Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Tại sao đầu tư chán Việt Nam

From BBC ngày 3 tháng 8 năm 2012
Con số thống kê Bộ Kế Hoạch Đầu Tư Việt Nam vừa công bố cho thấy đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào nước này trong bảy tháng đầu năm chạm mức 8.3 tỉ đô la, bằng 66.9% so với cùng kì năm 2011.
Việt Nam đang lộ yếu kém về đầu tư, công nghệ và quản trị.
Sự suy giảm từ 19.9 tỉ đô la năm 2010 xuống con số đáng thất vọng như vừa nêu trong lúc FDI toàn cầu tăng 1.24 ngàn đến 1.6 ngàn tỉ trong cùng thời gian cho thấy FDI tại Việt Nam đang đi ngược chiều với xu hướng thế giới.
Sự tụt hạng đầu tư của Việt Nam ở châu Á ở cùng thời gian cũng chứng minh môi trường kinh doanh nước này đang mất điểm trong mắt giới đầu tư, so với nước cùng khu vực như Indonesia, tăng từ vị trí 21 lên 9 một cách ngoạn mục
Vậy giới quan sát đang cho rằng những lí do chính nào ngoài lí do ‘suy thoái kinh tế toàn cầu’ được ‘ưa chuộng’ của chính phủ Việt Nam khiến giới đầu tư nước ngoài trở nên ngán ngẩm việc đầu tư ở Việt Nam đến vậy?
Đăng kí nhiều, không sử dụng hết
Thông số FDI được đăng kí tại Việt Nam, thường chênh lệch xa với lượng FDI được chính thức đưa vào sử dụng vì tốc độ giải ngân yếu kém.
Việc đưa vốn đầu tư vào chính thức sử dụng tại Việt Nam là một thử thách đối với tập đoàn nước ngoài (FIEs) vì các thủ tục giấy tờ cũng như các điều khoản qui định đầu tư rắc rối, không rõ ràng.
Các dự án lên đến hàng tỉ đôla thậm chí sau khi đã hoàn thành các thủ tục, vẫn phải đối mặt với công đoạn “khó nuốt nhất” của quy trình đầu tư: ‘giải phóng mặt bằng’, được quản lý bởi các chính quyền địa phương nghèo vốn.
Một ví dụ tiêu biểu trong thời gian gần đây nhất đó là dự án hợp tác đầu tư của tập đoàn thép Tata của Ấn Độ với Tập đoàn thép quốc gia Việt Nam.
“Doanh nghiệp Nhà Nước vẫn là nòng cốt của nền kinh tế trong chiến lược phát triển”.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Dự án 5 tỉ đô la đã phải nằm “bất động” trong bốn năm liền vì sự chậm chạp của tỉnh Hà Tĩnh trong việc giải phóng mặt bằng với lời bào chữa “không đủ ngân sách”.
Đây là lí do khiến phía Ấn Độ mất kiên nhẫn đến nỗi đích thân thủ tướng Manmohan Singh phải “nhắc khéo” về dự án với Chủ tịch Trương Tấn Sang trong cuộc gặp năm 2011 tại New Dehi.
Kết quả là trong tháng 8, phía Việt Nam đã bắt Tata phải trích thêm một khoản 100 triệu đôla nữa để trả tiền giải phóng mặt bằng, gấp hơn ba lần so với 30 triệu đô la qui ước ban đầu, nhằm ‘thúc đẩy’ tiến trình dự án.
Lao động rẻ đã lỗi thời
Chủ tịch Trương Tấn Sang đã nhận được thông điệp từ Ấn Độ về vụ Tata đầu tư vào Hà Tĩnh.
Kinh tế gia Raphael Cecchi của hãng phân tích đầu tư ONDD tại Bỉ có nói trong một cuộc phỏng vấn với BBC rằng, một trong hai thế mạnh lớn nhất của Việt Nam đó là lực lượng lao động đông đảo với giá rẻ.
Tuy nhiên ngay cả ông và giới phân tích trên thế giới cũng thống nhất rằng, trước nhu cầu thị trường toàn cầu ngày càng tinh vi và thâm dụng vốn cũng như tốc độ tăng giá lao động trong nước nói riêng, thế mạnh này sẽ bị xói mòn rất nhanh.
Giới quan sát nói Việt Nam sẽ khó đón nhận những làn sóng FDI khổng lồ trong tương lai với đội ngũ lao động kém trình độ, chủ yếu bắt nguồn từ những bất cập trong nền giáo dục vốn thiếu sự tự do để cạnh tranh, chuyên môn hóa của nước này.
Một ví dụ cụ thể là vào năm 2011, Intel , hãng sản xuất chip điện tử hàng đầu của Mỹ, đã gặp trở ngại trong việc đầu tư vào Việt Nam khi số công nhân đủ trình độ tuyển dụng chỉ bằng một phần nhỏ số lượng yêu cầu.
Hãng Intel vào thời điểm đó đã gạt qua một bên lợi thế lao động giá rẻ của Việt Nam, tuyên bố rằng đó không phải là điều họ tìm kiếm.
Trong những năm trước, khi giá lao động Trung Quốc tăng nhanh, nhiều ý kiến đã cho rằng Việt Nam sẽ là điểm dừng chân tiếp theo của những nhà đầu tư muốn hướng về Châu Á. Cho tới nay, Trung Quốc vì giá lao động tối thiểu cao hơn Việt Nam rất nhiều, vẫn là điểm dừng chân hàng đầu cho các tập đoàn công nghệ khổng lồ của thế giới như Samsung, Apple nhờ những nỗ lực nâng cao chất lượng lao động.
Họ đã đào tạo đội ngũ lao động cao cấp lên làm nòng cốt cho nền kinh tế trong lúc vẫn đảm bảo giá cả, chất lượng và năng suất sản xuất ở mức cạnh tranh so với thị trường lao động quốc tế từ rất sớm.
Điện cúp, đường tắc
Chính phủ Việt Nam quyết tâm duy trì vị trí ưu thế về chính sách cho doanh nghiệp nhà nước.
Bài viết của kinh tế gia Geoffrey Cain trên tờ Foreign policy (FP) rong tháng 7 có đoạn: “Việt Nam của năm 2012 là xứ sở mà chính phủ ra quyết định xây dựng các công trình cảng ở những nơi kì quái hoặc đường xá không có ý nghĩa kinh tế nào”.
Vấn đề cơ sở hạ tầng không được đầu tư đúng nơi, đúng lúc và đúng mức độ đang là vấn đề gây quan ngại với giới đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là khi vấn đề mất điện và giao thông đình trệ có những ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Nhiều năm qua, các doanh nghiệp đặt xưởng sản xuất tại Việt Nam liên tục kêu ca là ‘chới với’ vì không có điện để sản xuất, nhất là trong thời điểm mùa hè, dẫn đến thiệt hại về cả năng suất cũng như chi phí sản xuất.
