Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Cảm ơn đảng và nhà nước

Dân trí mình đúng thấp thật rồi, cảm ơn đảng và nhà nước!
Theo Triết Học Đường Phố – 27/06/2015 –
Câu nói của ông đại biểu: “Dân trí nước ta còn thấp.” Bị người dân, chủ yếu dân mạng phản đối ầm ĩ. Còn lại đa phần số đông, những người dân, người lao động không bao giờ online thì chẳng biết, chẳng bận tâm. Mà cho dù có biết đi chăng nữa thì cũng kệ vì chả thấy liên quan gì tới mình. Đấy, mình bị cái đứa mình nuôi nó chửi thẳng mặt là ngu mà cũng không biết, không quan tâm, thì thử hỏi mình có ngu thật hay không?

Chưa kể,
Dân trí cao cỡ nào khi mà ngoại trừ những người quan tâm chính trị ra thì còn mấy ai biết cụ thể công việc, trách nhiệm của những chức danh như Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước, Hội Đồng Nhân Dân, Ủy Ban Nhân Dân, Ủy ban mặt trận Tổ Quốc… là cái gì? Họ làm những công việc gì? Trách nhiệm của họ đến đâu? Tại sao ông Đại Tướng chẳng bao giờ thấy mặt mũi trên các thông tin chiến trận ngoại trừ có mặt ở một vài cuộc họp vớ vẩn với ngoại bang? Tại sao những vụ doanh nghiệp Nhà Nước thua lỗ động trời không một ai phải đứng ra chịu trách nhiệm hay nói một lời xin lỗi?
Dân mù tịt không biết đâu mà lần, thậm chí cũng là không quan tâm chút nào hết. Thế thì hỏi có là ngu không? Ngu vì không được dạy hay ngu vì không biết tự tìm hiểu hay ngu vì tìm hiểu mãi cũng không ra… Dù cho là ngu vì bất cứ lý do gì thì vẫn là ngu. Ngu thì là dân trí thấp. Đúng quá rồi còn gì.
Dân trí có cao không khi đa phần người dân không hề muốn nghe muốn nói đến chuyện chính trị vì cho rằng nó không liên quan tới cuộc sống của mình. Không hề biết rằng chuyện chính trị chính là quyền của mình để lập ra một chính phủ có trách nhiệm chăm lo cho đời sống của mình.
Chính trị chính là nội dung giáo dục con cái mình nên người. Chính trị chính là niềm tự hào dân tộc của dân mình khi bước ra khỏi đất nước. Chính trị chính là liều thuốc con mình tiêm vào người, là con đường mình đi, là hàng hóa mình tiêu thụ, là không khí mình hít thở, là sức khỏe của chính mình và gia đình mình?
Tách rời chính trị khỏi cuộc sống và trách nhiệm của bản thân trong khi nó ảnh hưởng sâu sắc và gắn liền mật thiết đến nhau. Cho rằng nó thì không liên quan đến mình, mình thì không làm gì được nó, thì thử hỏi có ngu không, có dân trí thấp không?
Dân trí cao cỡ nào mà để cho “nước lạ” nó ngang nhiên chiếm đảo chiếm đất xây dựng sân bay, công trình mà vẫn im lặng không nói một lời.
Dân trí cao chắc chắn sẽ phải biết biểu tình và giữ im lặng khi bị bắt là hai trong những quyền cơ bản nhất của con người trên bất cứ vùng đất văn minh nào.
Dân trí cao thì đâu thể im lặng đi trên những cây cầu mới xây đã sập, bê tông cốt tre, đường cao tốc sóng trâu, công trình trăm ngàn tỷ vừa khánh thành đã hư hỏng, đập nước bờ kè mưa một trận đã sụt lún…
Dân trí cao thì nỡ nào mà để người dân mình tự lừa đảo người mình, tự đầu độc dân mình, tự làm hại đồng bào mình. Giúp người ta tiêu thụ hóa chất độc hại, nông sản độc hại còn nông sản của dân mình thì phải đổ bỏ đi vì thừa mứa và rẻ mạt.
Dân trí cao thì sao để chính quyền tự ý lấy thuế xây cái miếu vài trăm tỷ thờ một ông học giả ngoại bang rồi còn trơ trẽn tuyên bố xây thế thôi chứ chưa quyết định thờ ai. Hẳn là chính quyền dư nhiều tiền lắm. Nhưng dư tiền sao lại phải đi vay Trung Quốc tiền xây cái đường tàu cao tốc để rồi bị họ chèn ép. Dư tiền sao lại phải đi vay viện trợ bảo vệ môi trường trong khi tiền phí bảo vệ môi trường thì tận thu từ trong giá xăng giá điện?
Dân trí cao thì sao mà có mấy chuyện hy hữu cười ra nước mắt rằng cuộc sống của ta là hạnh phúc nhất, yên bình nhất.
Dân trí cao làm sao chịu nổi khi chính quyền làm được một việc nhỏ thì bắt dân mang ơn, tạc tượng. Còn khi chính quyền làm sai những việc tày đình thì không cần xin lỗi, từ chức, chịu trách nhiệm, chỉ cần rút kinh nghiệm là xong?
