Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

Nước Nga Mến Yêu

Nguồn : Vững Đại Phát 
Blog Người Buôn Gió – 7/4/2015
Hồi bé nước Nga gọi là Liên Xô. Lúc ấy mình thích Liên Xô lắm, đầu tiên mình nghe được là người Liên Xô coi Việt Nam như đứa em, giúp đỡ hết mình, viện trợ ( tức là cho ) đủ thứ từ bột mỳ đến cái máy cày.
Thứ ngoại ngữ mình học được ở trường là tiếng Nga, cuốn sách dạy tiếng Nga là cuốn sách đẹp nhất trong số SGK, bìa dày bọc vải gai sần, bên trong giấy trắng bóng, hình minh hoạ in màu cực đẹp.
Bọn trẻ con chơi ngoài đường, phá phách cái gì đều bảo nhau – tội đâu Liên Xô chịu
Liên Xô hào hùng và lãng mạn qua những bộ phim và các cuốn tiểu thuyết, dạo ấy ra đường nhìn thấy người nước ngoài đều nghĩ đó là người Liên Xô tất. Nhất là người lính tình báo đẹp trai, giỏi đấm bốc trong cuốn Đứng Vững Đến Cùng.
Liên Xô là thiên đường trong bộ óc của mình suốt cả tuổi thơ.
Bỗng nhiên một hôm mình đọc được cuốn Những Đứa Con phố Arbat, sách có 3 tập, mình chỉ đọc được 2 tập. Tập 3 kiếm mãi không thấy. Đọc xong 2 tập sách, mình thấy kinh hoàng, tình trạng của những thanh niên phố Arbat không khác gì những người thanh niên ở Hà Nội. Cũng tập trung cải tạo, cũng công an mật theo dõi, hàng xóm cũng tố giác nhau. Rồi cũng vì vài ba câu thơ vui vui mà một chàng trai trẻ phải đi đầy trong trại tù rừng thẳm Xi Be Ri.
Mình so sánh với chú Quý, một người đàn ông gầy gò. Vợ bỏ do chú ấy bị đi tù, ai cũng xa lánh chú ấy, mọi người nói chơi với thằng ấy là nguy hiểm, nó làm mình chết lây đấy. Chú Quý làm thợ hàn, lúc có việc lúc không, nhà chú trống hoác chả có gì. Một mình chú rang một đống lạc pha muối ăn dần với cơm. Con gái chú rất xinh, nó ở với mẹ. Nó cũng ghét bố vì mẹ nó nói bố nó là người hư hỏng.
Mình chả thấy chú hư hỏng gì, chú có việc thì làm chăm chỉ. Nhà chú nghèo nhưng nhiều sách, mình đến chơi nằm đọc cả ngày cũng được. Chắc chú buồn, thấy mình nên cũng kệ cho vui nhà. Rồi có lần chú lĩnh lương, làm món bún bò cho mình ăn cùng, chú sai đi mua rượu. Về hai chú cháu ăn, chú vừa ăn vừa uống rượu trầm ngâm. Mình đánh bạo hỏi sao chú bị đi tù.
Chú nghĩ một lúc, nhấp vài ngụm lại nghĩ, như là không nghe thấy câu hỏi. Mãi sau đột nhiên chú kể.
Lúc đó chú làm công đoàn nhà máy cơ khí, gần Tết bạn cùng nhà máy của chú trúng thưởng gì đó được một cái xe đạp Phương Hoàng màu ngọc bích. Lúc mọi người xúm vào xem xe, chú cũng xem và ngẫu hứng đọc câu thơ chế.
Xuân này hơn hẳn những xuân qua
Phương Hoàng ngọc bích đã về ta.
Vợ chồng làm tốt, con học giỏi
Niềm vui chan chứa khắp trong nhà.
Nửa tháng sau khi đọc bài thơ chế chúc mừng bạn có xe đạp, công an đến khám nhà chú, thu sách truyện một đống. Chú bị đi tù 4 năm vì tội xuyên tạc thơ chủ tịch HCM với ý đồ chế giễu …âm mưu phản động.
Vợ chú bỏ chú luôn, đi tù về chú lang thang ai thuê gì làm đấy. Mọi người ai cũng xa lánh chú.
Mình liên tưởng chú đến chàng sinh viên trong truyện Những Đứa Con Phố Arbat, tự thấy những chuyện bắt tù như này không đúng tí nào. Dạo ấy học văn giỏi nên cũng ham suy luận, mình nghĩ câu thơ chế ấy rất vui, thậm chí nó còn tốt để phổ biến thơ Bác cho nhân dân, thế mà bị bắt đi tù những 4 năm. Rồi về gia đình tan nát, thân cô thế cô bữa đói bữa no thì tội.
Hoá ra Liên Xô cũng ác như Việt Nam. Nước Nga của mình không chỉ có Cây Phong Non Trùm Khăn Đỏ, Bình Minh Mưa, Bông Hồng Vàng mà còn đã có thêm Một Ngày Trong Đời của I Van, Quần đảo Gu Lắc, Vĩnh Biệt Tình Em ( tức đốc tờ Zivaho ) của Sài Gòn cũ xuất bản.
Liên Xô thiên đường của mình còn là địa ngục, nơi đó những câu nói vu vơ, đùa cợt cũng có thể khiến người ta đi tù như chú Quý.
Mình không thích nước Nga nữa, sau này lớn chút thì hiểu, nước Nga và chế độ Nga khác nhau, người dân Nga cũng bị chế độ Xô Viết làm cho khốn khổ. Nước Nga xưa có những đại văn hào, danh hoạ, nhạc sĩ, hiền triết cũng rất đáng mến yêu. Còn nước Nga Xô Viết của Stalin lại là một nước Nga khác hoàn toàn với Puskin, Pautopxky…đã miêu tả.
Khi đi qua Hung, Tiệp, Ba Lan mấy năm trước, càng ngạc nhiên hơn khi biết người dân những nước này còn ghê sợ lính Nga hơn là lính phát xít Đức. Ở Hung Ga Ri trong một viện bảo tàng, mình xem được đoạn phim những tên mật vụ phát xít Đức người Hung khi quân Liên Xô tiến vào chúng chỉ thay bộ quần áo khác và vẫn làm mật vụ. Những nhà tù, chỗ tra tấn, hành hạ tù nhân của bọn mật vụ Hung Nga còn khủng khiếp hơn bọn mật vụ Hung Đức chục lần.
CCCP tan rã, đã 20 năm người Nga được thay thế ở Việt Nam bằng một người anh tốt khác là Trung Quốc. Tình cảm lần này có vẻ mặn mà hơn vì không những cùng lý tưởng XHCN mà vì còn là láng giềng gần gũi.
Người Nga lúc trước đi, để lại cho Việt Nam hoang tàn, đói khỏi vì chủ nghĩa bao cấp, hợp tác xã và cái thói đóng cửa ngoan cường không thèm đếm xỉa đến thế giới, chỉ cần có anh bạn Liên Xô là đủ. Vô tình tạo một điều kiện lý tưởng để anh bạn Tàu tiếp quản và áp đặt ảnh hưởng.
Bây giờ người anh lớn Tàu có vẻ muốn nhường lại ảnh hưởng ý thức hệ ở Việt Nam cho anh lớn Nga tiếp quản, sau khi đã huỷ hoại môi trường, đào sạch tài nguyên, thôn tính được cả mớ đất đai, lãnh hải chắc chắn rồi. Còn chỗ chưa thôn tính được, trước cảnh Nhật, Mỹ, Ấn cản trở. Anh Tàu giơ một chân để anh Nga có chỗ đứng cùng.
Có vẻ như một lần nữa, anh Nga và Tàu lại bắt tay để xây dựng Việt Nam thành tiền đồn chống thực dân, đế quốc.
Sự có mặt của Nga ở Việt Nam, nhất là một căn cứ quân sự Nga sẽ khiến Mỹ phải bỏ xa vùng biển Việt Nam vì e ngại xung đột lớn. Những tranh chấp còn lại giữa Việt, Tàu sẽ được anh Nga làm ngơ vì không can thiệp vào công việc nội bộ , để cho hai nước song phương giải quyết. Y như hồi Gạc Ma, anh Nga đóng ở Cam Ranh đã làm ngơ trước việc Tàu chiếm đảo, bắn giết lính Việt Nam.
Chủ trương làm em kết nghĩa của hai anh lớn Nga, Tàu đều do ĐCSVN quyết định. Mới đây TBT đã ký kết hợp tác toàn diện giữa đảng CS với đảng Putin, cùng với việc TBT Trọng dẫn các đoàn viên, lớp hậu thế sang TQ để bàn giao việc giáo dục nhồi sọ tinh thần phụng Tàu cho lớp lãnh đạo trẻ sau này.
Sở dĩ hai anh Nga, Tàu ráo riết như vậy, vì các anh thấy âm ỉ một làn sóng trong nhân dân Việt Nam muốn thoát khỏi cảnh chư hầu cho các anh, hướng đến một xã hội văn minh phương Tây. Những tên chủ nô không bao giờ muốn nô lệ của mình tự do cả, bằng cách này hay cách khác chúng phải buộc những tên nô lệ tan rã ý chí tìm kiếm tự do, tiếp xúc với sự văn minh của xã hội. Chúng vẽ ra bầu trời bên ngoài là u ám, là bạo động, là chết chóc, bất ổn. Chỉ ở trong vòng vây của chúng là an toàn.
Nhân dân Việt Nam ưa chuộng hoà bình, địt mẹ, nói thế thì nhân dân phương Tây đều thích chiến tranh bạo động chăng.? Từ hoà bình ở đây còn có nghĩa chính là sự ổn định. Chứ thằng Việt Nam nợ đầm đìa, vũ khí, khí tài cũ rích, máy bay tập huấn hơi tí là rụng, tướng tá béo núc không đi nổi thì định chiến với ai mà không mong hoà bình. Ổn định ở đây mấu chốt là giữ nguyên hiện trạng chư hầu cho các anh Nga, Tàu, đừng có mơ tiếp cận nền văn minh, tiến bộ nào. Cứ ngoan ở trong vòng tay che chở của các anh.
Ngoan ngoãn đi nhân dân Việt Nam, ngoan mà hưởng sự ổn định.
Anh mày là thằng lưu manh, giờ ấm thân ở tư bản, tháng chả làm gì cũng lãnh 2 ngàn Euro, đéo hơi đâu nói nhiều để chúng nó bảo là kích động gây loạn, phá hoại đời sống yên bình của nhân dân Việt Nam.
Mai này anh quay sang ca ngợi cộng sản, mong cho nó độc tài mãi mãi, có thế anh mới thấy sự sung sướng của mình. Nịnh cộng sản vài bài, lúc đó anh về Việt Nam với mác Việt Kiều yêu nước, rồi được lên ti vi còn oai gấp tỉ lần bọn Nguyễn Phương Hùng, Nguyễn Ngọc Lập…cỡ bọn đó trình viết, giọng điệu không bằng một góc của anh. Anh tha hồ xông xênh tìm gái công nhân chơi. Như hôm anh đi ta xi thằng taxi nói, giờ gái công nhân rẻ lắm, chỉ hơn trăm là múc được, sạch, ngon, chất. Vì bọn công nhân thất nghiệp nhiều, lương ba cọc, ba đồng không đủ sống.
Nếu mà Việt Nam giàu mạnh như tư bản, anh làm gì có được cơ hội xênh xang, làm đéo gì có ban tuyên huấn, tuyên giáo để anh được vinh danh là Việt Kiều yêu nước tiến bộ , một lòng hướng về quê hương, một lòng tin Đảng, tin chế độ.
Nào thì mến yêu người Nga trở lại thật nhiều đi nhân dân Việt Nam yêu chuộng ổn định.
Người Buôn Gió
(Blog Người Buôn Gió)