Báo chí nêu như với Samsung, vụ mất điện 10 phút đã có thể biến các sản phẩm dang dở thành phế thải, gây tốn kém lên đến hàng chục triệu đô la.
Tập đoàn điện lực VN (EVN) thì liên tục lên tiếng than lỗ vì thiếu nước, chi phí mua điện ngoài tăng cao, cũng như các nguồn điện chậm tiến độ như một phần các lí do cho vấn đề bất cập năng lượng.
Trong khi đó EVN vẫn đầu tư vào các ngành không liên quan như ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản…
‘Ngại’ doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp Nhà Nước (DNNN), bị coi là trở ngại lớn nhất với sự phát triển của khu vực tư doanh, vốn được cho là nòng cốt và tương lai của nền kinh tế Việt Nam, mà còn là lá chắn nguồn FDI từ bên ngoài suốt nhiều năm qua.
Ngân hàng HSBC hôm 1/8 nói sai lầm lớn nhất của Việt Nam là tập trung 40% tổng sản lượng doanh thu quốc gia (GDP) vào các tập đoàn nhà nước kém hiệu quả, tạo ảnh hưởng tiêu cực lên thị trường nhưng lại đòi hỏi sự hỗ trợ khổng lồ để tiếp tục tồn tại.
Các doanh nghiệp này, bị các nhà đầu tư lên án là với số vốn lớn mạnh đã ra sức thao túng vị trí ‘đầu tàu của ngành’, chiếm thế độc quyền bằng cách mở rộng đa ngành để tạo khó khăn cho việc thâm nhập thị trường của các tập đoàn nước ngoài, ảnh hưởng đến mức FDI tiềm năng đổ vào Việt Nam những năm qua.
Trong cùng bài trên FP, Geoffrey Cain viết về Doanh Nghiệp Nhà Nước của ở Việt Nam: ”Họ thật là một đám phiền toái, chẳng ai (nhà đầu tư nước ngoài) muốn dính vào họ”.
Tuy nhiên, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn tiếp tục khẳng định Doanh Nghiệp Nhà Nước vẫn là nòng cốt của nền kinh tế trong chiến lược phát triển đất nước từ đây đến năm 2015.
“Họ thật là một đám phiền toái”
Geoffrey Cain
Có điều chính ông này là người bị dư luận lên án vì đã bỏ ngoài tai những cảnh báo của các chuyên gia về tác hại của mô hình DNNN nhiều năm trước khi Vinashin, Vinalines đổ vỡ.
Lạm phát: nỗi ám ảnh kinh hoàng
Lạm phát trong năm 2012 đã giảm xuống mức đáng kể, thế nhưng những dư âm và hậu quả của mức lạm phát lên đến 23% của năm 2011 vẫn còn tồn đọng trong nền kinh tế hiện tại và tâm lí các nhà đầu tư.
Một phần nguyên nhân cho tình trạng suy giảm lượng FDI trong năm 2012, đó là các biến động tâm lý của nhà đầu tư trong thời điểm một năm trước đó.
Trong bối cảnh lạm phát Việt Nam lên đến mức cao nhất Châu Á năm 2011, các khách hàng nước ngoài cũng như các công ty nước ngoài trở nên lãnh đạm hẳn với thị trường Việt Nam và tìm cách chuyển dần sang các nước lân cận trong suốt thời gian sau đó.
Nguyên nhân cho sự lãnh đạm đó là sự mất đi lợi thế cạnh tranh giá cả trong nước trước áp lực lạm phát khiến yêu cầu tăng lương của nhân viên, chi phí vật liệu, lãi suất cao ngất ngưởng và các ngân hàng đua nhau siết vốn.
Nguồn FDI vào ngành bất động sản trong cũng giảm xuống rõ rệt trước một thời gian dài chứng kiến sự sụp đổ của ngành này cùng những món nợ xấu còn tồn đọng ở thời điểm hiện tại.
Những tiến triển trong quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước lân cận đang mở ra những nguồn FDI tiềm năng mới.
Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực rõ rệt trong việc hạ lạm phát, giới quan sát vẫn đang ‘nín thở’ theo dõi tốc độ giảm lãi suất của nước này bởi khả năng tái lạm phát nếu lãi suất được giàm không đúng mực.
Kinh tế gia Raphael Cecchni nhận đinh rằng, Việt Nam, trước nỗ lực giải quyết mức lạm phát đang phải hi sinh tăng trưởng thường niên và giá trị tiền đồng, vốn cũng là điều đang khiến các nhà đầu tư lo ngại rằng sẽ giảm độ hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam.
FDI sẽ quay trở lại ?
Các động thái của Nhà nước Việt Nam trong thời gian gần đây cho thấy nỗ lực của phía chính quyền trong việc tái khẳng định tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam.
Giới phân tích cho rằng, nỗ lực rõ rệt nhất, đó là việc tái ổn định kinh tế vĩ mô, thắt chặt tín dụng và hạ mức lạm phát một cách quyết liệt kể từ Nghị Định số 11 năm 2011.
Các đề án tái cơ cấu ngân hàng cũng như Doanh nghiệp nhà nước của chính phủ Việt Nam trong thời gian gần đây cũng đang được đánh giá là có những tác động tích cực lên tâm lí đầu tư nước ngoài.
Vấn đề giải ngân trong báo cáo của Cục thống kê cũng được các chuyên gia cho là tốt hơn so với cùng kì năm ngoái, chứng tỏ sự tiến bộ trong công tác quản lí nguồn FDI.
Sự gia tăng trong các mối quan hệ song phương gần đây giữa Việt Nam và các nước Nhật, Mỹ, Nga cũng được cho là đang mở đường cho những nguồn FDI đầy tiềm năng.
Tuy nhiên, có một điều mà giới quan sát đồng thuận, đó là Việt Nam cần quyết liệt hơn nữa trong việc giải quyết các vấn đề hiện hữu trong cơ cấu đã và đang khiến các khối đầu tư tỉ đô quay mặt đi.

