọc Lập…cỡ bọn đó trình viết, giọng điệu không bằng một góc của anh. Anh tha hồ xông xênh tìm gái công nhân chơi. Như hôm anh đi ta xi thằng taxi nói, giờ gái công nhân rẻ lắm, chỉ hơn trăm là múc được, sạch, ngon, chất. Vì bọn công nhân thất nghiệp nhiều, lương ba cọc, ba đồng không đủ sống.
Nếu mà Việt Nam giàu mạnh như tư bản, anh làm gì có được cơ hội xênh xang, làm đéo gì có ban tuyên huấn, tuyên giáo để anh được vinh danh là Việt Kiều yêu nước tiến bộ , một lòng hướng về quê hương, một lòng tin Đảng, tin chế độ.
Nào thì mến yêu người Nga trở lại thật nhiều đi nhân dân Việt Nam yêu chuộng ổn định.
Người Buôn Gió
(Blog Người Buôn Gió)

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975

Nguồn : Vững Đại Phát 
Loạt Bài Về Saigon SAU 1975
GNA: Loạt bài về Saigon TRƯỚC 1975 đã gây nhiều phản hồi: những người dân Saigon cũ và mới nhìn lại những hình ảnh cũ và nhận ra một “biển dâu” thực sự đã thay đổi cuộc đời của chục triệu người và không gian sống của họ đã chìm khuất hoàn toàn vào một “hành tinh” khác.
Để tìm một góc nhìn khác, GNA sẽ lần lượt cho đăng lại những mẩu chuyện và hình ảnh về Saigon SAU 1975. Lăng kính của Đảng và Nhà Nước thì chúng ta đã quá rõ, GNA không cần đăng lại nơi đây (đã có hơn 700 loa phường khắp xứ lảm nhảm hàng ngày). Chúng tôi sẽ chỉ ghi lại những suy ngẫm, hồi ức và tâm tư của những NGƯỜI DÂN (Saigon cũ hay nhập cư mới) để chúng ta có chút đồng cảm về một giai đoạn lịch sử vô cùng khác biệt của Saigon.
GNA sẽ tránh đề cập về chính trị, lãnh tụ hay lịch sử. Chỉ có những mảnh đời rất DÂN, rất Saigon. (Xin các BCA khó tính tha lỗi cho tính cẩn thận của GNA với những điều cấm kỵ liên quan đến quyền lực).
Tuy nhiên, để các dư luận viên im mồm, chúng tôi xin nhắc lại trước hết quan điểm của chính phủ về ngày đại thắng 30/4:
“Theo kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015) vừa được UBND TP HCM ban hành, thành phố sẽ tổ chức khánh thành các công trình: cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm trước ngày 15/3; tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 30/3……..
Các điểm bắn pháo hoa gồm: khu vực đường hầm sông Sài Gòn (quận 2); Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược (huyện Củ Chi); Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã Ba Giồng (huyện Hóc Môn); Khu di tích Láng Le – Bàu Cò (huyện Bình Chánh); Sân bóng đá huyện Cần Giờ; Công viên lịch sử – Văn hóa Dân tộc (quận 9) và Công viên Văn hóa Đầm Sen (quận 11).…..
Trước đó, Thủ tướng đã phê duyệt Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước. Theo đó, các bộ, ngành trung ương sẽ chủ trì lễ mitting tại lễ đài ngã tư Lê Duẩn – Pasteur, Công viên 30/4 (quận 1). Thời gian tổng duyệt vào lúc 7h ngày 26/4 và chính thức diễn ra lúc 7h ngày 30/4, trong lễ mitting sẽ có tiết mục thả bong bóng và chim bồ câu.
Sau đó sẽ là lễ diễu binh, diễu hành với sự tham dự của khối nghi trượng, các khối diễu binh (các khối đi tay không, các khối đi có súng, có khí tài) và các khối diễu hành quần chúng.”
Bây giờ đến lượt NGƯỜI DÂN:
Bài 1: Hồi ức Việt Nam
Hà Trinh – VOA – 7 April 2015
Những hồi ức về Việt Nam, với tôi, là những hồi ức buồn.
Hơn hai mươi năm rời xa quê hương, mỗi khi giấc mơ Việt Nam trở về trong tôi, nó chỉ nhuốm toàn nỗi buồn, niềm lo sợ, đến mức nó có thể đánh thức tôi vào lúc nửa đêm. Rồi, tôi chỉ biết nằm thao thức, miên man suy nghĩ về những điều đã xa vẫn ám ảnh tôi như mới hôm nào.
Cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt khi tôi vừa chín tuổi. Sài Gòn khi ấy, tháng Tư 1975, náo loạn bởi tiếng bom rơi, tiếng đạn nổ chát chúa, trong sự hoảng loạn của một thành phố hoa lệ. Tôi không quên nổi hình ảnh mẹ tôi, một người đàn bà trẻ mới ngoài ba mươi, đang ôm đứa em gái đỏ hỏn vài tháng tuổi của tôi, ngồi khóc nức nở. Tôi không quên được hình ảnh bà nội tôi, già yếu tóc bạc trắng xóa, nắm lấy tay bố tôi, vừa van xin, vừa mắng mỏ bắt ông phải di tản khỏi Sài Gòn, bởi ông là sĩ quan của quân đội miền Nam. Tôi không quên nổi hình ảnh bố tôi, mắt tràn mi năn nỉ bà nội tôi cho ông ở lại vì ông không bỏ được gia đình và cha mẹ già ở quê nhà, khi lệnh di tản cuối cùng chỉ cho một mình ông được phép ra đi. Ông ngoại tôi, như chiếc bóng, ngồi lặng lẽ, bất động trong một góc tối trên ghế sofa. Đôi mắt ông nhìn xa xăm vào một góc nào đó khi bên tai văng vẳng tiếng nói từ trên chiếc radio kêu gọi buông súng đầu hàng.