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975

Nguồn : Vững Đại Phát 
Loạt Bài Về Saigon SAU 1975
GNA: Loạt bài về Saigon TRƯỚC 1975 đã gây nhiều phản hồi: những người dân Saigon cũ và mới nhìn lại những hình ảnh cũ và nhận ra một “biển dâu” thực sự đã thay đổi cuộc đời của chục triệu người và không gian sống của họ đã chìm khuất hoàn toàn vào một “hành tinh” khác.
Để tìm một góc nhìn khác, GNA sẽ lần lượt cho đăng lại những mẩu chuyện và hình ảnh về Saigon SAU 1975. Lăng kính của Đảng và Nhà Nước thì chúng ta đã quá rõ, GNA không cần đăng lại nơi đây (đã có hơn 700 loa phường khắp xứ lảm nhảm hàng ngày). Chúng tôi sẽ chỉ ghi lại những suy ngẫm, hồi ức và tâm tư của những NGƯỜI DÂN (Saigon cũ hay nhập cư mới) để chúng ta có chút đồng cảm về một giai đoạn lịch sử vô cùng khác biệt của Saigon.
GNA sẽ tránh đề cập về chính trị, lãnh tụ hay lịch sử. Chỉ có những mảnh đời rất DÂN, rất Saigon. (Xin các BCA khó tính tha lỗi cho tính cẩn thận của GNA với những điều cấm kỵ liên quan đến quyền lực).
Tuy nhiên, để các dư luận viên im mồm, chúng tôi xin nhắc lại trước hết quan điểm của chính phủ về ngày đại thắng 30/4:
“Theo kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015) vừa được UBND TP HCM ban hành, thành phố sẽ tổ chức khánh thành các công trình: cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm trước ngày 15/3; tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 30/3……..
Các điểm bắn pháo hoa gồm: khu vực đường hầm sông Sài Gòn (quận 2); Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược (huyện Củ Chi); Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã Ba Giồng (huyện Hóc Môn); Khu di tích Láng Le – Bàu Cò (huyện Bình Chánh); Sân bóng đá huyện Cần Giờ; Công viên lịch sử – Văn hóa Dân tộc (quận 9) và Công viên Văn hóa Đầm Sen (quận 11).…..
Trước đó, Thủ tướng đã phê duyệt Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước. Theo đó, các bộ, ngành trung ương sẽ chủ trì lễ mitting tại lễ đài ngã tư Lê Duẩn – Pasteur, Công viên 30/4 (quận 1). Thời gian tổng duyệt vào lúc 7h ngày 26/4 và chính thức diễn ra lúc 7h ngày 30/4, trong lễ mitting sẽ có tiết mục thả bong bóng và chim bồ câu.
Sau đó sẽ là lễ diễu binh, diễu hành với sự tham dự của khối nghi trượng, các khối diễu binh (các khối đi tay không, các khối đi có súng, có khí tài) và các khối diễu hành quần chúng.”
Bây giờ đến lượt NGƯỜI DÂN:
Bài 1: Hồi ức Việt Nam
Hà Trinh – VOA – 7 April 2015
Những hồi ức về Việt Nam, với tôi, là những hồi ức buồn.
Hơn hai mươi năm rời xa quê hương, mỗi khi giấc mơ Việt Nam trở về trong tôi, nó chỉ nhuốm toàn nỗi buồn, niềm lo sợ, đến mức nó có thể đánh thức tôi vào lúc nửa đêm. Rồi, tôi chỉ biết nằm thao thức, miên man suy nghĩ về những điều đã xa vẫn ám ảnh tôi như mới hôm nào.
Cuộc chiến tranh Việt Nam chấm dứt khi tôi vừa chín tuổi. Sài Gòn khi ấy, tháng Tư 1975, náo loạn bởi tiếng bom rơi, tiếng đạn nổ chát chúa, trong sự hoảng loạn của một thành phố hoa lệ. Tôi không quên nổi hình ảnh mẹ tôi, một người đàn bà trẻ mới ngoài ba mươi, đang ôm đứa em gái đỏ hỏn vài tháng tuổi của tôi, ngồi khóc nức nở. Tôi không quên được hình ảnh bà nội tôi, già yếu tóc bạc trắng xóa, nắm lấy tay bố tôi, vừa van xin, vừa mắng mỏ bắt ông phải di tản khỏi Sài Gòn, bởi ông là sĩ quan của quân đội miền Nam. Tôi không quên nổi hình ảnh bố tôi, mắt tràn mi năn nỉ bà nội tôi cho ông ở lại vì ông không bỏ được gia đình và cha mẹ già ở quê nhà, khi lệnh di tản cuối cùng chỉ cho một mình ông được phép ra đi. Ông ngoại tôi, như chiếc bóng, ngồi lặng lẽ, bất động trong một góc tối trên ghế sofa. Đôi mắt ông nhìn xa xăm vào một góc nào đó khi bên tai văng vẳng tiếng nói từ trên chiếc radio kêu gọi buông súng đầu hàng.
Trong đêm hai mươi chín tháng Tư lịch sử đó, cả nhà tôi núp trốn trong một cái hầm cá nhân tại nhà. Cái đêm dài lịch sử ấy, tôi vẫn không quên được tiếng bom rơi, đạn nổ, tiếng khóc nức nở của mẹ, tiếng cầu nguyện của bà, tiếng còi báo động xé màn đêm, tiếng gầm rú của những chiếc máy bay phản lực trên bầu trời, rồi tiếng quạt gió xình xịch của những chiếc trực thăng vần vũ trên bầu trời, tiếng bánh xích của những chiếc xe tăng nghiến trên đường nhựa, nghe rào rạo…Tôi không thể nào nhận biết những tiếng đó từ phe ta hay phe Cộng. Tôi chỉ ngồi im lặng nghe lời đoán: quân ta, quân địch của hai ông anh của mình. Và rồi, có lúc tôi lại nghe tiếng thét hãi hùng của những người, có lẽ bị thương đâu đó…
Trong cơn hoảng loạn, tôi bừng hiểu: chiến tranh đã chạm đến Sài Gòn của tôi.
Mới chín tuổi đầu, tôi đã phải tiễn bố tôi lên đường vào trại cải tạo. Bố ôm từng đứa con nhỏ, an ủi, vỗ về, bảo “mấy con chóng ngoan, bố học tập chừng một tháng sẽ trở về phụ giúp mẹ, bà và bác nuôi dạy tụi con”. Bố vỗ vai người anh lớn của tôi, bảo ráng phụ giúp ông bà, mẹ và bác dạy dỗ các em, làm gương tốt cho các em noi theo. Anh tôi, nước mắt ngần ngật, đong trên khóe mắt, gật đầu. Tôi biết rằng, ở lứa tuổi mười ba ấy, anh tôi chẳng hiểu nổi làm gương tốt là như thế nào để dạy cái đám em đang tuổi lớn, ăn như tằm ăn rỗi.
Mẹ tôi ngồi khóc lặng lẽ, ôm đứa em mới hai tháng tuổi, nhìn bất động vào khuôn mặt măng sữa kia. Bố tiến đến gần, chỉ biết ôm lấy vai mẹ, rồi đưa tay đỡ đứa bé, xiết chặt vào lòng. Đứa em tôi vẫn thiêm thiếp ngủ sau khi no sữa mẹ. Trao em lại cho mẹ, bố quay đi, lầm lũi ra ngoài đầu xóm. Cả nhà tôi, lủi thủi đi theo bố trông như một đám tang buồn.
Một người lính bộ đội Bắc Việt cầm súng, nhìn bố tôi thúc giục, leo lên chiếc xe cam nhông bít bùng. Trên đó đã có những con người ngồi co ro, cúi mặt. Bố chỉ xách chiếc ba lô quân đội, trong đó chỉ gói ghém vài bộ đồ, những vật dụng cần thiết cho “một tháng học tập”. Bố lặng lẽ lên xe, không quay đầu lại. Chiếc xe lăn bánh khi tấm bạt phủ xuống. Cuộc đày ải bắt đầu! Bố đi suốt mười năm biền biệt…
Làm sao tôi quên được!
Miền nam sau tháng Tư 1975 oằn mình thay đổi. Sài Gòn cũng rướm máu đổi thịt thay da. Tôi còn quá nhỏ để có thể làm một cuộc so sánh, dẫu chỉ mang tính ước lệ của cái thủ đô từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn đông” với thành phố Hồ Chí Minh, nơi tôi đang sinh sống. Chỉ biết một điều tôi không còn được nghe những bản nhạc mình yêu thích, không được đọc các truyện tranh dành cho trẻ con, không được mặc áo đầm đi học, không được mẹ cho tiền ăn sáng trước khi đến trường…Và còn nhiều “cái mất”, cũng như “cái không” xuất hiện sau khi miền Nam đổi chủ.