Cổ phiếu Alibaba rớt giá trầm trọng, giới đầu tư mất hơn 100 tỷ USD

Giới đầu tư “vỡ mộng” khi giá cổ phiếu tập đoàn thương mại điện tử Trung Quốc Alibaba cứ “bốc hơi” từng ngày, nhiều cổ đông tỏ ra nản lòng, những tỉ phú đầu cơ thì bán tháo số cổ phiếu còn lại nhằm thoát nạn.
Cách đây 1 năm, cổ phiếu của tập đoàn thương mại điện tử Trung Quốc Alibaba được giới đầu tư xem như một tài sản chắc chắn. Khi đó, Alibaba tiến hành vụ phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) lớn nhất trong lịch sử và cổ phiếu này bán chạy “như tôm tươi”.
Với niềm tin của giới đầu tư vào triển vọng kinh tế và tiêu dùng ở Trung Quốc, cổ phiếu của Alibaba tăng giá 76% chỉ trong vòng có 2 tháng sau vụ IPO đình đám.
Nhưng rồi cổ phiếu Alibaba đã quay đầu rớt giá không lâu sau đó khi một loạt diễn biến bất lợi ập đến với “đế chế” thương mại điện tử này. Alibaba bị cơ quan chức năng Trung Quốc tăng cường giám sát chống hàng giả, nhái; phải thay Giám đốc điều hành (CEO) do tăng trưởng doanh thu chậm lại; và nhất là nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc mạnh.
Giá cổ phiếu Alibaba cứ giảm, giảm, và giảm, về mức giá IPO, rồi xuống dưới mức giá này. Giới đầu tư “vỡ mộng” khi giá cổ phiếu công ty này cứ “bốc hơi” từng ngày.
Giá trị vốn hóa của Alibaba hiện đã tụt 128 tỷ USD và hầu như không có triển vọng sớm hồi phục. Nhà phân tích James Cordwell của Atlantic Equities dự báo nền kinh tế giảm tốc của Trung Quốc sẽ tiếp tục khiến tăng trưởng của lĩnh vực thương mại điện tử ở nước này chậm lại cho tới ít nhất năm 2016.
Chủ tịch kiêm nhà đồng sáng lập Alibaba, tỷ phú Jack Ma, vốn là người không “chiều chuộng” các nhà đầu tư. Trong một lá thư dịp IPO, Jack Ma nói “thẳng băng” là cổ đông sẽ chỉ giữ vị trí ưu tiên thứ ba đối với Alibaba sau khách hàng và nhân viên. Jack Ma không muốn các biến động thị trường ngắn hạn gây ảnh hưởng đến chiến lược dài hạn của tập đoàn.
Trên thực tế, nhiều vấn đề mà Alibaba gặp phải xuất phát từ nền kinh tế Trung Quốc, việc mà công ty không thể kiểm soát.
Một số thương vụ trong số các thương vụ có tổng trị giá 15 tỷ USD mà Alibaba công bố cũng khiến giới đầu tư băn khoăn. Nhiều thương vụ trong số này có mục tiêu chiến lược rõ ràng, nhưng số khác gây “khó hiểu”, chẳng hạn Alibaba mua cổ phần trong một đội bóng ở Quảng Châu, một công ty sản xuất điện thoại thông minh (smartphone) nhỏ, và một studio giải trí làm ăn bết bát.
Tầm nhìn của Jack Ma là dựa vào những khoản đầu tư mới này để giúp kết nối thông tin trên web với người tiêu dùng trong thế giới thực. Ý tưởng này – được biết đến trong lĩnh vực công nghệ là O2O (từ trực tuyến đến ngoại tuyến) – nhằm cho phép người sử dụng dùng smartphone để mua mọi thứ mà họ muốn, từ thực phẩm, bữa tối, TV, cho tới rửa xe.
Những thương vụ của Alibaba cuối cùng có thể sẽ phục vụ đắc lực cho tầm nhìn này, nhưng trước mắt những thương vụ này chưa đem lại hiệu quả cho lợi nhuận và giá cổ phiếu của tập đoàn.
Ngoài bị cơ quan chức năng Trung Quốc gây sức ép chống hàng giả, nhá, Alibaba còn phải đối mặt với sự chỉ trích của giới truyền thông. Tạp chí Barron’s mới đây dự báo cổ phiếu của Alibaba sẽ giảm thêm 50%. Alibaba nói bài báo này dựa trên những tính toán thiếu chính xác và có những thông tin không xác thực, được sử dụng có chủ ý.
Nhiều cổ đông của Alibaba đã tỏ ra nản lòng. Hai tỷ phú đầu cơ Daniel Loeb và George Sorus đều đã bán sạch cổ phiếu này.
Tuy vậy, nhà phân tích Cordwell của Atlantic tin rằng Alibaba rồi sẽ nổi lên thành một công ty mạnh hơn. “Sẽ còn 2-3 quý khó khăn nữa đối với Alibaba. Nhưng những thách thức hiện nay sẽ giúp Alibaba trở thành một công ty tốt hơn trong 10 năm tới”, ông Cordwell nói.
Theo VnEconomy

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2015

Chuyện Kinh Doanh Của Alan Phan

Tiến sĩ Alan Phan và trải nghiệm kinh doanh
Tác giả: GS Bùi Văn Phú – VOA Tiếng Việt – 31 Aug 2015