Trong đêm hai mươi chín tháng Tư lịch sử đó, cả nhà tôi núp trốn trong một cái hầm cá nhân tại nhà. Cái đêm dài lịch sử ấy, tôi vẫn không quên được tiếng bom rơi, đạn nổ, tiếng khóc nức nở của mẹ, tiếng cầu nguyện của bà, tiếng còi báo động xé màn đêm, tiếng gầm rú của những chiếc máy bay phản lực trên bầu trời, rồi tiếng quạt gió xình xịch của những chiếc trực thăng vần vũ trên bầu trời, tiếng bánh xích của những chiếc xe tăng nghiến trên đường nhựa, nghe rào rạo…Tôi không thể nào nhận biết những tiếng đó từ phe ta hay phe Cộng. Tôi chỉ ngồi im lặng nghe lời đoán: quân ta, quân địch của hai ông anh của mình. Và rồi, có lúc tôi lại nghe tiếng thét hãi hùng của những người, có lẽ bị thương đâu đó…
Trong cơn hoảng loạn, tôi bừng hiểu: chiến tranh đã chạm đến Sài Gòn của tôi.
Mới chín tuổi đầu, tôi đã phải tiễn bố tôi lên đường vào trại cải tạo. Bố ôm từng đứa con nhỏ, an ủi, vỗ về, bảo “mấy con chóng ngoan, bố học tập chừng một tháng sẽ trở về phụ giúp mẹ, bà và bác nuôi dạy tụi con”. Bố vỗ vai người anh lớn của tôi, bảo ráng phụ giúp ông bà, mẹ và bác dạy dỗ các em, làm gương tốt cho các em noi theo. Anh tôi, nước mắt ngần ngật, đong trên khóe mắt, gật đầu. Tôi biết rằng, ở lứa tuổi mười ba ấy, anh tôi chẳng hiểu nổi làm gương tốt là như thế nào để dạy cái đám em đang tuổi lớn, ăn như tằm ăn rỗi.
Mẹ tôi ngồi khóc lặng lẽ, ôm đứa em mới hai tháng tuổi, nhìn bất động vào khuôn mặt măng sữa kia. Bố tiến đến gần, chỉ biết ôm lấy vai mẹ, rồi đưa tay đỡ đứa bé, xiết chặt vào lòng. Đứa em tôi vẫn thiêm thiếp ngủ sau khi no sữa mẹ. Trao em lại cho mẹ, bố quay đi, lầm lũi ra ngoài đầu xóm. Cả nhà tôi, lủi thủi đi theo bố trông như một đám tang buồn.
Một người lính bộ đội Bắc Việt cầm súng, nhìn bố tôi thúc giục, leo lên chiếc xe cam nhông bít bùng. Trên đó đã có những con người ngồi co ro, cúi mặt. Bố chỉ xách chiếc ba lô quân đội, trong đó chỉ gói ghém vài bộ đồ, những vật dụng cần thiết cho “một tháng học tập”. Bố lặng lẽ lên xe, không quay đầu lại. Chiếc xe lăn bánh khi tấm bạt phủ xuống. Cuộc đày ải bắt đầu! Bố đi suốt mười năm biền biệt…
Làm sao tôi quên được!
Miền nam sau tháng Tư 1975 oằn mình thay đổi. Sài Gòn cũng rướm máu đổi thịt thay da. Tôi còn quá nhỏ để có thể làm một cuộc so sánh, dẫu chỉ mang tính ước lệ của cái thủ đô từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn đông” với thành phố Hồ Chí Minh, nơi tôi đang sinh sống. Chỉ biết một điều tôi không còn được nghe những bản nhạc mình yêu thích, không được đọc các truyện tranh dành cho trẻ con, không được mặc áo đầm đi học, không được mẹ cho tiền ăn sáng trước khi đến trường…Và còn nhiều “cái mất”, cũng như “cái không” xuất hiện sau khi miền Nam đổi chủ.
Những ngày sau đó, nếp sống náo nhiệt, năng động, ồn ào của một thành phố mệnh danh là thủ đô của miền nam, bất chợt đổi thay, bất chợt khép kín. Mọi người ra đường lầm lũi, len lén nhìn nhau. Nỗi bất an, nỗi lo sợ đọng trong mắt từng người Sài Gòn. Những nét hào nhoáng của một thủ đô hoa lệ chợt biến đi để thay vào một thành phố ảm đạm, bất an. Những chiếc xe đạp ùa ra đường thay cho những chiếc xe hơi, xe gắn máy. Áo bà ba trở thành loại y phục thường ngày của người Sài Gòn, thay cho chiếc áo dài thướt tha, cổ điển, hay những chiếc quần tây ống loe, chiếc áo đầm hiện đại. Người Sài Gòn khép kín, ngơ ngác, vêu vao. Đường phố Sài Gòn vắng vẻ, đìu hiu, cam chịu.
Hồi ức của tôi về Việt Nam sau ngày thống nhất là những mất mát, những đau thương. Tôi đã chứng kiến những chiến dịch chống tư sản mại bản được phát động trong thành phố. Từng đoàn học sinh, sinh viên được khuyến khích tố cáo những đám người mà chính quyền kết tội là bọn tư bản lũng đoạn kinh tế nước nhà. Để chứng minh lòng yêu nước, lớp thanh thiếu niên mới phải tố cáo họ với chính quyền, cho dẫu những người đó là ông bà, cha mẹ, anh em hay là bạn bè, người thân.