Những ngày sau đó, nếp sống náo nhiệt, năng động, ồn ào của một thành phố mệnh danh là thủ đô của miền nam, bất chợt đổi thay, bất chợt khép kín. Mọi người ra đường lầm lũi, len lén nhìn nhau. Nỗi bất an, nỗi lo sợ đọng trong mắt từng người Sài Gòn. Những nét hào nhoáng của một thủ đô hoa lệ chợt biến đi để thay vào một thành phố ảm đạm, bất an. Những chiếc xe đạp ùa ra đường thay cho những chiếc xe hơi, xe gắn máy. Áo bà ba trở thành loại y phục thường ngày của người Sài Gòn, thay cho chiếc áo dài thướt tha, cổ điển, hay những chiếc quần tây ống loe, chiếc áo đầm hiện đại. Người Sài Gòn khép kín, ngơ ngác, vêu vao. Đường phố Sài Gòn vắng vẻ, đìu hiu, cam chịu.
Hồi ức của tôi về Việt Nam sau ngày thống nhất là những mất mát, những đau thương. Tôi đã chứng kiến những chiến dịch chống tư sản mại bản được phát động trong thành phố. Từng đoàn học sinh, sinh viên được khuyến khích tố cáo những đám người mà chính quyền kết tội là bọn tư bản lũng đoạn kinh tế nước nhà. Để chứng minh lòng yêu nước, lớp thanh thiếu niên mới phải tố cáo họ với chính quyền, cho dẫu những người đó là ông bà, cha mẹ, anh em hay là bạn bè, người thân.
Tôi đã thấy những người bạn tôi, vì rơi trong diện Tư Sản Mại Bản, mà bị đuổi khỏi căn nhà nơi họ sinh sống, bị phân biệt đối xử không chỉ ngoài xã hội mà cả trong học đường. Những cái chết tức tưởi vì bị cướp đất, cướp nhà. Những căn nhà bị đập nát, những đoàn người bị xua đuổi khỏi thành phố về các vùng nông thôn hẻo lánh. Để rồi vài tháng sau, họ, những những con người đó lại âm thầm trở về thành phố, gia nhập vào đám người ăn mày như những thây ma vất vưởng, sống lê la dưới gầm cầu, dưới mái hiên nhà, chỉ mơ một ngày trở lại căn nhà chôn nhau cắt rún mà nay đã thay tên đổi chủ.
Trong lớp học, tôi và các bạn tôi nói về những chuyến vượt biển nhiều hơn là những phương trình toán học. Chúng tôi xì xào với nhau về những chuyến ra đi của bạn bè nhiều hơn là thảo luận Chủ Nghĩa Marxist, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tôi vui với nhau khi nghe chuyến vượt biên của một đứa bạn thành công, hoặc cầu nguyện cùng nhau khi nghe một đứa bạn mất tích trong chuyến hải hành của nó. Lâu lâu, trong lớp tôi lại vắng bóng một đứa học trò mà không rõ ly’ do. Nhưng chỉ sau một tuần, chúng tôi có thể kết luận chắc như đinh đóng cột rằng: “Nó dã đi vượt biên rồi”. Rồi một tháng sau, cô giáo hay thầy giáo chúng tôi lại “buồn rầu”, “long trọng” báo tin cho đám học trò biết rằng: “Em X sẽ không đến lớp nữa.” Đám học trò lại hùa nhau đồn thổi tin tức vượt biển thành công hay mất tích của đứa bạn. “Hôm nay còn đây, mai đã ra đi” trở thành một hiện tượng bình thường trong quãng đời học sinh của thế hệ chúng tôi.
Tin đồn thổi về những nạn nhân của Khờ me Đỏ bay đến tai chúng tôi ngày một nhiều, dẫu rằng chính quyền ra sức che giấu. Không một tờ báo chính thức nào của nhà nước thông báo tin người dân Việt Nam đang bị bọn Khơ-me đỏ giết hại tàn bạo bên kia bên giới. Xác chết thả trôi trên hồ Tông-Lê-Sáp, trôi theo dòng Cửu Long về đến Việt Nam. Cho đến khi chiến tranh thật sự nổ ra ở dọc Tây Ninh, người dân mới giật mình hoảng sợ. Mùi tử khí của cuộc chiến hai mươi năm tương tàn chưa tan hết, lại đến cuộc chiến tranh giữa “những người đồng chí anh em quốc tế”.
Tôi không thể nào quên về một người bạn kể chuyện lúc anh làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia. Anh đã rưng rưng nước mắt khi kể về sự tàn ác của quân đội Khơ Me đỏ tàn sát dân Khơ Me cũng như dân Việt mà anh chứng kiến. Chúng tôi cùng sùi sụt theo lời kể của anh. Để rồi vài tháng sau, chúng tôi lại nhận tin anh hi sinh trên chiến trường Cam Bốt. Chúng tôi đã reo vui khi nghe Campuchia giải phóng, rồi lại nhức nhối khi nghe tin bạn mình đã bỏ mình trên đất bạn.
Những ai vào tuổi tôi, có lẽ sẽ chẳng quên về Sài Gòn với những ngày sôi động vào chiến dịch đổi tiền. Đồng tiền ngày hôm qua có thể mua được một chiếc xe Honda, ngày hôm sau không mua nổi một bó rau lang, rau muống. Thứ chiến dịch ăn cướp đó đã đẩy biết bao người lao đầu qua thành cửa sổ, chết tức tưởi vì của cải mình gom góp hàng chục năm, trong một đêm đã tan tành mây khói. Nhưng chính nhờ nó, qua bàn tay ảo thuật của những kẻ đẻ ra nền kinh tế đổi tiền đó, lại trôi vào trong túi của những người nắm giữ chức danh, quyền thế. Chỉ trong một đêm, hắn đang là một anh bộ đội chân mang dép râu, đầu đội mũ cối, hút thuốc rê nâu, bỗng chốc hóa thành một thứ quan viên giàu sụ. Trong cái tranh tối, tranh sáng của một thể chế kinh tế “vật đổi sao dời” đến chóng mặt kia, đạo đức xã hội chuẩn mực mà người Sài Gòn được thừa hưởng từ cha ông ngàn năm xây dựng, phút chốc biến thành thứ đạo đức lừa thầy, phản bạn, chém chúa, lộn chồng của một xã hội hỗn loạn, nhiễu nhương, khi ăn cướp trở thành một chính sách.
Vẻ đẹp Sài Gòn chỉ còn trong cổ tích.
Hồi ức Việt Nam của tôi là một mảng tranh buồn màu xám. Bởi khi tôi ra đi còn biết bao điều dang dở, méo mó ở sau lưng. Ngày ra đi, phía trước tôi là đường tương lai mờ mịt, sau lưng tôi là quá khứ tối tăm của một thế hệ bị quăng bên lề xã hội. Chúng tôi đã sống như thứ hình nhân câm nín, một thứ công dân hạng hai.Luôn luôn được nhắc nhở rằng hơi thở mà chúng tôi đang có được là nhờ ơn cách mạng khoan hồng. Thế hệ chúng tôi chỉ là lớp vỏ đệm của những biến cố lịch sử ở Việt Nam sau cuộc chiến “một mất một còn” giữa những người chung dòng máu Lạc.
Dẫu thế nào, tôi vẫn mơ có một ngày quê hương sẽ rũ bỏ hết những vết thương quá khứ. Những vết thương cần khép miệng để lành hẳn theo thời gian. Ta cần phải làm hòa với quá khứ để đi tiếp ở hiện tại và ở tương lai. Không chỉ thế hệ tôi, thế hệ trước tôi, thế hệ sau tôi, sẽ tiếp nối không còn ranh giới. Cái ranh giới: địch và ta sẽ không còn tồn tại. Cho dẫu lịch sử Việt đã ghi dấu đất nước bao lần chia cắt, nhưng người Việt Nam vẫn luôn hướng về nhau với tấm lòng sắt son: máu chảy, ruột mềm.
Gần bốn mươi năm kết thúc cuộc chiến tranh tương tàn lịch sử. Dấu vết chiến tranh đã không lại gì trên những vùng đất giao tranh xưa. Sự sống hồi sinh sau bao năm tháng người dân Việt phải vật lộn với cuộc mưu sinh. Có mấy ai nghĩ nhiều về những người đã nằm xuống. Có thể nào, chúng ta hi vọng một ngày, sẽ thấy một nơi chốn được dựng lên trên nền đất Việt, để con cháu Việt đời sau, được đến nơi, được tưởng nhớ, tri ân những người đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam cho dẫu họ ở bên này hay bên kia chiến tuyến. Người ta không ai biết chắc có bao nhiêu người đã mất trong cuộc chiến này. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, tất cả những con người đó chỉ hy sinh cho điều duy nhất: lòng yêu quê hương và sự trường tồn của dân tộc.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2015