Không ít người Mỹ gốc Việt đã về Việt Nam làm ăn. Có người thành công, nhưng đa số thất bại. Thất bại không nói ra, nhưng thành công cũng không ai khoe vì không biết có bền lâu hay không.
Tiến sĩ Alan Phan thì khác. Ông đã trải nghiệm mấy chục năm trên thương trường quốc tế, từ châu Mỹ, châu Phi sang châu Á với thất bại cũng như thành công. Những kinh nghiệm làm ăn đã được ông ghi lại qua mười một đầu sách. Hai tác phẩm mới nhất là Doanh nhân Việt trong thế trận toàn cầu (600 trang) và 42 năm làm ăn tại Mỹ và Trung Quốc (300 trang) – gồm nhiều bài đã đăng trên Blog gocnhinalan.com – được ra mắt tại hội quán báo Thằng Mõ ở San Jose vào trưa Chủ nhật 23/8.
Trên 100 khách đã đến tham dự, trong đó có nhiều doanh nhân vùng Vịnh San Francisco như ông David Dương, Tổng giám đốc California Waste Solution; ông Trần Hồng Phúc Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam Oakland; ông Đỗ Vẫn Trọn của Truyền hình Viên Thao; ông Nguyễn Xuân Nam của TV và báo Calitoday; ông Huỳnh Lương Thiện của Tuần báo Mõ SF.
Ngoài ra còn có cựu phó thị trưởng Madison Nguyễn, kĩ sư Đỗ Thành Công và ủy viên giáo dục Vân Lê, là ba ứng cử viên cho chức Dân biểu Tiểu bang Địa hạt 27 vào năm tới. Còn lại đa số là các bạn trẻ, trong đó có những sinh viên du học đến từ Việt Nam.
Bài nói chuyện của Tiến sĩ Alan Phan xoay quanh thương trường Việt Nam và những cơ hội. Theo ông, đầu tư đòi hỏi sự chuyên nghiệp, kế hoạch và tùy thuộc nhiều vào nhà nước, trong khi kinh doanh là môi trường hoạt động thoáng hơn và dễ thành công hơn.
Ông mô tả: “Việt Nam là một môi trường giới hạn, không phải muốn gì thì làm nấy. Tình hình còn mù mờ. Xã hội Việt Nam so với Mỹ thì thật là bát nháo và hỉ nộ ái ố hơn. Không ở đâu buồn cười như ở Việt Nam. Mở tờ báo ra đọc là thấy đính chính tôi không bị bắt. Như mới đây ông Trần Phương Bình của Đông Á Ngân hàng phải lên tiếng. Rồi ông Đặng Thành Tâm cũng lên tiếng đính chính là chưa bị bắt.”
Câu nói vui đùa của Tiến sĩ Alan: “Tôi cũng đính chính với các bạn đây là tôi không bị bắt” đã đem đến cho khách dự một tràng tiếng cười.
Theo ông, nhiều người Việt hải ngoại về Việt Nam có những lí do riêng, gái gú cũng có, kỉ niệm ngày xưa cũng có, thắng cảnh cũng có. Quê hương cũ có một sự quyến rũ nào đó.
Nếu đó là một nơi có thể sống được, kiếm được tiền thì rất thoải mái. Ở đó có những niềm vui và những điều tiêu cực. Nhưng nói chuyện làm ăn là cần có sự may mắn và phải có quan hệ.
“Nếu về làm ăn tôi khuyên là người độc thân, về đó gặp con cán bộ là kết hôn ngay vì quan hệ rất quan trọng trong làm ăn được thua ở Việt Nam. Phải có người chống lưng, có gốc rễ.”
Ở Mỹ thì khách hàng là số một, còn ở Việt Nam, theo quan sát của ông: “Khách hàng là quan chức nhà nước. Nếu mấy ông đó thích thì sẽ bán được nhiều hàng, làm ăn lên rất lẹ. Nếu mấy ông không thích thì ô hô ôm passport lo chạy về Mỹ.”
Nội bộ lãnh đạo với tranh giành phe nhóm cũng ảnh hưởng lớn đến kinh doanh. Mình đứng về phiá thua thì coi như không còn gì.
Tiến sĩ Alan nhắc đến sự kiện ông Hà Văn Thắm là phe của …., khi ông này mất thế thì giá cổ phiếu Ocean Group của công ti do ông Thắm điều hành đang từ 100 nghìn đồng rớt xuống 1 nghìn, ngân hàng bị nhà nước mua lại với giá coi như cho không.
Ông cũng tiết lộ nhà nước theo dõi một thương gia nước ngoài về làm ăn rất lâu và rất sâu vì chính ông bị moi ra chuyện quan hệ với một thiếu nữ Trung Quốc ông quen đã lâu, giờ không còn nhớ mà họ vẫn để ý.
Nói đến các khu vực kinh doanh có triển vọng, theo nhận định của Tiến sĩ Alan thì đó là IT và nông nghiệp.
IT không cần hạ tầng cơ sở và thành phần trẻ có đam mê và ao ước làm được cái gì đó tốt đẹp cho thương hiệu Việt Nam thay vì cứ sao chép hay ăn cắp bản quyền.
Ông nói: “Phát triển IT vì quan chức không quản lý được , email không biết, software nói với mấy ông ấy như nói với vịt. Ít hạ tầng cơ sở nên mấy ông ấy không kiếm tiền được.”
IT khó kiểm soát vì tài khoản có thể đặt ngoài Việt Nam, tránh được bộ máy hành chánh chỉ đòi tiền. IT cần đột phá, sáng tạo, không cần gia truyền hay cổ truyền, tư duy luỹ tre làng bị gạt qua một bên. Đây là con đường mới cho giới trẻ, thời trang đối với Việt Nam nên họ rất hâm mộ.