Tôi đã thấy những người bạn tôi, vì rơi trong diện Tư Sản Mại Bản, mà bị đuổi khỏi căn nhà nơi họ sinh sống, bị phân biệt đối xử không chỉ ngoài xã hội mà cả trong học đường. Những cái chết tức tưởi vì bị cướp đất, cướp nhà. Những căn nhà bị đập nát, những đoàn người bị xua đuổi khỏi thành phố về các vùng nông thôn hẻo lánh. Để rồi vài tháng sau, họ, những những con người đó lại âm thầm trở về thành phố, gia nhập vào đám người ăn mày như những thây ma vất vưởng, sống lê la dưới gầm cầu, dưới mái hiên nhà, chỉ mơ một ngày trở lại căn nhà chôn nhau cắt rún mà nay đã thay tên đổi chủ.
Trong lớp học, tôi và các bạn tôi nói về những chuyến vượt biển nhiều hơn là những phương trình toán học. Chúng tôi xì xào với nhau về những chuyến ra đi của bạn bè nhiều hơn là thảo luận Chủ Nghĩa Marxist, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tôi vui với nhau khi nghe chuyến vượt biên của một đứa bạn thành công, hoặc cầu nguyện cùng nhau khi nghe một đứa bạn mất tích trong chuyến hải hành của nó. Lâu lâu, trong lớp tôi lại vắng bóng một đứa học trò mà không rõ ly’ do. Nhưng chỉ sau một tuần, chúng tôi có thể kết luận chắc như đinh đóng cột rằng: “Nó dã đi vượt biên rồi”. Rồi một tháng sau, cô giáo hay thầy giáo chúng tôi lại “buồn rầu”, “long trọng” báo tin cho đám học trò biết rằng: “Em X sẽ không đến lớp nữa.” Đám học trò lại hùa nhau đồn thổi tin tức vượt biển thành công hay mất tích của đứa bạn. “Hôm nay còn đây, mai đã ra đi” trở thành một hiện tượng bình thường trong quãng đời học sinh của thế hệ chúng tôi.
Tin đồn thổi về những nạn nhân của Khờ me Đỏ bay đến tai chúng tôi ngày một nhiều, dẫu rằng chính quyền ra sức che giấu. Không một tờ báo chính thức nào của nhà nước thông báo tin người dân Việt Nam đang bị bọn Khơ-me đỏ giết hại tàn bạo bên kia bên giới. Xác chết thả trôi trên hồ Tông-Lê-Sáp, trôi theo dòng Cửu Long về đến Việt Nam. Cho đến khi chiến tranh thật sự nổ ra ở dọc Tây Ninh, người dân mới giật mình hoảng sợ. Mùi tử khí của cuộc chiến hai mươi năm tương tàn chưa tan hết, lại đến cuộc chiến tranh giữa “những người đồng chí anh em quốc tế”.
Tôi không thể nào quên về một người bạn kể chuyện lúc anh làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Anh đã rưng rưng nước mắt khi kể về sự tàn ác của quân đội Khơ Me đỏ tàn sát dân Khơ Me cũng như dân Việt mà anh chứng kiến. Chúng tôi cùng sùi sụt theo lời kể của anh. Để rồi vài tháng sau, chúng tôi lại nhận tin anh hi sinh trên chiến trường Cam Bốt. Chúng tôi đã reo vui khi nghe Campuchia giải phóng, rồi lại nhức nhối khi nghe tin bạn mình đã bỏ mình trên đất bạn.
Những ai vào tuổi tôi, có lẽ sẽ chẳng quên về Sài Gòn với những ngày sôi động vào chiến dịch đổi tiền. Đồng tiền ngày hôm qua có thể mua được một chiếc xe Honda, ngày hôm sau không mua nổi một bó rau lang, rau muống. Thứ chiến dịch ăn cướp đó đã đẩy biết bao người lao đầu qua thành cửa sổ, chết tức tưởi vì của cải mình gom góp hàng chục năm, trong một đêm đã tan tành mây khói. Nhưng chính nhờ nó, qua bàn tay ảo thuật của những kẻ đẻ ra nền kinh tế đổi tiền đó, lại trôi vào trong túi của những người nắm giữ chức danh, quyền thế. Chỉ trong một đêm, hắn đang là một anh bộ đội chân mang dép râu, đầu đội mũ cối, hút thuốc rê nâu, bỗng chốc hóa thành một thứ quan viên giàu sụ. Trong cái tranh tối, tranh sáng của một thể chế kinh tế “vật đổi sao dời” đến chóng mặt kia, đạo đức xã hội chuẩn mực mà người Sài Gòn được thừa hưởng từ cha ông ngàn năm xây dựng, phút chốc biến thành thứ đạo đức lừa thầy, phản bạn, chém chúa, lộn chồng của một xã hội hỗn loạn, nhiễu nhương, khi ăn cướp trở thành một chính sách.
Vẻ đẹp Sài Gòn chỉ còn trong cổ tích.
Hồi ức Việt Nam của tôi là một mảng tranh buồn màu xám. Bởi khi tôi ra đi còn biết bao điều dang dở, méo mó ở sau lưng. Ngày ra đi, phía trước tôi là đường tương lai mờ mịt, sau lưng tôi là quá khứ tối tăm của một thế hệ bị quăng bên lề xã hội. Chúng tôi đã sống như thứ hình nhân câm nín, một thứ công dân hạng hai.Luôn luôn được nhắc nhở rằng hơi thở mà chúng tôi đang có được là nhờ ơn cách mạng khoan hồng. Thế hệ chúng tôi chỉ là lớp vỏ đệm của những biến cố lịch sử ở Việt Nam sau cuộc chiến “một mất một còn” giữa những người chung dòng máu Lạc.