Loạt Bài Về Bất Động Sản 2015

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bài 2: Ở những nơi không có… bóng người
Là cửa ngõ của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, “cơn sốt” đã biến nhiều mảnh đất màu mỡ của Đồng Nai trở thành những khu đô thị không người. Còn ở TP Hồ Chí Minh, có không ít nơi đắc địa, “tấc đất tấc vàng”, nhưng theo thống kê của cơ quan chức năng, có hàng nghìn héc ta “đất vàng” đang để hoang hóa…
Lãng phí rất lớn nguồn tài nguyên
Cách đây vài năm, hàng loạt dự án bất động sản quy mô lớn tại Đồng Nai được công bố với nhiều hứa hẹn “có cánh”. Một trong số này có dự án đình đám với tổng vốn đầu tư ban đầu là 2 tỷ USD, quy mô lên tới 1.184ha. Đó là Khu kinh tế mở Long Hưng (xã Long Hưng, TP Biên Hòa) do Liên hiệp Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai (Donacoop) làm chủ đầu tư. Dự án được chính thức khởi công từ năm 2008 nhưng đến nay sau 7 năm, khu đô thị tầm cỡ này vẫn chưa định được hình hài, hiện chỉ có lác đác vài dự án tái định cư được xây dựng. Cách TP Biên Hòa không xa, nằm ven quốc lộ 51, một dự án quy mô khác là Khu đô thị Thung Lũng Xanh (xã An Phước, huyện Long Thành) có quy mô 45ha do Công ty CP Long Thuận Lộc làm chủ đầu tư. Hiện tại, dự án đã được đầu tư hạ tầng, nhưng không có người ở.
Về những dự án bất động sản từng “làm mưa, làm gió” tại Đồng Nai, giới đầu tư địa ốc khu vực phía Nam phải nhắc đến dự án Khu đô thị Đông Sài Gòn với tổng vốn đầu tư được công bố lên tới 6 tỷ USD (chủ đầu tư là Công ty CP Đầu tư Nhơn Trạch thuộc Tổng công ty Tín Nghĩa). Được quy hoạch trên diện tích 942ha, nằm ở vị trí trung tâm của Khu đô thị mới Nhơn Trạch, dự án Đông Sài Gòn từng được ví như “thiên đường nghỉ dưỡng” cuối tuần của người dân TP Hồ Chí Minh. Báo cáo tài chính năm 2012 của Công ty CP Đầu tư Nhơn Trạch cho thấy, tính đến hết năm 2012, số tiền đầu tư vào khu đô thị này đã lên tới 945 tỷ đồng. Theo ghi nhận của chúng tôi, dù được chính thức khởi công từ tháng 8-2009, đến nay đã gần 6 năm, nhưng hiện dự án Đông Sài Gòn mới được chủ đầu tư khởi công phần hạ tầng khu vực phía bắc đường 25B với diện tích 350ha, các hạng mục chính gần như chưa khởi động. Hiện tổng thể mặt bằng của dự án chỉ là bãi đất trống, chưa có bất kỳ công trình nhà ở nào. Điểm chung của các dự án kể trên là đều sử dụng diện tích đất rất lớn, chủ yếu là đất nông nghiệp dẫn tới lãng phí rất lớn nguồn tài nguyên đất đai.
Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng đô thị mới Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đến năm 2020. Từ đó, Nhơn Trạch được ví như “sân sau” của TP Hồ Chí Minh. Vốn là một vùng đất thuần nông, Nhơn Trạch trở thành điểm đến của hàng loạt “đại dự án” bất động sản. Tại thời điểm thị trường bất động sản đang vào đỉnh cao của “cơn sốt” (năm 2007-2008), số doanh nghiệp hốt bạc khi đầu tư vào Nhơn Trạch lên tới hàng trăm. Gần như dự án nào tung ra thị trường đều được giới đầu cơ mua ngay lập tức. Không ít nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ khi Nhơn Trạch trở thành thành phố đúng nghĩa trong tương lai. Thế nhưng, thị trường bất động sản rơi vào khủng hoảng ngay sau đó. Trở lại thành phố mới Nhơn Trạch vào thời điểm này là một đô thị thưa thớt người ở, nếu không nói là đìu hiu, cô quạnh. Đơn cử, tại dự án Khu dân cư Long Thọ – Phước An do Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) làm chủ đầu tư có quy mô 223ha, dù được khởi công
từ năm 2003, nhưng đến nay vẫn chưa có người đến xây dựng nhà ở. Bên cạnh đó là dự án Khu đô thị Detaco do Công ty CP Đệ Tam làm chủ đầu tư, có quy mô 47,3ha, tổng vốn đầu tư trên 1.600 tỷ đồng. Dự án khi hoàn thành sẽ có 36 khối chung cư cao 12-18 tầng, quy mô dân số khoảng 10.500 người. Tuy nhiên, tại thời điểm này, dự án chỉ là bãi đất hoang với tấm bảng giới thiệu dự án đã hoen gỉ.
Không thể để doanh nghiệp “ôm” đất
Tại TP Hồ Chí Minh, hiện có khoảng 348 khu đất với diện tích 1.170ha đang bị bỏ hoang, 285 khu đất cho thuê trái phép, 65 khu đất cho mượn không đúng quy định. Số liệu từ Sở Tài nguyên – Môi trường thành phố cho biết, các tập đoàn, tổng công ty đang trực tiếp quản lý, sử dụng 410 khu đất với diện tích 6,3 triệu mét vuông, nhưng mới sử dụng đúng mục đích 2,5 triệu mét vuông, chiếm khoảng 39%, số còn lại đang bỏ hoang hoặc cho thuê trái phépĐáng lưu ý đây là những khu đất giao cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) triển khai làm dự án theo quy hoạch. Sở Tài nguyên – Môi trường TP Hồ Chí Minh cho biết, qua rà soát tiến độ các dự án tại 155 khu đất của 72 DNNN, doanh nghiệp cổ phần hóa có thể khẳng định, tiến độ thực hiện rất chậm. Sở Tài nguyên – Môi trường đã kiến nghị UBND thành phố hủy bỏ chủ trương chấp thuận đầu tư đối với 47 khu đất với diện tích hơn 484.000m2. Đối với 13 khu đất có diện tích hơn 107.000m2, do các doanh nghiệp chưa có khả năng thực hiện dự án nhưng đang sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh, Sở Tài nguyên – Môi trường kiến nghị chấp thuận cho doanh nghiệp thuê ngắn hạn theo hiện trạng để chờ triển khai thực hiện dự án.
Năm 2007, UBND TP Hồ Chí Minh đã giao Sở Quy hoạch – Kiến trúc đề xuất các tiêu chí quy hoạch 20 khu đất nằm ở những vị trí đẹp nhất tại khu trung tâm thành phố để kêu gọi đầu tư. Tuy nhiên, sau gần chục năm, đến nay chỉ có khoảng một nửa trong số đó đã, đang hoặc chuẩn bị triển khai các dự án. Số còn lại vẫn “bất động” hoặc bế tắc trong kêu gọi các nhà đầu tư. Trong đó, phải kể đến những khu “đất vàng” như khu phức hợp Đồng Khởi – Nguyễn Huệ – Ngô Đức Kế; khu tứ giác Pasteur – Tôn Thất Đạm – Huỳnh Thúc Kháng – Tôn Thất Thiệp; khu 6 ô kế chợ Bến Thành; khu đất Nhà máy Bia Sài Gòn…
Ông Nguyễn Hữu Tín, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh cho biết, thành phố sẽ tiếp tục tiến hành rà soát, xử lý khoảng 123 dự án, chủ yếu là dự án mà DNNN được giao quản lý nhưng kéo dài thời gian thực hiện gây lãng phí tài nguyên đất đai và lợi ích xã hội. Đối với những dự án sử dụng đất đã bồi thường nhưng chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện dự án, thành phố sẽ kiến nghị để chuyển đổi chủ đầu tư hoặc chuyển nhượng dự án nhằm bảo đảm tiến độ.
Trao đổi với phóng viên Báo Hànộimới, ông Võ Văn Luận, Chánh văn phòng UBND TP Hồ Chí Minh cho rằng, nguyên nhân cơ bản khiến nhiều nhà đầu tư mất năng lực tài chính, không thể triển khai dự án là do nền kinh tế suy thoái, sức tiêu thụ các sản phẩm về nhà đất sụt giảm nên đầu ra bị thu hẹp, doanh nghiệp không bán được hàng, không huy động được vốn. “Thành phố hết sức chia sẻ khó khăn của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, không thể để doanh nghiệp “ôm” đất như vậy, bởi điều này không những khiến chi phí doanh nghiệp tăng lên mà Nhà nước cũng thất thoát ngân sách khi để lãng phí nguồn tài nguyên đất đai” – ông Luận nói. Cũng theo ông Võ Văn Luận, khi đưa ra quyết định thu hồi, thành phố đã cân nhắc trên tinh thần khách quan. “Thu hồi dự án nào, của doanh nghiệp nào, thành phố đều xem xét một cách khách quan và công bằng. Nhà đầu tư nào còn năng lực triển khai thì tiếp tục cho làm, ngược lại sẽ kiên quyết thu hồi”, ông Luận khẳng định.
Nguyễn Lê