Còn nông nghiệp, ngày nay không phải là sản xuất mà là tìm kiếm được thị trường. Nông phu tranh nhau đi chăn nuôi, trồng trọt nhưng tìm được thị trường rất khó vì nếu mình bán rẻ 10%, nước khác bán rẻ 20% hay 30% thì không thể cạnh tranh nổi.
Nhiều nước đã có sản xuất qui mô, công nghệ cao trong khi Việt Nam chưa đạt tới trình độ đó thì cũng khó cạnh tranh. Để tìm được thị trường cần có hàng đặc thù, trong khi nhà nước không giúp gì được vì chỉ lo “hành dân là chính”, vì thế giới trí thức có thể làm được việc này. Sau đó phải có trung gian tiếp thị, về mặt này người Việt ở hải ngoại đóng góp vai trò quan trọng.
Như người Tàu họ có chuỗi dây phân phối rất hữu hiệu. Nhưng nay với công nghệ thông tin, vai trò của người trung gian cũng đang giảm đi, thông tin về mặt hàng có thể tìm thấy trên mạng.
Đó là những lí do tại sao Tiến sĩ Alan Phan nhấn mạnh đến hai khu vực IT và nông nghiệp để Việt Nam có thể cạnh tranh và có những tiến bộ hơn về kinh tế.
Vì sao lại là hai khu vực đó? Theo ông, với dân số hơn 90 triệu, xã hội Việt Nam ngày nay gồm những nhóm sau:
1/ Những người của thế giới kỹ thuật số, họ sống xa lánh hoàn toàn với thế giới bên ngoài, biết được những thứ mà dân thường không biết, họ khao khát có tiến bộ cho đất nước. Số người trẻ này khoảng 6 đến 10 triệu.
2/ Nông dân từ 30 đến 40 triệu, chỉ lo kiếm sống và mong muốn đời sống được cải thiện một chút.
3/ Quan chức cán bộ, hơn 3 triệu. Đối với những người này, cứ trả lương cho họ nằm nhà là tốt nhất cho dân.
4/ Thành phần còn lại là những người không làm mà vẫn ăn, suốt ngày đi nhậu rồi về nhà đánh vợ, ù lì đến độ không còn chút hy vọng gì vào đám người này.
Vì thế tạo cơ hội phát triển cho hai thành phần IT và nông dân sẽ là những mũi nhọn đưa kinh tế Việt Nam đi lên.
Là người với nhiều kinh nghiệm làm ăn trên thương trường quốc tế, ông cũng đã đầu tư vào Việt Nam 2 triệu đô-la và mất hết. Những năm qua Tiến sĩ Alan Phan đã làm tham vấn hướng dẫn cho doanh nhân Việt biết cách làm ăn theo lối Mỹ.
Tuy nhiên, trong nhiều cuộc phỏng vấn ông đã nói bạo khiến quan chức nhà nước không vui: “Mình nhìn sao nói vậy nên có hơi sốc với nhiều người nên bây giờ nhà nước không cho tôi có những phát biểu trực tuyến nữa. VTV có phỏng vấn tôi 30 phút, sau khi cắt xén đi còn chừng 3 phút.”
Ông nói: “IT không cần nhiều cơ sở hạ tầng. Mấy ông quan chức rất khôn lanh, xây cầu đường, tượng đài họ chia nhau được. Mức độ trù phú của miếng bánh cắt riết mà cái bánh ngày càng nở ra. Người ta đang ăn ngon thế này thì sao đòi được. Được cái mấy ông chỉ đi vay, rồi ăn bớt ăn xén cái đó. Dân mình chịu nợ thôi. Mà tính quịt là muôn đời của người Việt Nam. 15 năm sau có nước nào đòi nợ thì chỉ còn cái quần cụt thì không có gì để đòi được nữa.”
Ông kể, một quan chức cao cấp nói thằng nào ngu cho vay thì mình cứ lấy tiền đó mình xài. Người dân họ không biết, cứ để cho dân uống bia tự do là thoải mái rồi, họ không thắc mắc gì.
Về những người từ Mỹ về đầu tư, nhắc đến ông David Dương, Tiến sĩ Alan Phan phát biểu: “Tôi nghe ông về xử lí rác thì tôi thích thú lắm. Mong ông xử lí rác ở Ba Đình thì ông lại xử lí rác ở đâu Đa Phước. Mong một ngày ông sẽ đưa cả nước vào đống rác của ông ấy”. Hội trường òa lên những tiếng cười.
Tiến sĩ Alan Phan du học Mỹ từ năm 1963, năm 1968 ông về nước và đã làm chủ nhiều công ti thời Việt Nam Cộng hòa với số công nhân lên đến 18 nghìn.
Năm 1975 ông ra nước ngoài, có lúc điều hành công ti trên sàn chứng khoán với tài sản 700 trăm triệu đô-la. Cuộc đời nhiều thăng trầm và nay đã 70 tuổi, với tài sản chắc cũng vài chục triệu đô-la. Nhưng nếu gặp ông ngoài đường, qua trang phục ông mặc hôm ra mắt sách, với áo vét quần jean thùng thình, không cà-vạt, đi giầy ba-ta, có ai biết ông là một doanh nhân triệu phú.
Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Tác giả Bùi Văn Phú dạy đại học cộng đồng và hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