Dẫu thế nào, tôi vẫn mơ có một ngày quê hương sẽ rũ bỏ hết những vết thương quá khứ. Những vết thương cần khép miệng để lành hẳn theo thời gian. Ta cần phải làm hòa với quá khứ để đi tiếp ở hiện tại và ở tương lai. Không chỉ thế hệ tôi, thế hệ trước tôi, thế hệ sau tôi, sẽ tiếp nối không còn ranh giới. Cái ranh giới: địch và ta sẽ không còn tồn tại. Cho dẫu lịch sử Việt đã ghi dấu đất nước bao lần chia cắt, nhưng người Việt Nam vẫn luôn hướng về nhau với tấm lòng sắt son: máu chảy, ruột mềm.
Gần bốn mươi năm kết thúc cuộc chiến tranh tương tàn lịch sử. Dấu vết chiến tranh đã không lại gì trên những vùng đất giao tranh xưa. Sự sống hồi sinh sau bao năm tháng người dân Việt phải vật lộn với cuộc mưu sinh. Có mấy ai nghĩ nhiều về những người đã nằm xuống. Có thể nào, chúng ta hi vọng một ngày, sẽ thấy một nơi chốn được dựng lên trên nền đất Việt, để con cháu Việt đời sau, được đến nơi, được tưởng nhớ, tri ân những người đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam cho dẫu họ ở bên này hay bên kia chiến tuyến. Người ta không ai biết chắc có bao nhiêu người đã mất trong cuộc chiến này. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, tất cả những con người đó chỉ hy sinh cho điều duy nhất: lòng yêu quê hương và sự trường tồn của dân tộc.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2015

Loạt Bài Về Bất Động Sản 2015

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bài 2: Ở những nơi không có… bóng người
Là cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, “cơn sốt” đã biến nhiều mảnh đất màu mỡ của Đồng Nai trở thành những khu đô thị không người. Còn ở TP Hồ Chí Minh, có không ít nơi đắc địa, “tấc đất tấc vàng”, nhưng theo thống kê của cơ quan chức năng, có hàng nghìn héc ta “đất vàng” đang để hoang hóa…
Lãng phí rất lớn nguồn tài nguyên
Cách đây vài năm, hàng loạt dự án bất động sản quy mô lớn tại Đồng Nai được công bố với nhiều hứa hẹn “có cánh”. Một trong số này có dự án đình đám với tổng vốn đầu tư ban đầu là 2 tỷ USD, quy mô lên tới 1.184ha. Đó là Khu kinh tế mở Long Hưng (xã Long Hưng, TP Biên Hòa) do Liên hiệp Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai (Donacoop) làm chủ đầu tư. Dự án được chính thức khởi công từ năm 2008 nhưng đến nay sau 7 năm, khu đô thị tầm cỡ này vẫn chưa định được hình hài, hiện chỉ có lác đác vài dự án tái định cư được xây dựng. Cách TP Biên Hòa không xa, nằm ven quốc lộ 51, một dự án quy mô khác là Khu đô thị Thung Lũng Xanh (xã An Phước, huyện Long Thành) có quy mô 45ha do Công ty CP Long Thuận Lộc làm chủ đầu tư. Hiện tại, dự án đã được đầu tư hạ tầng, nhưng không có người ở.
Về những dự án bất động sản từng “làm mưa, làm gió” tại Đồng Nai, giới đầu tư địa ốc khu vực phía Nam phải nhắc đến dự án Khu đô thị Đông Sài Gòn với tổng vốn đầu tư được công bố lên tới 6 tỷ USD (chủ đầu tư là Công ty CP Đầu tư Nhơn Trạch thuộc Tổng công ty Tín Nghĩa). Được quy hoạch trên diện tích 942ha, nằm ở vị trí trung tâm của Khu đô thị mới Nhơn Trạch, dự án Đông Sài Gòn từng được ví như “thiên đường nghỉ dưỡng” cuối tuần của người dân TP Hồ Chí Minh. Báo cáo tài chính năm 2012 của Công ty CP Đầu tư Nhơn Trạch cho thấy, tính đến hết năm 2012, số tiền đầu tư vào khu đô thị này đã lên tới 945 tỷ đồng. Theo ghi nhận của chúng tôi, dù được chính thức khởi công từ tháng 8-2009, đến nay đã gần 6 năm, nhưng hiện dự án Đông Sài Gòn mới được chủ đầu tư khởi công phần hạ tầng khu vực phía bắc đường 25B với diện tích 350ha, các hạng mục chính gần như chưa khởi động. Hiện tổng thể mặt bằng của dự án chỉ là bãi đất trống, chưa có bất kỳ công trình nhà ở nào. Điểm chung của các dự án kể trên là đều sử dụng diện tích đất rất lớn, chủ yếu là đất nông nghiệp dẫn tới lãng phí rất lớn nguồn tài nguyên đất đai.
Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đô thị mới Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đến năm 2020. Từ đó, Nhơn Trạch được ví như “sân sau” của TP Hồ Chí Minh. Vốn là một vùng đất thuần nông, Nhơn Trạch trở thành điểm đến của hàng loạt “đại dự án” bất động sản. Tại thời điểm thị trường bất động sản đang vào đỉnh cao của “cơn sốt” (năm 2007-2008), số doanh nghiệp hốt bạc khi đầu tư vào Nhơn Trạch lên tới hàng trăm. Gần như dự án nào tung ra thị trường đều được giới đầu cơ mua ngay lập tức. Không ít nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ khi Nhơn Trạch trở thành thành phố đúng nghĩa trong tương lai. Thế nhưng, thị trường bất động sản rơi vào khủng hoảng ngay sau đó. Trở lại thành phố mới Nhơn Trạch vào thời điểm này là một đô thị thưa thớt người ở, nếu không nói là đìu hiu, cô quạnh. Đơn cử, tại dự án Khu dân cư Long Thọ – Phước An do Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) làm chủ đầu tư có quy mô 223ha, dù được khởi công
từ năm 2003, nhưng đến nay vẫn chưa có người đến xây dựng nhà ở. Bên cạnh đó là dự án Khu đô thị Detaco do Công ty CP Đệ Tam làm chủ đầu tư, có quy mô 47,3ha, tổng vốn đầu tư trên 1.600 tỷ đồng. Dự án khi hoàn thành sẽ có 36 khối chung cư cao 12-18 tầng, quy mô dân số khoảng 10.500 người. Tuy nhiên, tại thời điểm này, dự án chỉ là bãi đất hoang với tấm bảng giới thiệu dự án đã hoen gỉ.
Không thể để doanh nghiệp “ôm” đất
Tại TP Hồ Chí Minh, hiện có khoảng 348 khu đất với diện tích 1.170ha đang bị bỏ hoang, 285 khu đất cho thuê trái phép, 65 khu đất cho mượn không đúng quy định. Số liệu từ Sở Tài nguyên – Môi trường thành phố cho biết, các tập đoàn, tổng công ty đang trực tiếp quản lý, sử dụng 410 khu đất với diện tích 6,3 triệu mét vuông, nhưng mới sử dụng đúng mục đích 2,5 triệu mét vuông, chiếm khoảng 39%, số còn lại đang bỏ hoang hoặc cho thuê trái phépĐáng lưu ý đây là những khu đất giao cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) triển khai làm dự án theo quy hoạch. Sở Tài nguyên – Môi trường TP Hồ Chí Minh cho biết, qua rà soát tiến độ các dự án tại 155 khu đất của 72 DNNN, doanh nghiệp cổ phần hóa có thể khẳng định, tiến độ thực hiện rất chậm. Sở Tài nguyên – Môi trường đã kiến nghị UBND thành phố hủy bỏ chủ trương chấp thuận đầu tư đối với 47 khu đất với diện tích hơn 484.000m2. Đối với 13 khu đất có diện tích hơn 107.000m2, do các doanh nghiệp chưa có khả năng thực hiện dự án nhưng đang sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh, Sở Tài nguyên – Môi trường kiến nghị chấp thuận cho doanh nghiệp thuê ngắn hạn theo hiện trạng để chờ triển khai thực hiện dự án.
Năm 2007, UBND TP Hồ Chí Minh đã giao Sở Quy hoạch – Kiến trúc đề xuất các tiêu chí quy hoạch 20 khu đất nằm ở những vị trí đẹp nhất tại khu trung tâm thành phố để kêu gọi đầu tư. Tuy nhiên, sau gần chục năm, đến nay chỉ có khoảng một nửa trong số đó đã, đang hoặc chuẩn bị triển khai các dự án. Số còn lại vẫn “bất động” hoặc bế tắc trong kêu gọi các nhà đầu tư. Trong đó, phải kể đến những khu “đất vàng” như khu phức hợp Đồng Khởi – Nguyễn Huệ – Ngô Đức Kế; khu tứ giác Pasteur – Tôn Thất Đạm – Huỳnh Thúc Kháng – Tôn Thất Thiệp; khu 6 ô kế chợ Bến Thành; khu đất Nhà máy Bia Sài Gòn…
Ông Nguyễn Hữu Tín, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh cho biết, thành phố sẽ tiếp tục tiến hành rà soát, xử lý khoảng 123 dự án, chủ yếu là dự án mà DNNN được giao quản lý nhưng kéo dài thời gian thực hiện gây lãng phí tài nguyên đất đai và lợi ích xã hội. Đối với những dự án sử dụng đất đã bồi thường nhưng chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện dự án, thành phố sẽ kiến nghị để chuyển đổi chủ đầu tư hoặc chuyển nhượng dự án nhằm bảo đảm tiến độ.
Trao đổi với phóng viên Báo Hànộimới, ông Võ Văn Luận, Chánh văn phòng UBND TP Hồ Chí Minh cho rằng, nguyên nhân cơ bản khiến nhiều nhà đầu tư mất năng lực tài chính, không thể triển khai dự án là do nền kinh tế suy thoái, sức tiêu thụ các sản phẩm về nhà đất sụt giảm nên đầu ra bị thu hẹp, doanh nghiệp không bán được hàng, không huy động được vốn. “Thành phố hết sức chia sẻ khó khăn của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, không thể để doanh nghiệp “ôm” đất như vậy, bởi điều này không những khiến chi phí doanh nghiệp tăng lên mà Nhà nước cũng thất thoát ngân sách khi để lãng phí nguồn tài nguyên đất đai” – ông Luận nói. Cũng theo ông Võ Văn Luận, khi đưa ra quyết định thu hồi, thành phố đã cân nhắc trên tinh thần khách quan. “Thu hồi dự án nào, của doanh nghiệp nào, thành phố đều xem xét một cách khách quan và công bằng. Nhà đầu tư nào còn năng lực triển khai thì tiếp tục cho làm, ngược lại sẽ kiên quyết thu hồi”, ông Luận khẳng định.