Loạt Bài Về Khởi Nghiệp (Bài 6)

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bài 6: Paul Graham nói về 18 Sai Lầm
Đây là những sai lầm mà bất cứ nhà khởi nghiệp nào cũng cần phải biết. Và theo Paul Graham, người sáng lập Y Combinator – chương trình hỗ trợ khởi nghiệp nổi tiếng, muốn khởi nghiệp thành công, bạn chỉ cần làm ngược lại những điều này.
1. Khởi nghiệp một mình
Không phải là một sự trùng lặp ngẫu nhiên khi các công ty khởi nghiệp thành công đều được sáng lập bởi ít nhất 2 người, Paul Graham cho biết.
Vì vậy, muốn thành công và có nhiều nguồn tài trợ, bạn đừng bao giờ khởi nghiệp một mình.
2. Chọn địa điểm đặt công ty xấu
Bạn có thể thay đổi bất cứ chi tiết nào của ngôi nhà nhưng không thể cải thiện được địa điểm đặt công ty của bạn.
Tương tự như vậy, bạn có một trụ sở hoành tráng, nội thất sang trọng nhưng lại đặt ở khu vực có giao thông khó khăn, an ninh kém hoặc có ấn tượng không tốt với các đối tác, những nỗ lực khác của bạn gần như vô nghĩa.
Hãy chọn địa điểm tốt hơn, nơi những công ty lớn đang đặt trụ sở. Họ chắc chắn đã nghiên cứu kỹ lưỡng, đo lường các thông số để lựa chọn một địa điểm phù hợp.
3. Chọn thị trường ngách quá hẹp
Bằng việc chọn thị trường ngách quá hẹp, các nhà khởi nghiệp đang tự gây khó khăn cho mình. Tất nhiên, bạn mong muốn tìm một thị trường ít cạnh tranh để khởi sự, tuy nhiên, đây không phải là lựa chọn thông minh.
4. Bắt chước ý tưởng, sản phẩm đã có
Đây là một sai lầm phổ biến của những thương hiệu khởi nghiệp. Bạn không đủ dũng cảm để thực hiện những ý tưởng của mình. Thay vào đó, bạn bắt chước, lặp lại những điều người khác đã làm.
Paul Graham viết, Google của ngày mai sẽ không còn là Google mà bạn đang thấy hôm nay. Điều đó có nghĩa là nếu bạn chỉ bắt chước người khác, doanh nghiệp của bạn sẽ mãi mãi ở phía sau.
5. Không chịu thay đổi
Bạn quá bướng bỉnh, không lắng nghe lời khuyên của người khác hay ý kiến khách hàng, bạn đã tự giết chết công ty của mình.
6. Chọn sai nhân viên
Rất khó để chọn được nhân viên thực sự giỏi mà không có bất cứ khuyết điểm nào. Và việc bạn cần làm không phải là tìm cho được người giỏi nhất mà là tìm được người có tính cách, sở thích phù hợp với doanh nghiệp, với đội ngũ nhân viên của công ty.
Sự kết hợp nhịp nhàng, môi trường làm việc tốt sẽ giúp năng suất làm việc cao hơn, mang đến hiệu quả kinh doanh tốt hơn.
7. Chọn sai lĩnh vực để đầu tư
Bạn đã dồn hết tâm trí vào công ty của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn chọn sai lĩnh vực để bắt đầu khởi nghiệp bạn sẽ mất rất nhiều thời gian và tiền bạc để bắt đầu lại.
8. Chần chừ, trì hoãn ra mắt công ty
Bạn sẽ không thể có kinh nghiệm, thành công nếu không bắt tay vào ra mắt doanh nghiệp của bạn. Càng chần chừ, bạn càng trì hoãn cơ hội thành công của mình.
9. Ra mắt quá sớm
Không chần chừ, không có nghĩa là bạn gấp rút ra mắt công ty khi mọi thứ chưa sẵn sàng. Khi mọi người đã biết đến công ty của bạn nhưng nó vẫn hoạt động không hiệu quả, điều đó sẽ tạo nên hình ảnh không tốt, ảnh hưởng đến uy tín và kết quả kinh doanh của bạn.
10. Không xác định được khách hàng tiềm năng
Nhiều nhà khởi nghiệp đầu tư rất nhiều tiền cho việc xây dựng, quảng bá thương hiệu… nhưng lại không đầu tư vào nghiên cứu, tìm ra khách hàng tiềm năng của mình.
Đó là một sai lầm nghiêm trọng khiến bạn không thể bán được các sản phẩm, dịch vụ của mình.
11. Đầu tư quá ít tiền
Chuẩn bị một khoản tài chính quá ít, bạn không đủ sức để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ chất lượng, hoặc không đủ tài chính để quảng bá thương hiệu, dẫn đến việc khách hàng không biết đến công ty của bạn, dẫn đến vệc kinh doanh không hiệu quả.
12. Tiêu quá nhiều tiền
Ngược lại, việc tiêu quá nhiều tiền, không có kế hoạch tiết kiệm sẽ khiến công ty của bạn thâm hụt ngân sách.
13. Đầu tư quá nhiều tiền
Dồn tất cả tiền bạc vào công ty khởi nghiệp không phải là lựa chọn thông minh. Khi có một số vốn lớn, rất có thể bạn và các nhà đồng sáng lập sẽ cảm thấy mình quá dư dả, không tiết kiệm và đầu tư tiền không hiệu quả.
14. Thiếu nhà đầu tư
Bất cứ một công ty khởi nghiệp nào cũng nên có sự hỗ trợ từ nhà đầu tư. Không chỉ đầu tư vốn, những nhà đầu tư có thể cung cấp thêm cho bạn những kinh nghiệm quý giá mà họ đã phải đánh đổi bằng rất nhiều tiền và thời gian.
15. Tập trung quá nhiều vào lợi nhuận
Nhiều nhà khởi nghiệp đã mắc sai lầm khi sa đà vào việc tìm kiếm lợi nhuận. Bạn nên nhớ, bạn có rất nhiều thời gian để kiếm tiền sau này. Đây là thời điểm bạn cần làm khách hàng biết đến công ty, yêu thích sản phẩm của bạn hơn là muốn họ trả thật nhiều tiền cho bạn.
16. Không sẵn sàng để luôn luôn bận rộn
Khi khởi nghiệp, bạn phải chuẩn bị tinh thần rằng bạn sẽ luôn luôn bận rộn và vất vả. Nếu bạn nghĩ, việc làm chủ một doanh nghiệp sẽ khiến bạn trở nên giàu có, nhàn nhã ngay lập tức thì đó thực sự là một sai lầm.
17. Tranh chấp giữa các sáng lập viên
Vào thời điểm “vạn sự khởi đầu nan”, các sáng lập viên hay nói cách khác là nội bộ công ty cần đoàn kết, chia sẻ với nhau. Nếu để xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ, công ty của bạn đã tự thua trước khi thực sự đặt chân vào thương trường.
18. Thiếu kiên nhẫn
Có rất nhiều người khởi nghiệp và cũng đã có rất nhiều người bỏ cuộc. Thực tế là không có nhiều nhà khởi nghiệp thành công và nguyên nhân đầu tiên là do họ thiếu kiên nhẫn, không đủ dũng cảm để theo đuổi đến cùng những dự án của mình.
TĂNG KHÁNH

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

Oxfam lên án IFC của Ngân hàng Thế giới “cho vay mờ ám”