Làm Quan Là Chuyện Của Gia Đình Chúng tôi…

“Cả nhà ta cùng nhau… lên quan” và nỗi lo “quốc tế”
Tác Giả: Bùi Hoàng Tám – Dân Trí – 18 Sep 2015
Nếu như với cách tuyển chọn “cả nhà ta cùng nhau lên quan” thì chẳng còn chỗ cho người dân và càng không có chỗ cho những những du học sinh, dù người đó có tài năng đến mấy. Nỗi lo “hậu duệ” có lẽ không còn là nỗi lo “quốc nội” mà đã mang tầm “quốc tế”! Cả họ tham gia bộ máy lãnh đạo huyện
Việc du học sinh “ra đi đầu không… ngoảnh lại” giờ đây không còn là chuyện hiếm. Nếu những năm trước đây, du học sinh Việt Nam được cử ra nước ngoài học tập, niềm khát khao lớn nhất và duy nhất là trở về phục vụ Tổ quốc, cống hiến cho quê hương thì giờ đây, khi có cơ hội là hiếm người quay trở lại chốn quê nhà.
Việc 12/13 thí sinh đoạt vòng nguyệt quế trong chương trình Đường lên đỉnh Olympia, chỉ có duy nhất một em trở về quê hương có thể coi như một điển hình. Tất nhiên, những người ở lại nước ngoài có 1001 lý do “chính đáng” để biện minh như môi trường làm việc, cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ, kinh phí để tài trợ cho các công trình khoa học… và cả môi trường văn hóa.
Khi ra nước ngoài, họ được tiếp thu tinh thần dân chủ trong khoa học, được phản biện thẳng thắn mà không bị chi phối bởi tư tưởng già làng, trưởng bản, sự cả nể và thứ bậc khoa bảng. Họ không (hoặc ít) vấp phải tư tưởng đố kị hẹp hòi, ganh tị, thậm chí vùi dập, trù úm…
Họ không vấp phải một hệ thống hành chính mà như dân gian gọi “hành là chính” và đặc biệt, họ không phải “gánh chịu” thứ “văn hóa quan hệ” mà ở đó, “trí tuệ” đứng cuối cùng trong bảng xếp hạng gồm 4 thang bậc: “Thứ nhất hậu duệ, thứ nhì quan hệ, thứ ba tiền tệ, thứ tư trí tuệ”.
Một câu chuyện vừa được báo Người Lao động nêu lên trong bài “Cả họ tham gia bộ máy lãnh đạo huyện” khiến không khỏi không suy nghĩ. Đó là ngay tại Thủ đô Hà Nội, trong một huyện có 13 phòng, ban thì hơn 10 người là anh em, họ hàng với lãnh đạo huyện.
Cụ thể, nhiều cán bộ công tác tại các vị trí quan trọng của UBND huyện có liên quan trực tiếp tới Bí thư Huyện ủy như Trưởng Phòng Tài chính – Kế hoạch, Phó chánh Văn phòng Huyện ủy, phó ban quản lý dự án, Phó Phòng Kinh tế, Trưởng Phòng Dân tộc học, Phó Ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, kế toán Phòng Quản lý đô thị… Một vị Phó Chủ tịch huyện khác có 2 con trai cũng làm ở Phòng Tài chính – Kế hoạch và Phòng Nội vụ của huyện.
Giải thích điều này, ông Trưởng Ban Tổ chức Huyện ủy (chú của vị Bí thư) cho biết, việc bổ nhiệm cán bộ trước tiên phải nằm trong quy hoạch, có phẩm chất tốt, có năng lực. Các vị trí công tác đều cần thiết và trải qua quá trình tuyển chọn, cân nhắc theo đúng quy trình…
Tất nhiên là “cần thiết”. Tất nhiên họ đều là những người có “phẩm chất tốt, có năng lực”. Cũng tất nhiên và rất tất nhiên là… “đúng qui trình”.
Thế nhưng chả lẽ một huyện có tới 177.000 dân nhưng chỉ con cháu lãnh đạo huyện mới có các “điều kiện” và “phẩm chất” này?
Và chả lẽ chốn công đường, gặp nhau là anh em, chú cháu, ông con, cô dì…?
Nếu như với cách tuyển chọn “cả nhà ta cùng nhau lên quan” thì chẳng còn chỗ cho người dân và càng không có chỗ cho những những du học sinh, dù người đó có tài năng đến mấy.
Nỗi lo “hậu duệ” có lẽ không còn là nỗi lo “quốc nội” mà đã mang tầm “quốc tế”!
BHT

Dân Sài Gòn lội nước “gánh nợ” 24.000 tỷ đồng cho các dự án thoát ngập

Suốt 10 năm qua, TP.HCM đã đầu tư hơn 24.000 tỷ đồng cho các dự án chống ngập của thành phố. Nhưng cho đến nay, bình quân mỗi năm ngư…

Sống Mới – Theo VNTB – 18 Sep 2015

Suốt 10 năm qua, TP.HCM đã đầu tư hơn 24.000 tỷ đồng cho các dự án chống ngập của thành phố. Nhưng cho đến nay, bình quân mỗi năm người dân và thành phố vẫn đang vừa lội nước, vừa phải “gánh nợ” khoảng 4.250 tỷ đồng để chi trả nợ gốc và lãi vay cho các dự án trên.
Theo báo cáo của UBND TP.HCM, chỉ trong 10 năm qua (từ năm 2005 đến nay), thành phố đã chi 24.300 tỷ đồng để thực hiện các dự án chống ngập như nạo vét, cải tạo kênh rạch, xây dựng hệ thống thoát nước. Trong đó vốn ngân sách khoảng 9.000 tỷ đồng, vốn ODA khoảng 15.000 tỷ đồng.
Thế nhưng, cho đến nay cứ khi nào gặp mưa là thành phố lại “ngập chân” trong nước, nhiều tuyến đường bị nước “tấn công” cao tới nửa mét, gây ảnh hưởng nhiều tới cuộc sống người dân. Theo trung tâm điều hành Chương trình chống ngập cho biết, TP.HCM hiện còn 68 điểm ngập úng do mưa. Các điểm ngập úng giống như chiếc “túi bục”, cứ bịt chỗ nọ lại “tức nước” bung ra chỗ khác.
Trong khi đó, chính UBND TP cũng đánh giá là các dự án chống ngập trên cũng chỉ mới thực hiện được khoảng 1,2% khối lượng công việc theo quy hoạch nên hiệu quả chưa như mong muốn. Như vậy, tính đến hết năm 2014, tổng dư nợ vay của TP. HCM đã hơn 25.100 tỷ đồng. Dự kiến trong 5 năm tới, bình quân mỗi năm thành phố phải có khoảng 4.250 tỷ đồng để chi trả nợ gốc và lãi vay các dự án trên địa bàn.
Để thực hiện các dự án chống ngập cho khu vực rộng 550 km2 (gồm lưu vực trung tâm TP, phía Bắc, phía Tây, một phần Đông Bắc và Đông Nam), trong giai đoạn 2016-2020, dự tính TP.HCM cần huy động khoảng 66.820 tỉ đồng. Để có vốn thực hiện các dự án này, TP.HCM đưa ra phương án sẽ đầu tư 7.500 tỷ đồng từ ngân sách; vốn xã hội hóa là 15.885 tỷ đồng. Số còn lại, TP.HCM kiến nghị Thủ tướng hỗ trợ bằng nguồn vốn ODA và vay từ NHNN.
Tuy UBND TP cũng đã nêu ra những lý do về thời tiết, biến đổi khí hậu, rồi dân số tăng quá nhanh lên 10 triệu người, trong khi cơ sở hạ tầng chỉ đáp ứng cho khoảng… 2 triệu người, thì với số tiền đã bỏ ra cùng thời gian suốt 10 năm qua, mọi vấn đề ngập úng vẫn đang “dậm chân” dưới nước. Vậy hàng chục nghìn tỷ đã đi đâu, chẳng nhẽ chỉ “xuôi theo dòng” nước ngập rồi nhận trách nhiệm quản lý yếu kém là xong?
THEO SỐNG MỚI