Nguyễn Lê

Loạt Bài Về Khởi Nghiệp (Bài 6)

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bài 6: Paul Graham nói về 18 Sai Lầm
Đây là những sai lầm mà bất cứ nhà khởi nghiệp nào cũng cần phải biết. Và theo Paul Graham, người sáng lập Y Combinator – chương trình hỗ trợ khởi nghiệp nổi tiếng, muốn khởi nghiệp thành công, bạn chỉ cần làm ngược lại những điều này.
1. Khởi nghiệp một mình
Không phải là một sự trùng lặp ngẫu nhiên khi các công ty khởi nghiệp thành công đều được sáng lập bởi ít nhất 2 người, Paul Graham cho biết.
Vì vậy, muốn thành công và có nhiều nguồn tài trợ, bạn đừng bao giờ khởi nghiệp một mình.
2. Chọn địa điểm đặt công ty xấu
Bạn có thể thay đổi bất cứ chi tiết nào của ngôi nhà nhưng không thể cải thiện được địa điểm đặt công ty của bạn.
Tương tự như vậy, bạn có một trụ sở hoành tráng, nội thất sang trọng nhưng lại đặt ở khu vực có giao thông khó khăn, an ninh kém hoặc có ấn tượng không tốt với các đối tác, những nỗ lực khác của bạn gần như vô nghĩa.
Hãy chọn địa điểm tốt hơn, nơi những công ty lớn đang đặt trụ sở. Họ chắc chắn đã nghiên cứu kỹ lưỡng, đo lường các thông số để lựa chọn một địa điểm phù hợp.
3. Chọn thị trường ngách quá hẹp
Bằng việc chọn thị trường ngách quá hẹp, các nhà khởi nghiệp đang tự gây khó khăn cho mình. Tất nhiên, bạn mong muốn tìm một thị trường ít cạnh tranh để khởi sự, tuy nhiên, đây không phải là lựa chọn thông minh.
4. Bắt chước ý tưởng, sản phẩm đã có
Đây là một sai lầm phổ biến của những thương hiệu khởi nghiệp. Bạn không đủ dũng cảm để thực hiện những ý tưởng của mình. Thay vào đó, bạn bắt chước, lặp lại những điều người khác đã làm.
Paul Graham viết, Google của ngày mai sẽ không còn là Google mà bạn đang thấy hôm nay. Điều đó có nghĩa là nếu bạn chỉ bắt chước người khác, doanh nghiệp của bạn sẽ mãi mãi ở phía sau.
5. Không chịu thay đổi
Bạn quá bướng bỉnh, không lắng nghe lời khuyên của người khác hay ý kiến khách hàng, bạn đã tự giết chết công ty của mình.
6. Chọn sai nhân viên
Rất khó để chọn được nhân viên thực sự giỏi mà không có bất cứ khuyết điểm nào. Và việc bạn cần làm không phải là tìm cho được người giỏi nhất mà là tìm được người có tính cách, sở thích phù hợp với doanh nghiệp, với đội ngũ nhân viên của công ty.
Sự kết hợp nhịp nhàng, môi trường làm việc tốt sẽ giúp năng suất làm việc cao hơn, mang đến hiệu quả kinh doanh tốt hơn.
7. Chọn sai lĩnh vực để đầu tư
Bạn đã dồn hết tâm trí vào công ty của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn chọn sai lĩnh vực để bắt đầu khởi nghiệp bạn sẽ mất rất nhiều thời gian và tiền bạc để bắt đầu lại.
8. Chần chừ, trì hoãn ra mắt công ty
Bạn sẽ không thể có kinh nghiệm, thành công nếu không bắt tay vào ra mắt doanh nghiệp của bạn. Càng chần chừ, bạn càng trì hoãn cơ hội thành công của mình.
9. Ra mắt quá sớm
Không chần chừ, không có nghĩa là bạn gấp rút ra mắt công ty khi mọi thứ chưa sẵn sàng. Khi mọi người đã biết đến công ty của bạn nhưng nó vẫn hoạt động không hiệu quả, điều đó sẽ tạo nên hình ảnh không tốt, ảnh hưởng đến uy tín và kết quả kinh doanh của bạn.
10. Không xác định được khách hàng tiềm năng
Nhiều nhà khởi nghiệp đầu tư rất nhiều tiền cho việc xây dựng, quảng bá thương hiệu… nhưng lại không đầu tư vào nghiên cứu, tìm ra khách hàng tiềm năng của mình.
Đó là một sai lầm nghiêm trọng khiến bạn không thể bán được các sản phẩm, dịch vụ của mình.
11. Đầu tư quá ít tiền
Chuẩn bị một khoản tài chính quá ít, bạn không đủ sức để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ chất lượng, hoặc không đủ tài chính để quảng bá thương hiệu, dẫn đến việc khách hàng không biết đến công ty của bạn, dẫn đến vệc kinh doanh không hiệu quả.
12. Tiêu quá nhiều tiền
Ngược lại, việc tiêu quá nhiều tiền, không có kế hoạch tiết kiệm sẽ khiến công ty của bạn thâm hụt ngân sách.
13. Đầu tư quá nhiều tiền
Dồn tất cả tiền bạc vào công ty khởi nghiệp không phải là lựa chọn thông minh. Khi có một số vốn lớn, rất có thể bạn và các nhà đồng sáng lập sẽ cảm thấy mình quá dư dả, không tiết kiệm và đầu tư tiền không hiệu quả.