Nguồn : Vững Đại Phát

Oxfam lên án IFC của Ngân hàng Thế giới “cho vay mờ ám”
Trọng Thành -BizLive theo RFI – 6 April 2015
Nhiều tổ chức phi chính phủ trong đó có tổ chức quốc tế chống bất công và nghèo đói Oxfam, công bố một báo cáo lên án các hoạt động cho vay mờ ám của IFC, định chế quan trọng nhất thế giới về trợ giúp phát triển.
Hôm 2/4/2015, theo AFP, nhiều tổ chức phi chính phủ trong đó có tổ chức quốc tế chống bất công và nghèo đói Oxfam, công bố một báo cáo lên án các hoạt động cho vay mờ ám của IFC, định chế quan trọng nhất thế giới về trợ giúp phát triển.
IFC đứng trước áp lực buộc phải đầu tư vào các dự án đáp ứng “những tiêu chuẩn về xã hội và môi trường”.
Một tuần trước hội nghị mùa xuân của Ngân hàng Thế giới tại Washington, Oxfam và nhiều tổ chức NGO (như Inclusive Development International, Bretton Woods Project…) ra báo cáo mang tên “Những nỗi đau khổ của người khác”, tố cáo việc IFC (International Finance Corportation) cấp tín dụng cho nhiều dự án xâm phạm nghiêm trọng các quyền con người, như: tước đoạt đất đai của dân cư địa phương, cưỡng bức di cư, tước đoạt các phương tiện sống căn bản.
Những hành động này nói trên của IFC trên thực tế khác xa với những mục tiêu mà Ngân hàng Thế giới đề ra là “chấm dứt nạn nghèo khổ cùng cực trong một thế hệ” và cổ vũ cho một “xã hội thịnh vượng được chia sẻ”, RFI viết.
Từ tháng 6/2009 đến tháng 6/2013, IFC cho vay tổng cộng 36 tỷ USD, thông qua các cơ sở tài chính trung gian tại các nước đang phát triển. Khoản tiền này tương đương với hơn 50% đầu tư trực tiếp của Ngân hàng Thế giới vào y tế và gấp ba lần tín dụng cho giáo dục.
Theo Oxfam và các tổ chức NGO tham gia báo cáo, IFC cho vay mà không tiến hành các thẩm định đầy đủ, cũng không đánh giá đúng các nguy cơ, thậm chí đánh giá thấp. Giám đốc văn phòng Oxfam tại Washington nhận xét: “Với cách cho vay phát triển mới, IFC thậm chí không biết được phần lớn các khoản tín dụng sẽ đến tay ai, cũng không biết nó làm tốt hay làm hại”. Đối tượng của 62% đầu tư của IFC là các nước đang phát triển.
Theo bà Natalie Bugalski, giám đốc tư pháp của Inclusive Development International, đồng tác giả báo cáo, công chúng không có bất cứ thông tin nào liên quan đến nơi nhận được tín dụng của “94% các khoảng đầu tư mạo hiểm của ISF qua các trung gian”.
RFI dẫn bài viết trên Le Monde cho biết, các tổ chức phi chính phủ yêu cầu Ngân hàng Thế giới đầu tư “ít hơn, nhưng với chất lượng cao hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn về xã hội và môi trường của mình”, và không nên đầu tư vào các dự án mạo hiểm cao, chừng nào chưa cải thiện được khả năng quản trị các rủi ro.
Các NGO cũng đề nghị IFC công bố danh tính của các khách hàng và các dự án được thực hiện thông qua môi giới, và IFC cần chấp nhận các thẩm định độc lập. Các yêu cầu cải cách này rất cần thiết, Le Monde nhấn mạnh, khi định chế tài chính quan trọng này dự định tăng 50% tín dụng tại các quốc gia đang trong xung đột và ở trong tình trạng bấp bênh.
TRỌNG THÀNH
World Bank cho Hoàng Anh Gia Lai ‘vay tiền mờ ám’
Người Việt – 3 April 2015
Một số tổ chức Phi Chính Phủ (NGO) vừa lên tiếng chỉ trích IFC (International Finance Corporation) của Ngân Hàng Thế Giới (WB) cho Hoàng Anh Gia Lai – một tập đoàn của Việt Nam, vay những khoản mờ ám.
WB thành lập IFC nhằm hỗ trợ tài chính để thực hiện những dự án nhằm chấm dứt sự nghèo khổ, cùng cực và hỗ trợ xây dựng sự thịnh vượng. Từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 6 năm 2013, IFC đã cho vay 36 tỷ Mỹ kim, thông qua các cơ sở tài chính trung gian tại những quốc gia đang phát triển. Khoản tiền này tương đương 50% đầu tư trực tiếp của WB vào y tế và gấp ba lần các khoản cho vay nhằm phát triển giáo dục.
Tuy nhiên theo các NGO tham gia soạn thảo báo cáo có tên “Những nỗi đau của người khác,” trên thực tế, khi cho vay, IFC đã không thẩm định kỹ càng các dự án xin vay tiền, không đánh giá đúng các nguy cơ mà những dự án này gây ra, thậm chí không biết phần lớn các khoản cho vay sẽ vào tay ai.
Cũng vì vậy, IFC trở thành nơi cung cấp tiền cho nhiều dự án xâm hại nghiêm trọng nhân quyền, như: cưỡng bức di cư, tước đoạt đất đai của dân chúng trong phạm vi tác động của dự án, tước đoạt sinh kế, tạo ra xung đột dẫn đến chết người tại nhiều quốc gia như: Việt Nam, Campuchia, Lào, Honduras, Guatemala, Ấn Độ.
Các NGO thực hiện báo cáo “Nhũng nỗi đau của người khác” đã chọn tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai như một bằng chứng để minh họa cho tố cáo của họ. Tập đoàn tư nhân này của Việt Nam đã dùng Dragon Capital Group làm trung gian, vay của IFC 27 triệu Mỹ kim để thâu tóm đất đai của nông dân tại tỉnh Ratanakkiri, Campuchia và dự án của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã làm nguồn nước tại đó ô nhiễm nghiêm trọng.
Các NGO này yêu cầu WB “đầu tư ít hơn với chất lượng cao hơn, phù hợp với các tiêu chuẩn về xã hội và môi trường của mình.” Các NGO còn yêu cầu IFC công bố danh tính của các khách hàng và các dự án được thực hiện thông qua môi giới.
Cũng cần nhắc lại rằng, tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã từng bị các NGO tố cáo vài lần vì những dự án xâm hại nhân quyền, gây nhiều tác hại cho dân sinh và môi trường.
Hồi tháng 11 năm 2013, Global Witness từng phát lời kêu gọi Deutsche Bank và IFC nên rút vốn khỏi tập đoàn này, bởi Hoàng Anh Gia Lai đã không thực hiện những cam kết giải quyết các vi phạm về nhân quyền và môi trường, tại cả Campuchia lẫn Lào.
Sau khi tiến hành điều tra về các đồn điền của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai và Tập đoàn Cao su Việt Nam tại Campuchia và Lào, hồi tháng 5 năm 2013,.Global Witness công bố báo cáo mang tên “Những ông trùm cao su,” tố cáo hai tập đoàn, một của tư nhân và một của chính quyền Việt Nam đã gây ra những thiệt hại đáng về môi trường (phá rừng) và xã hội (cướp đất của nông dân) ở Campuchia và Lào.
Sau đó, phía tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã đưa ra một số cam kết, hứa hẹn sẽ giải quyết những vấn đề đó trong vòng sáu tháng. Cụ thể là sẽ ngưng phá rừng. Gặp những nạn nhân bị cướp đất, thảo luận với họ về cách thức giải quyết những vấn đề mà tập đoàn này gây ra.
Tuy nhiên Global Witness nhận định, tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã không thực hiện cam kết. Trong thực tế việc phá rừng lấy gỗ vẫn tái diễn. Những nông dân bị cướp đất vẫn chật vật trong việc tự mưu sinh.
Global Witness cho biết, họ đã tiếp cận dân chúng của bảy ngôi làng bị ảnh hưởng bởi các dự án của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai. Dân chúng của ba trong bảy ngôi làng cho biết, đại diện của tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai chưa đến gặp họ. Còn dân chúng của bốn trong bảy ngôi làng thì cho biết, đại diện của tập đoàn này có đến gặp họ nhưng từ chối thảo luận về đất và rừng.
Ngoài ra, theo dân chúng của sáu trong số bảy ngôi làng bị ảnh hưởng, tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai vẫn tiếp tục đốn cây lấy gỗ ở bên trong và quanh các đồn điền cao su của họ. Khi phân tích các ảnh vệ tinh chụp trong tháng 7 và tháng 8, Global Witness nhận thấy, diện tích rừng quanh các đồn điền cao su của Hoàng Anh Gia Lai tiếp tục bị thu hẹp.
Đến tháng 9, tuy Hoàng Anh Gia Lai đồng ý kiểm toán độc lập về các đồn điền cao su của tập đoàn này nhưng ngay sau đó lại từ chối và chuyển qua thực hiện các hoạt động quảng bá. (G.Đ)