Mưa Trên Màu Cờ Đỏ…

Mưa ngập lòng dân
Tác Giả: Cao Huy Huân – VOA Blog – 18 Sep 2015

Mấy hôm nay trời mưa suốt đêm ngày, không ít người muốn phát điên vì mưa to kèm theo hàng tá thứ hệ luỵ. Chiều ngày 15-9, cơn mưa suốt 3 tiếng đồng hồ đã “nhấn chìm” thành phố được mệnh danh là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam. Mưa lớn quá, lòng dân lại bộn bề.
Ngập chìm tất cả
Bạn bè sống lâu năm ở Sài Gòn viết ngập tràn trên mạng xã hội Facebook, đại khái phàn nàn “sống biết bao nhiêu năm ở Sài Thành, chẳng khi nào nước mưa ngập đến kinh hoàng như thế”. Báo chí đua nhau dùng những tính từ, trạng từ mô tả một cách sống động nhất về Sài Gòn sau một cơn mưa kéo dài vốn rất bình thường trong suốt nhiều năm qua. Ngay cả những tờ báo chính thống nhất ở Việt Nam cũng mạnh dạng giật tít “ngập như sông”, “ngập chưa từng thấy”, dân “bơi” về nhà, …để nói về đất Sài Thành sau một cơn mưa.

Lướt qua các tờ báo với những hình ảnh không thể ngờ, người ta cứ tưởng Sài Gòn là đồng bằng sông Cửu Long mùa nước lớn. Nước từ đâu đổ về, kéo theo rác rưởi, nước cống đen ngòm, hôi hám, nhấn chìm biết bao mệnh đời ngược xuôi vì cơm áo gạo tiền. Công nhân tan ca vội chạy về ăn cơm kịp giờ tăng ca tối, nước ngập, đành ngồi lại tìm đỡ gói mì tôm. Công nhân viên chức giờ tan sở vội chạy về đón con, rồi để con trên xe mà gồng, mà gánh, mà đẩy qua những đoạn đường chẳng còn biết gập ghềnh, nhấp nhô hay bằng phẳng.
Mấy bác xe ôm, thậm chí taxi cũng bó tay trước dòng nước cao cả mét, tặc lưỡi chịu đói hôm nay vì chẳng ma nào dại dột chạy ra đường mà gọi xe ôm hay réo taxi. Mà nhiều khi khách có nhu cầu, chẳng ai dám liều mà lái, không khéo đẩy xe cho khách, lại phải tốn tiền sửa xe. Ngay cả những cô chú làm công tác dọn đường cũng lắc đầu ngao ngán vì rác khắp nơi trôi nổi bồng bềnh, chẳng biết đêm nay mấy giờ nước rút, và rồi sẽ phải mất bao lâu để quét dọn những con đường đầy rác và chất thải đến mức chỉ nhìn đã phát nổi da gà.
Hai bên các tuyến đường “ngập cao điểm”, đã thôi không màn tát nước ra khỏi nhà, vì nước cao quá đầu gối, có tát cũng không thể nào hết được. Dân ngao ngán, buồn bực, mệt nhọc và buông xuôi, để mặc cho buổi cơm chiều đã nguội lạnh theo lòng người nổi trôi trên từng con nước. Nhà đã chật hẹp, nước lại ngập tràn lan, đêm nay sẽ là một đêm dài vô tận.
Nói vậy không có nghĩa là ai cũng khổ. Những toà biệt thự ngoại ô, những căn hộ chung cư đắt tiền, những ngôi nhà nằm trên các tuyến đường cao và đẹp nhất Sài Gòn, vốn là nơi cư ngụ của những người giàu, có cả quan chức, vẫn hiên ngang giữa mưa gió bão bùng. Lướt qua vài tờ báo mạng, nghe vài cú điện thoại, có tiếng tắc lưỡi chẳng biết vì cảm thông hay đang lo lắng lòng dân phẫn nộ vì một Sài Gòn đáng sống. Mà dù có thế nào đi chăng nữa thì có mấy quan chức phải lội bùn lội đất, dắt xe giữa những con phố nước ngập quá hông người như vô số người dân. Nước chảy siết, đục ngầu, lạnh lẽo còn mồ hôi thì nóng đến khó chịu, thỉnh thoảng khoé mắt cay cay vì trễ giờ đón con, vì bất lực trước chiếc xe đã “chết”, vì đuối sức mà không thể gục ngã, và vì vô số nỗi lo vẫn đang bộn bề, bồng bềnh theo từng con nước.
Trách nhiệm hay không trách nhiệm?
Giữa lúc Sài Gòn chìm trong biển nước, báo chí rầm rộ đưa tin, thì dư luận vẫn đang tranh cãi trách nhiệm thuộc về ai. Có người khẳng định “lỗi tại trời”. Họ cho rằng những cơn mưa liên tiếp đã đong đầy lòng Sài Gòn, nên chuyện ngập khắp nơi vẫn rất đỗi bình thường. Họ cho rằng nước ngập cũng như thể “trời kêu ai nấy dạ”, chẳng can hệ đến nhà quản lý.
Khi dự báo thời tiết vẫn chưa có những khẳng định về “sự bất thường” của những cơn mưa, thì việc mưa dài, mưa dai vẫn là chuyện “như cơm bữa” mỗi năm tại Sài Gòn. Thế nên, nếu đổ lỗi cho trời thì cũng chưa “công bằng” với “thần sấm, thần mưa”. Phản bác ý kiến “thiên tai”, có người cho rằng tại các thành phố lớn khác trên thế giới, mưa cũng không ít, tại sao không ngập? Không lẽ ông trời chỉ “làm khó” Việt Nam thôi? Vì lẽ đó, trách nhiệm phải quy kết về con người, mà chính danh là các nhà quản lý.
Nhiều người đưa ra nghi vấn các công trình đang được thi công gần đây, như hàng loạt các dự án khu chung cư, căn hộ cao cấp, các công trình quy hoạch hạ tầng tại thành phố đang bít dần các đường thoát nước của cả Sài Gòn. Chuyện này không khó để đặt làm giả thuyết, và chừng nào chưa có các báo cáo tác động môi trường của các cơ sở hạ tầng, công trình xây dựng quy hoạch,… một cách thuyết phục thì nghi vấn này vẫn cho phép người dân đặt dấu chấm hỏi lên trách nhiệm của chính quyền và các ngành chức năng liên quan.
Trong khi đó, nhiều người đã bắt đầu nhắc lại vô số các dự án chống ngập, thoát nước,…với chi phí lên đến tiền tỷ trong suốt những năm qua. Hiệu quả từ các dự án nghìn tỷ chống ngập ở đâu khi Sài Gòn ngày một chìm trong biển nước? Nếu càng đổ tiền, Sài Gòn càng ngập thế này thì trách nhiệm thuộc về nhà thi công dự án, người lập kế hoạch dự án, hay người giám sát và thẩm định các dự án chống ngập? Dù là ai, thì đó chắc chắn phải có liên hệ đến trách nhiệm của những người làm công tác quản lý đô thị hạ tầng.
Vẫn có nhiều người đơn giản hơn, ngắn gọn hơn khi bàn về “trách nhiệm vụ ngập thuộc về ai?” Họ nói rằng việc khiến dân lao đao vì ngập nước, không thể ai khác chịu trách nhiệm, chính là người làm quản lý, dù đó là thiên tai ngoài ý muốn. Hãy nhìn sang các quốc gia phát triển. Bộ trưởng bộ nông nghiệp từ chức vì trời nắng, dân mất mùa hàng loạt mà Bộ không giải quyết hay khắc phục được gì. Hay như chuyện thủ tướng từ chức vì một người làm trong gia đình vi phạm luật (dù không nặng). Hàng tá chuyện từ chức cho thấy trách nhiệm không chỉ dừng ở chuyện quan chức gây tổn thương cho người dân, mà còn ở chuyện không thể mang lại những điều tốt đẹp thật sự cho đời sống người dân. Chuyện ngập nước cũng vậy, dù có “thiên tai”, nhưng làm quan mà không dự trù, không giải quyết được, để nạn ngập nước, kẹt xe kéo dài nhiều năm và ngày càng trầm trọng, thì làm quan để làm gì?
Cao Huy Huân