14. Thiếu nhà đầu tư
Bất cứ một công ty khởi nghiệp nào cũng nên có sự hỗ trợ từ nhà đầu tư. Không chỉ đầu tư vốn, những nhà đầu tư có thể cung cấp thêm cho bạn những kinh nghiệm quý giá mà họ đã phải đánh đổi bằng rất nhiều tiền và thời gian.
15. Tập trung quá nhiều vào lợi nhuận
Nhiều nhà khởi nghiệp đã mắc sai lầm khi sa đà vào việc tìm kiếm lợi nhuận. Bạn nên nhớ, bạn có rất nhiều thời gian để kiếm tiền sau này. Đây là thời điểm bạn cần làm khách hàng biết đến công ty, yêu thích sản phẩm của bạn hơn là muốn họ trả thật nhiều tiền cho bạn.
16. Không sẵn sàng để luôn luôn bận rộn
Khi khởi nghiệp, bạn phải chuẩn bị tinh thần rằng bạn sẽ luôn luôn bận rộn và vất vả. Nếu bạn nghĩ, việc làm chủ một doanh nghiệp sẽ khiến bạn trở nên giàu có, nhàn nhã ngay lập tức thì đó thực sự là một sai lầm.
17. Tranh chấp giữa các sáng lập viên
Vào thời điểm “vạn sự khởi đầu nan”, các sáng lập viên hay nói cách khác là nội bộ công ty cần đoàn kết, chia sẻ với nhau. Nếu để xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ, công ty của bạn đã tự thua trước khi thực sự đặt chân vào thương trường.
18. Thiếu kiên nhẫn
Có rất nhiều người khởi nghiệp và cũng đã có rất nhiều người bỏ cuộc. Thực tế là không có nhiều nhà khởi nghiệp thành công và nguyên nhân đầu tiên là do họ thiếu kiên nhẫn, không đủ dũng cảm để theo đuổi đến cùng những dự án của mình.
TĂNG KHÁNH

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

Oxfam lên án IFC của Ngân hàng Thế giới “cho vay mờ ám”

Nguồn : Vững Đại Phát

Oxfam lên án IFC của Ngân hàng Thế giới “cho vay mờ ám”
Trọng Thành -BizLive theo RFI – 6 April 2015
Nhiều tổ chức phi chính phủ trong đó có tổ chức quốc tế chống bất công và nghèo đói Oxfam, công bố một báo cáo lên án các hoạt động cho vay mờ ám của IFC, định chế quan trọng nhất thế giới về trợ giúp phát triển.
Hôm 2/4/2015, theo AFP, nhiều tổ chức phi chính phủ trong đó có tổ chức quốc tế chống bất công và nghèo đói Oxfam, công bố một báo cáo lên án các hoạt động cho vay mờ ám của IFC, định chế quan trọng nhất thế giới về trợ giúp phát triển.
IFC đứng trước áp lực buộc phải đầu tư vào các dự án đáp ứng “những tiêu chuẩn về xã hội và môi trường”.
Một tuần trước hội nghị mùa xuân của Ngân hàng Thế giới tại Washington, Oxfam và nhiều tổ chức NGO (như Inclusive Development International, Bretton Woods Project…) ra báo cáo mang tên “Những nỗi đau khổ của người khác”, tố cáo việc IFC (International Finance Corportation) cấp tín dụng cho nhiều dự án xâm phạm nghiêm trọng các quyền con người, như: tước đoạt đất đai của dân cư địa phương, cưỡng bức di cư, tước đoạt các phương tiện sống căn bản.
Những hành động này nói trên của IFC trên thực tế khác xa với những mục tiêu mà Ngân hàng Thế giới đề ra là “chấm dứt nạn nghèo khổ cùng cực trong một thế hệ” và cổ vũ cho một “xã hội thịnh vượng được chia sẻ”, RFI viết.
Từ tháng 6/2009 đến tháng 6/2013, IFC cho vay tổng cộng 36 tỷ USD, thông qua các cơ sở tài chính trung gian tại các nước đang phát triển. Khoản tiền này tương đương với hơn 50% đầu tư trực tiếp của Ngân hàng Thế giới vào y tế và gấp ba lần tín dụng cho giáo dục.
Theo Oxfam và các tổ chức NGO tham gia báo cáo, IFC cho vay mà không tiến hành các thẩm định đầy đủ, cũng không đánh giá đúng các nguy cơ, thậm chí đánh giá thấp. Giám đốc văn phòng Oxfam tại Washington nhận xét: “Với cách cho vay phát triển mới, IFC thậm chí không biết được phần lớn các khoản tín dụng sẽ đến tay ai, cũng không biết nó làm tốt hay làm hại”. Đối tượng của 62% đầu tư của IFC là các nước đang phát triển.
Theo bà Natalie Bugalski, giám đốc tư pháp của Inclusive Development International, đồng tác giả báo cáo, công chúng không có bất cứ thông tin nào liên quan đến nơi nhận được tín dụng của “94% các khoảng đầu tư mạo hiểm của ISF qua các trung gian”.
RFI dẫn bài viết trên Le Monde cho biết, các tổ chức phi chính phủ yêu cầu Ngân hàng Thế giới đầu tư “ít hơn, nhưng với chất lượng cao hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn về xã hội và môi trường của mình”, và không nên đầu tư vào các dự án mạo hiểm cao, chừng nào chưa cải thiện được khả năng quản trị các rủi ro.