Giữa Núi và Sông

Nguồn : Vững Đại Phát

Tưởng Năng Tiến
Lâu lắm tôi chưa có dịp ăn lại một cái bánh tiêu. Sống nơi xứ lạ, nhiều sáng mãi đến khi mở mắt mới biết trời đang mưa. Một ngày mưa không bận việc phải ra khỏi nhà, cuộn người trong chăn ấm là thể nào tôi cũng thấy nhớ và thèm ăn bánh tiêu chấm với cà phê pha vợt. Đây không phải là một món điểm tâm hấp dẫn gì cho lắm. Tuy thế, giữa tôi và cái bánh tiêu có những kỷ niệm thân thiết và xót xa đến độ muốn quên (e) cũng khó!
Có mùa mưa tôi đi bán hàng rong. Cũng như ở rất nhiều thành phố khác ở Việt Nam, vào mùa này Rạch Giá hay bị ảnh hưởng của những cơn bão rớt. Trong những ngày tháng ảm đạm buồn bã đó, biển động mạnh, mưa nhỏ nhưng kéo dài lê thê suốt ngày. Mây xám màu chì, nặng nề kéo ngang qua bầu trời thấp xám, âm u của thị xã. Sáng nào tôi cũng dậy thật sớm, tay cầm mẹt (người dân địa phương gọi là cái xề) vội vã đi đến nơi người ta chiên bánh. Tôi bước đi lầm lũi, co ro, tất tả, lòng buồn, bụng đói, dạ hoang mang. Tôi đi không thấy nhà, không thấy phố, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ.
Sau khi lãnh bánh xong, tôi loanh quanh một vòng thành phố. Tôi thường bắt đầu lộ trình quen thuộc của mình từ bến xe Lạc Hồng, qua bến xe Rạch Sỏi, đến bến xe Giồng Riềng, Gò Quao… rồi đi ngược lại. Tôi len lỏi trong chợ, lách người giữa những bàn ăn bày bán hủ tiếu, cháo lòng…
– Bánh tiêu thầy Hai ơi.
– Mời dì Ba ăn bánh tiêu nóng.
– Mua giùm một cái bánh tiêu đi cô Tư.
Dầu là cuộc đời tôi lúc bấy giờ (và ngay cả bây giờ nữa) không có gì là tươi sáng lắm nhưng tôi luôn luôn chào hàng với một nụ cười tươi tắn. Hầu hết khách hàng đều trả lại cho tôi một cái lắc đầu hờ hững, một cái nhìn khó chịu, hay tệ hơn nữa là sự im lặng, câm nín trông mà ái ngại.
Sau chừng nhiều tiếng đồng hồ đi bộ, sau khi nở chừng một ngàn nụ cười tươi và thốt lên những câu chào hàng thân ái, tôi bán được gần năm mươi cái bánh tiêu. Những cái còn sót lại bị thấm nước mưa, teo tóp, ỉu xìu và lấm chấm bụi bặm. Không ai dại gì đem tiền mua thứ của nợ này. Chủ lò thì không chấp nhận cái vụ phát hoàn. Những cái bánh ế sưng, ế sỉa mà mọi người đều tưởng là ăn không được đó tôi đều bỏ vào miệng và nhai ngon lành thoải mái. Một cái bánh tiêu làm bằng bột mì có pha đường, đã được chiên lên đẫm dầu, còn có rắc mè bên trên nữa thì dầu có hơi bẩn và hơi ỉu vẫn là một thứ thức ăn, ăn rất là được.
Rồi tôi lân la vào quán cà phê. Sau khi giấu hai mươi đồng có hình bác Hồ nhìn nghiêng vào gấu quần, tôi xài những đồng còn lại. Giá vốn một cái bánh tiêu là bốn mươi xu. Tôi bán ra năm mươi xu, lời mười xu gọn ghẽ. Nếu bán được bốn mươi tám cái bánh, tôi lời được bốn đồng tám mươi xu. Tôi nhâm nhi cà phê với hai cái bánh ế thì vẫn còn lời được đến bốn đồng. Bốn đồng bạc do nhà nước Hà Nội phát hành đủ cho một người dân trung bình mua một bao thuốc lá quốc doanh; một người dân khá giả mua hai điếu thuốc lá ngoại quốc; và đủ cho tôi sống trọn một ngày, một ngày như mọi ngày thê thảm.
Ly cà phê đen giá một đồng. Cà phê sữa mà cũng cùng giá thì khoẻ biết chừng nào. Những lúc đói tôi không mê cà phê đen lắm. Thêm một đồng để mua ba điếu thuốc lá Lao Động hay Vàm Cỏ nữa là coi như một buổi sáng êm xuôi. Còn thừa hai đồng tôi để dành cho hai đĩa cơm trắng quốc doanh. Hôm nào mà lời không đến bốn đồng là coi như đời tôi… khốn nạn!
Ban đêm tôi đi loanh quanh ở khu rạp hát Châu Văn, hay Lao Động. Tôi lúi chúi giữa những quán sinh tố, quán ăn như một con chó tìm xương. Tôi không đi tìm xương – tất nhiên. Từ lâu lắm rồi ở quê hương tôi khó còn tìm đâu ra xương thịt. Tôi chỉ đi nhặt những mẩu thuốc lá thừa để hút cho đỡ thèm thôi. Cũng có khi may mắn tôi nhặt được cả những con dế lửa, như Pall Mall hay Samit. May hơn nữa là họa hoằn cũng có một hai thực khách rũ lòng thương hại, ái ngại gọi tôi đến để cho bớt phần cơm thừa hay phở cặn của họ. Thực là đỡ cho tôi biết mấy. Tôi rối rít cám ơn rất chân thành. Nếu tôi không may mắn có mặt đúng ngay lúc đó thì tôi đã mất phần. Người ta sẽ để dành cơm thừa, cháo cặn nuôi heo hay chó.
Làm người, nghĩ cho cùng, vẫn thường đỡ hơn là làm chó. Tôi rất lấy đó làm điều an ủi. Chuyện hạnh phúc hay đau khổ trên cái cõi đời mắc dịch này (phần lớn) đều do nhận thức của chính mình, và nhận thức luôn luôn là nhận thức về cái tương đối.
Tôi ngủ chung với lũ trẻ bụi đời ở sân quần vợt của thị xã. Đêm khuya, tôi trở về từ khu chợ, quấn mình trong tấm vải nhựa, nằm nhìn sao trời lấp lánh qua cành lá rồi đi dần vào giấc ngủ. Một giấc ngủ tuy không mấy an bình nhưng tôi vẫn cứ cảm thấy mình là người còn có quá nhiều… may mắn. Nằm ngủ lang bang đầu đường xó chợ thì có rất nhiều hy vọng sẽ bị công an bắt đi cải tạo; dẫu vậy, vẫn hay hơn và may hơn những người đang ở trong trại cải tạo. Đi bán bánh đỡ mỏi chân, đỡ mệt và đỡ nguy hiểm hơn là đi vác củi hay gỡ mìn như những tên tù binh.
Vào đêm mưa, tôi hay chui rúc dưới hàng hiên với hàng chục đứa bé gầy guộc ghẻ lở. Tôi thường nằm kể chuyện cho chúng nghe chơi để tất cả đều cảm thấy đỡ lạnh, đỡ đói và đêm đỡ dài.
Giông bão làm cho sinh hoạt ở một thành phố ven biển trở thành tê liệt. Những người bạn nhỏ của tôi không thể nào la cà phố xá để xin ăn. Họ đành bóp bụng, nằm sát bên nhau, nghe tôi kể chuyện. Tôi dẫn dụ tụi nhỏ vào đời sống “Sans Famille” của Hector Malot. Cũng là một kiếp không nhà nhưng cuộc đời lưu lạc, giang hồ, và đói lạnh của một đứa bé Ý Đại Lợi (vào thế kỷ trước) vẫn là một hình ảnh “lý tưởng” đẹp đẽ làm say lòng những đứa trẻ mồ côi ở quê hương tôi vào cuối thập niên bảy chục.
Tôi kéo dài cái lối sống ăn bờ, ở bụi gần được cả năm. Rất nhiều lúc tôi tự vấn lương tâm, và thấy rằng: còn một nơi để ẩn náu cho qua ngày như vậy cũng là may lắm rồi. Tôi chả có ước mong cao xa được sống khỏe như Nguyễn Bính:
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Cơm tôi chưa có ăn đủ no, lấy gì ra làm rượu để uống cho say – cha nội? Bỉ nhất thời giả, thử nhất thời giả. Hồi đó là một thời, bây giờ là một thời. Tôi mà cũng học đòi say tì tì cả ngày như Lý Bạch hay Nguyễn Bính thì có mà bỏ… mẹ!
Ở cái thời của tôi con người phải sống cho nó đàng hoàng. Phải có hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân, công ăn việc làm, và phải biết im lặng, cúi đầu chấp nhận sự lường gạt, dối trá, và bị trấn lột như những “lề luật tự nhiên” của chế độ hiện hành! Tiếc thay, tôi chả hội được bất cứ điều kiện nào như vừa kể. Bởi vậy, tôi đã bỏ Rạch Giá mà đi. Tôi ra đi bỏ lại cha già, mẹ yếu, cùng người tình lỡ (đã gần lỡ hết tuổi xuân và chả còn hy vọng kiếm được một tấm chồng tử tế) trong một xã hội không còn gì là tử tế.
Tôi còn bỏ lại lũ trẻ mồ côi, gầy guộc, thiếu ăn, mất dạy, và cả đoạn kết câu chuyện “Vô Gia Đình” dang dở. Tôi ra đi với bao nhiêu là ray rứt xé lòng, và tự an ủi xoa dịu chính mình bằng những hoài vọng xa xôi.
Tôi chạy đến Hoa Kỳ tị nạn, “America”, nói theo kiểu của Mario Puzzo và Elia Kazan thì đây là Đất Tiền Đất Bạc hay là Vùng Trời Mơ Ước. Tôi không tò mò tìm hiểu xem những người thuộc đủ mọi chủng tộc (khác) khi đi đến nơi đây họ mơ ước gì và họ đã đạt được bao nhiêu phần trăm ước mơ của mình. Riêng tôi, những hoài vọng xa xôi đã an ủi và xoa dịu lòng mình (vào lúc ra đi) thì vẫn cứ chỉ là những hoài vọng mà thôi!
Ở Hoa Kỳ tôi đi bán xăng. Xăng ở California – tất nhiên – không ế như bánh tiêu ở Rạch Giá. Bây giờ tôi không còn “làm chủ cái xề bánh tiêu của mình nữa”. Tôi đi làm công nên buôn bán càng đắt hàng, tôi càng phiền. Điều làm tôi phiền nhất – và thực sự phiền – là giữa những người mua bánh tiêu ở quê hương tôi và những người mua xăng ở đây có quá nhiều điểm giống nhau.

Hầu hết những người dân ở California đều đi xe, đi một mình, quay kín cửa và chạy thục mạng. Tôi cứ ngỡ ngàng hoài vì nhịp sống vội vã, hối hả này. Dường như người ta chỉ chịu ngừng xe khi bình xăng đã cạn hoặc là bị lạc đường. Mỗi ngày tôi đều phải “deal” với hàng trăm người bận rộn đến cuống cuồng như vậy.
– Hi man, I’m lost. Where I am and how I can get to…
Tôi đã thức trắng hơi nhiều đêm ở Las Vegas, đã ngơ ngác nhiều buổi chiều khi lạc bước vào khu phố Tàu ở thành phố Cựu Kim Sơn hay co ro, lầm lũi đi trong những buổi sáng mưa phùn giá lạnh ở Portland. Tôi kinh ngạc vì sức chịu đựng của chính mình qua hết một mùa Đông tuyết phủ nơi một tiểu bang vùng lạnh, Nebraska.
Nhiều đêm dài tôi nằm lịm người dưới một cái basement nghe gió miền Trung Mỹ thổi qua thành phố Wichita mà thấy buồn, cô đơn và nhớ quê nhà muốn khóc. Kể từ ngày lưu lạc, tôi đã thầm nói với chính mình hàng trăm lần rằng: I am lost!
Dẫu sao, tôi vẫn xin được cám ơn người, cám ơn đời đã mở lòng cho tôi một chỗ tạm dung, một cái lý lịch, một cơ hội để sống lại kiếp người. Cũng xin cám ơn những chương trình, và cơ hội quý báu mà quý vị đã mang lại cho những người tị nạn như tôi.
Tiếc thay, tôi không hề có ý ở mãi nơi đây nên chả thiết tha gì đến chuyện thăng tiến hay thụt lùi ở xã hội này. Chúng tôi phải quay về thôi. Trở về để giành lại phần quê hương đã mất, để giải thoát đồng bào tôi ra khỏi xích xiềng, và xây dựng lại một xã hội nhân bản hơn cho tất cả mọi người.
Tưởng Năng Tiến
(trích “Đất Lạ”, Hương Quê xuất bản 1984)