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Bắc Kinh phật lòng khi tỷ phú giàu nhất châu Á rút gần hết vốn khỏi Trung Quốc

Tỷ phú Lý Gia Thành, người đàn ông giàu nhất châu Á từ 4/2012 – 12/2014 theo Bloombelg, đã rút hết vốn khỏi Trung Quốc. Điều này khiến chính quyền Bắc Kinh phật lòng, bằng việc truyền thông nhà nước đăng tải những bài xã luận phê bình gay gắt, thậm chí còn kèm đe dọa.
Ông Lý Gia Thành, tỷ phú giàu nhất châu Á, trên thực tế đã bắt đầu thoái vốn khỏi Trung Quốc từ năm 2011. Nhà đầu tư nhạy bén này từ năm 2011 đã dần dần bán số tài sản trị giá 16 tỷ USD mình sở hữu ở Trung Quốc để chuyển tiền sang châu Âu, nơi được tỷ phú họ Lý đánh giá là triển vọng hơn. Thương vụ lớn nhất của ông là đợt giải ngân 25% lượng cổ phần ở chuỗi kinh doanh dược phẩm A.S. Watson & Co với giá 5,7 tỷ USD. Còn khoản đầu tư lớn nhất của nhà tỷ phú họ Lý là vào hãng viễn thông lớn thứ hai nước Anh O2 trị giá 15,8 tỷ USD.
Theo đánh giá của Forbes, tỷ phú Lý Gia Thành với số tài sản tầm 24,8 tỷ USD, đã thanh khoản thành công số bất động sản trị giá hàng tỷ USD ở Trung Quốc vào đúng thời điểm, trước khi bong bóng bất động sản nước này thực sự vỡ tan vào năm 2014.
Ông đã đưa ra những quyết định sáng suốt và kịp thời khi dự đoán kinh tế Trung Quốc sẽ truội dần và không còn là nơi sản sinh lợi nhuận cho các nhà đầu tư bắt đầu từ năm 2015. Tỷ phú họ Lý đã cắt tỉa thành công sự ràng buộc của mình vào lợi nhuận từ thị trường Trung Quốc xuống còn 30% hoạt động kinh doanh, đồng thời tăng thị phần hoạt động tại châu Âu lên 42%.
Chính vì thế mà chính quyền Trung Quốc cảm thấy không hài lòng. Vào 12/9, viện nghiên cứu Liêu Vương có mối quan hệ mật thiết với truyền thông nhà nước Tân Hoa xã đã đăng tải một bài xã luận với tiêu đề: “Không cho phép Lý Gia Thành thoát tội!”
Trong bài báo, tác giả Lạc Thiên Hạo viết: “Chúng ta đều biết rõ, tại Trung Quốc, ngành bất động sản và bộ máy quyền lực gắn kết chặt chẽ. Không có hậu thuẫn về chính trị, không thể làm kinh doanh bất động sản ở Trung Quốc. Vì vậy tôi e ngại rằng một nhà đầu tư rút vốn khỏi đây chắc chắn chưa suy nghĩ thấu đáo và khôn ngoan”.
“Rõ ràng là những nhân vật tầm cỡ như Lý Gia Thành còn cảm thấy họ mất lợi thế so với những tập đoàn con ông cháu cha ở đại lục”, chuyên gia tài chính kiêm thành viên nòng cốt của phong trào dân chủ tại Hồng Kông Edward Chin bình luận.
Theo ông Chin, việc Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày càng gây ảnh hưởng đến Hồng Kông cũng khiến các doanh nhân e ngại và thoái vốn khỏi trung tâm tài chính châu Á sầm uất một thời để chuyển sang Singapore hay đảo Cayman nhờ vào hệ thống pháp luật an toàn và đảm bảo hơn, đặc biệt đối với các doanh nghiệp hải ngoại. Đó có thể là lý do chính khiến ông Lý thoái hết vốn ra khỏi Trung Quốc, thậm chí cả Hồng Kông.
Ông Lý trên thực tế đã sáp nhập hai tập đoàn mình kiểm soát là Hutchison Whampoa Ltd. và Cheung Kong Holdings Ltd. thành CK Hutchison Holdings Ltd. rồi nhanh chóng đăng ký kinh doanh tại đảo Cayman.
Động thái mới nhất trong chiến lược đầu tư sáng suốt của nhà tỷ phú này là sáp nhập công ty điện lực H.K với hãng hạ tầng cơ sở Cheung Kong Holdings-CKI và hủy niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán Hồng Kông.
Do CKI là một phần của CKI Hutchison, công ty đương nhiên theo luật pháp đảo Cayman trong thời gian tới.