Các NGO cũng đề nghị IFC công bố danh tính của các khách hàng và các dự án được thực hiện thông qua môi giới, và IFC cần chấp nhận các thẩm định độc lập. Các yêu cầu cải cách này rất cần thiết, Le Monde nhấn mạnh, khi định chế tài chính quan trọng này dự định tăng 50% tín dụng tại các quốc gia đang trong xung đột và ở trong tình trạng bấp bênh.
TRỌNG THÀNH
World Bank cho Hoàng Anh Gia Lai ‘vay tiền mờ ám’
Người Việt – 3 April 2015
Một số tổ chức Phi Chính Phủ (NGO) vừa lên tiếng chỉ trích IFC (International Finance Corporation) của Ngân Hàng Thế Giới (WB) cho Hoàng Anh Gia Lai – một tập đoàn của Việt Nam, vay những khoản mờ ám.
WB thành lập IFC nhằm hỗ trợ tài chính để thực hiện những dự án nhằm chấm dứt sự nghèo khổ, cùng cực và hỗ trợ xây dựng sự thịnh vượng. Từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 6 năm 2013, IFC đã cho vay 36 tỷ Mỹ kim, thông qua các cơ sở tài chính trung gian tại những quốc gia đang phát triển. Khoản tiền này tương đương 50% đầu tư trực tiếp của WB vào y tế và gấp ba lần các khoản cho vay nhằm phát triển giáo dục.
Tuy nhiên theo các NGO tham gia soạn thảo báo cáo có tên “Những nỗi đau của người khác,” trên thực tế, khi cho vay, IFC đã không thẩm định kỹ càng các dự án xin vay tiền, không đánh giá đúng các nguy cơ mà những dự án này gây ra, thậm chí không biết phần lớn các khoản cho vay sẽ vào tay ai.
Cũng vì vậy, IFC trở thành nơi cung cấp tiền cho nhiều dự án xâm hại nghiêm trọng nhân quyền, như: cưỡng bức di cư, tước đoạt đất đai của dân chúng trong phạm vi tác động của dự án, tước đoạt sinh kế, tạo ra xung đột dẫn đến chết người tại nhiều quốc gia như: Việt Nam, Campuchia, Lào, Honduras, Guatemala, Ấn Độ.
Các NGO thực hiện báo cáo “Nhũng nỗi đau của người khác” đã chọn tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai như một bằng chứng để minh họa cho tố cáo của họ. Tập đoàn tư nhân này của Việt Nam đã dùng Dragon Capital Group làm trung gian, vay của IFC 27 triệu Mỹ kim để thâu tóm đất đai của nông dân tại tỉnh Ratanakkiri, Campuchia và dự án của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã làm nguồn nước tại đó ô nhiễm nghiêm trọng.
Các NGO này yêu cầu WB “đầu tư ít hơn với chất lượng cao hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn về xã hội và môi trường của mình.” Các NGO còn yêu cầu IFC công bố danh tính của các khách hàng và các dự án được thực hiện thông qua môi giới.
Cũng cần nhắc lại rằng, tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã từng bị các NGO tố cáo vài lần vì những dự án xâm hại nhân quyền, gây nhiều tác hại cho dân sinh và môi trường.
Hồi tháng 11 năm 2013, Global Witness từng phát lời kêu gọi Deutsche Bank và IFC nên rút vốn khỏi tập đoàn này, bởi Hoàng Anh Gia Lai đã không thực hiện những cam kết giải quyết các vi phạm về nhân quyền và môi trường, tại cả Campuchia lẫn Lào.
Sau khi tiến hành điều tra về các đồn điền của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và Tập đoàn Cao su Việt Nam tại Campuchia và Lào, hồi tháng 5 năm 2013,.Global Witness công bố báo cáo mang tên “Những ông trùm cao su,” tố cáo hai tập đoàn, một của tư nhân và một của chính quyền Việt Nam đã gây ra những thiệt hại đáng về môi trường (phá rừng) và xã hội (cướp đất của nông dân) ở Campuchia và Lào.
Sau đó, phía tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã đưa ra một số cam kết, hứa hẹn sẽ giải quyết những vấn đề đó trong vòng sáu tháng. Cụ thể là sẽ ngưng phá rừng. Gặp những nạn nhân bị cướp đất, thảo luận với họ về cách thức giải quyết những vấn đề mà tập đoàn này gây ra.
Tuy nhiên Global Witness nhận định, tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã không thực hiện cam kết. Trong thực tế việc phá rừng lấy gỗ vẫn tái diễn. Những nông dân bị cướp đất vẫn chật vật trong việc tự mưu sinh.
Global Witness cho biết, họ đã tiếp cận dân chúng của bảy ngôi làng bị ảnh hưởng bởi các dự án của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai. Dân chúng của ba trong bảy ngôi làng cho biết, đại diện của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai chưa đến gặp họ. Còn dân chúng của bốn trong bảy ngôi làng thì cho biết, đại diện của tập đoàn này có đến gặp họ nhưng từ chối thảo luận về đất và rừng.
Ngoài ra, theo dân chúng của sáu trong số bảy ngôi làng bị ảnh hưởng, tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai vẫn tiếp tục đốn cây lấy gỗ ở bên trong và quanh các đồn điền cao su của họ. Khi phân tích các ảnh vệ tinh chụp trong tháng 7 và tháng 8, Global Witness nhận thấy, diện tích rừng quanh các đồn điền cao su của Hoàng Anh Gia Lai tiếp tục bị thu hẹp.
Đến tháng 9, tuy Hoàng Anh Gia Lai đồng ý kiểm toán độc lập về các đồn điền cao su của tập đoàn này nhưng ngay sau đó lại từ chối và chuyển qua thực hiện các hoạt động quảng bá. (G.Đ)