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2015

Chuyện Dài Về Tự Hào Dân Tộc

Nguồn : Vững Đại Phát

Việt Nam còn ăn xin đế bao giờ?
Nguyễn Văn Tuấn – 4/4/2015
Thật ra, đó là câu hỏi của người đại diện JICA (Quĩ Hợp tác Quốc tế của Nhật) dành cho phía Việt Nam trong cuộc họp báo hai ngày trước ở VN (1). Điều vui vui là phóng viên đặt câu hỏi rằng Quốc hội VN về tài trợ của Nhật có ràng buộc (như phải thông qua hay dùng nhà thầu Nhật), ông đại diện nói rất thẳng là “Tôi nghĩ đến câu chuyện Việt Nam lúc nào không cần ODA nữa. Đến nay Việt Nam đã nhận ODA 20 năm. Bao giờ Việt Nam không cần cần nữa? 10 năm hay 20 năm nữa?” Có thể hiểu câu đó một cách nôm na là: các anh còn ăn xin đến chừng nào nữa, 10 năm hay 20 năm? Đã ăn xin mà còn cao giọng đòi hỏi! Phải nói rằng đó là một lời bình rất thật, hơi trịch thượng, và có thể làm cho người có tự trọng cảm thấy rất nhục.
Ông đại diện JICA không chỉ mắng là ăn xin đến khi nào, mà còn gõ đầu cảnh cáo về tình trạng tham nhũng hối lộ. Ông nói thẳng thừng: “Nếu có vụ tham nhũng nữa, Nhật sẽ ngưng viện trợ ODA cho VN“. Bất quá tam. Thú thật, đọc câu đó thoạt đầu tôi cứ tưởng là chuyện “Cá Tháng Tư”, chứ có ngờ đâu là tin thật. Cảm giác đầu tiên dĩ nhiên là thấy nhục nhã, bởi vì để cho một nước khác nói thẳng như thế, nói trong tư thế của kẻ bề trên. Nhưng nghĩ lại thì thấy cũng … đáng. Quen thói “ăn không chừa thứ gì” (lời của một quan chức cao cấp) thì cũng phải đến ngày bị người ngoài mắng cho một trận nên thân. Chỉ tội đa số người dân Việt phải hứng chịu sự khinh bỉ của người khác.
Tại sao người Nhật họ có thể nói thẳng như thế? Câu trả lời là vì họ là người chủ nợ lớn nhất của Việt Nam. Trong quá khứ và cho đến nay, Nhật đã tài trợ cho VN rất nhiều. Một bài báo năm ngoái cho biết trong thời gian 20 năm qua, Nhật đã hỗ trợ cho VN 20 tỉ USD (2), và con số vẫn còn tăng. Chỉ riêng năm 2014 Nhật đã tài trợ cho VN gần 2 tỉ USD, có lẽ là nguồn tài trợ lớn nhất cho VN (?). Có lẽ chính vì thế mà Nhật có tư cách cảnh báo VN như cha cảnh báo con: cứ tối ngày phung phí thì coi chừng, nghe chưa con! Thật ra, nói là tài trợ, nhưng thực tế là vay, và thế hệ con cháu phải trả số tiền vay này trong tương lai.
Nhưng VN không chỉ nhận từ Nhật, mà còn từ một nguồn quan trọng khác là Ngân hàng Thế giới (WB). Tôi thử tra số liệu của WB thì thấy tiền vay ODA từ WB qua các thời gian như sau:
1995-1999: 2.94 tỉ USD
2000-2004: 3.59 tỉ USD
2005-2009: 4.11 tỉ USD
Số tiền này rất lớn so với các nước khác. Thật ra, các nước như Phi Luật Tân và Nam Dương thì họ giảm vay ODA (riêng Thái Lan và Mã Lai thì không thấy vay ODA nữa, chắc là họ đã “ok”). Số liệu của Nam Dương:
1995-1999: 1.39 tỉ USD
2000-2004: 419 triệu USD
2005-2009: 67 triệu USD
và Phi Luật Tân:
1995-1999: 531 triệu USD
2000-2004: không vay
2005-2009: 5.14 triệu USD
Ngay cả Lào cũng có xu hướng giảm vay ODA. Năm 1995-1999, Lào vay 414 triệu USD, đến năm 2005-2009 thì còn 409 triệu USD. Còn Kampuchea thì chỉ vay khoảng 700 đến 800 triệu USD mỗi 5 năm, và không thấy tăng.
Tất cả những con số trên cho thấy VN là nước vay rất nhiều từ WB, và xu hướng đang tăng (xem biểu đồ). Nếu dân số năm 2014 là khoảng 89.7 triệu, thì tính trung bình số tiền vay (5 năm) là 46 USD mỗi người dân. Có lẽ vì vay nhiều thế, nên có chuyên gia tính toán rằng hiện nay, mỗi người Việt nợ 900 USD (?).
vn an xin ng v tuan
Biểu đồ về số tiền vay ODA từ Ngân hàng Thế giới trong thời gian 1995-2009 của Việt Nam, Nam Dương, Lào, và Phi Luật Tân. Đơn vị là triệu USD.
VN vay nhiều nhưng “ăn” cũng nhiều. Nguồn tin từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) thì cho biết trong các nước mà WB tài trợ, thì VN là nước bị than phiền nhiều, đứng hàng thứ 2 (chỉ sau Ấn Độ). Người ta than phiền VN ăn hối lộ, ăn chận tài trợ của WB. Lĩnh vực bị than phiền nhiều là giao thông vận tải, viễn thông và công nghệ thông tin, và cấp nước (4). Đã ngửa tay ăn xin mà còn tham nhũng! Chính vì thế mà VN bị khinh bỉ trên trường quốc tế.
Thuỵ Điển đã cúp viện trợ. Vài nước khác cũng đang sắp cúp viện trợ cho VN. Cuối cùng thì có lẽ VN nhờ vào kiều hối, nhưng số này cũng sẽ giảm vì thế hệ thứ 2 người Việt ở nước ngoài sẽ không có gắn bó gì với VN, và họ sẽ chẳng gửi tiền về VN nữa.
Quay lại câu hỏi nhức nhối (ăn xin đến khi nào), nên nhớ rằng viên đại diện Nhật không phải là người đầu tiên nói như thế. Theo ông Lê Đăng Doanh thuật lại trong một buổi báo cáo cho trung ương đảng với cách nói thẳng và không màu mè (5):
“Ngày 01 tháng 12 này cũng có một cái Hội nghị tài trợ. Tôi xin báo cáo rất chân thành với các anh là ra đấy chỉ khổ tâm thôi. Nhiều thằng nó nói với tôi là chúng mày định ngửa tay đi ăn xin đến bao giờ nữa? Chúng mày là người thông minh, có học, về mặt nào đấy chúng mày không kém gì chúng tao cả… Tại sao chúng mày cứ ăn xin miết thế. Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến như thế là thế nào? Chúng mày cứ đề ra cái mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng có đi ăn xin nữa được không? Nó nói với tôi trắng trợn và thẳng lắm chứ, y nguyên như tôi nói với các anh chị.”
Ông nói thêm:
“Nó bảo mày phải nghĩ đi, mà phải nghĩ cả phẩm giá, tư cách của mày đi xem mày là thế nào đi, lúc nào rồi dân tộc của mày sẽ như thế này sao? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Ta cứ tưởng nó cho tiền mãi là vinh dự. Tôi thấy vinh dự vừa phải thôi, chứ trong thâm tâm tôi như muối xát vào ruột chứ không đơn giản đâu. Vì nó nói đến như thế. Thằng không nói thì trong thâm tâm nó cũng nghĩ thế cả, thằng bỗ bã thì nó nói toẹt vào mặt chứ không phải đơn giản đâu. Cho nên, có người nói với tôi là, vậy thì bây giờ mình có lãnh đạo ASEAN được không, tức ông phải trả lời trước hết ông lãnh đạo thì ông có tiền ông bao thằng khác không? Hai là ông có cái học thuyết gì để hướng dẫn cho người ta không? Thứ ba nữa là ông muốn lãnh đạo thì thằng Washington và thằng Bắc Kinh nó có tin ông không? Hai thằng ấy mà nó không tin ông nó cho ông mấy chưởng thì lúc bấy giờ, ông chưa lãnh đạo nó đã cho ông què cẳng rồi. Thì thôi, bây giờ coi như ông đừng lãnh đạo; chứ ông mà lên tiếng, ông mạnh mồn ra tiếng lãnh đạo, hò hét thì đừng là nó cho ông mấy chưởng ngay chứ không phải không đâu. Mà nó có nhiều võ hơn mình, nhiều tiền hơn mình, nhiều công cụ hơn mình”.
Hãy đọc và suy nghĩ! Ai làm cho đất nước này và con người Việt Nam nhục như thế, để cho thiên hạ mắng mình ngay trong đất nước mình và mắng trên mặt báo.
Nguyễn Văn Tuấn
(Blog Nguyễn Văn Tuấn)
____
Để tránh xảy ra việc đưa và nhận hối lộ như trong dự án xây dựng đường sắt đô thị Hà Nội (tuyến số 1), dự án Đại lộ Đông - Tây, Nhật Bản đang kiến nghị với Việt...
LAODONG.COM.VN