Dân trí cao thì hẳn đã chẳng phải xấu hổ khi dân ta ra nước ngoài mang bao tiếng xấu, trộm cắp, mại dâm, vô ý thức vô văn hóa.
Nếu dân trí mà có cao thì phụ nữ Việt đã chẳng phải lũ lượt ra nước ngoài bán dâm, bị mua làm vợ, bị hành hạ, bị xúc phạm. Người dân Việt đã chẳng phải qua Cam, qua Lào làm giúp việc, lao động nặng nhọc, chui nhủi.
Nếu dân trí mà không thấp thì hàng trăm ngàn sinh viên thạc sĩ tiến sĩ ra trường hẳn đã phải có công ăn việc làm, có những đồ án, công trình giúp ích cho cộng đồng chứ không xếp hàng dài thất nghiệp ăn bám gia đình xã hội.
Nếu dân trí cao thì hẳn phải biết đất nước đã đi thụt lùi thế nào sau những năm tháng “giải phóng”. Từ một nước tự sản xuất được xe hơi nội địa thành một nước không sản xuất được con ốc con vít. Từ một nước được miễn phí học hành, y tế biến thành có nhiều tiền cũng chưa chắc có được môi trường học hành, y tế đủ tốt. Từ một nước được bao nước thèm muốn, ước ao trở thành một nước bị xem thường.
Nếu dân trí cao hẳn đã phải nhận ra những mâu thuẫn, nhìn thấy những sự thật đang được giấu kín thay vì nói gì biết đấy, kêu gì làm đấy.
Nếu dân trí cao liệu có để cho các ngài lãnh đạo xem như trò hề, muốn làm gì thì làm, muốn chặt cây thì chặt, hứa một đằng làm một nẻo, muốn thay cây gì thì thay, muốn bán đất cho ai, bán tài nguyên cho ai, cho ai thuê đất bao lâu thì cho.
Nếu dân trí cao hẳn không thể để mặc cho những người được mình ủy quyền lộng hành tác oai tác quái. Sâu mọt khắp nơi từ trung ương đến địa phương, từ trong ra ngoài, từ lớn đến bé, từ xưa đến nay mà không một động thái ngăn cản.
Nếu dân trí cao người ta hẳn sẽ phải thích đọc sách hơn xem truyền hình, thích nghiên cứu tìm hiểu hơn là đọc tin tức giải trí. Nhưng xem kìa, Việt Nam là một trong những nước đọc sách ít nhất thế giới.
Nếu dân trí cao thì hẳn sẽ không cười xòa khi đọc tin tức “Cá mập cắn đứt cáp” “Nhím gà dê hỗ trợ nông dân đi lạc vào nhà bí thư, chủ tịch”.
Nếu dân trí cao hẳn người dân phải biết hợp sức lại, biết cất tiếng nói của mình, biết liên kết với nhau tạo nên sức mạnh.
Và quan trọng nhất, nếu dân trí cao thì người dân chắc chắn phải biết chuyện gì đang xảy ra với đất nước mình, với dân tộc mình.
Đấy, xin mời các bạn xem lại, tự vấn lại bản thân một chút. Rằng so với một vài biểu hiện của dân trí cao như trên, thì tự xem dân trí của mình có cao không? Nếu có, thì xem tiếp, xung quanh mình có bao nhiêu người có dân trí cao giống mình trên tổng số người mình quen biết và tiếp xúc hàng ngày? Còn nếu không, thì thôi, ông đại biểu nói đúng, dân trí mình thấp thật, nói thẳng tuột, mình thật là ngu, dân mình cũng ngu, rất ngu, đấy là sự thật không còn nghi ngờ và bàn cãi gì nữa.
Ấy thế thì, thay vì phản bác và chê trách ông đại biểu, người dám nói dân trí ta thấp, thì có lẽ, nên tuyên dương ông. Vì dám nói ra sự thật, sự thật mà các ngài lãnh đạo đều biết nhưng chưa ai có can đảm nói. Nhưng mà cũng không được, vì ông đại biểu này khi bị phản đối đã lại kịp có bài thanh minh rằng ông ta không nói ra điều đó. Ý ông không phải vậy, dân hiểu lầm ý ông rồi. Đấy, lại một lần nữa, dân trí thật thấp, thật ngu, lãnh đạo phát biểu gì người dân cũng hiểu lầm hết.
Từ “dân trí thấp” “quyền im lặng và biểu tình là nguy hiểm” “xu thế ghét Trung Quốc là nguy hiểm cho dân tộc” “nước ta còn dân chủ gấp vạn lần các nước tư bản” “đa số người dân ủng hộ chặt cây” “chưa quyết xem thờ ai trong miếu” “chúng ta phải cố gắng xây dựng quân đội mạnh như Triều Tiên” “dân sai thì dân chịu chứ kỷ luật ai”…
Đấy, câu phát ngôn nào cũng bị người dân hiểu lầm. Thế thì giờ sao? Lãnh đạo phải coi lại cách phát biểu sao cho dân hiểu. Hay người dân phải cố mà hiểu cho đúng ý lãnh đạo? Ôi tôi cũng không biết nữa, vì như đã nói, dân trí tôi thấp lắm. Sao hiểu được ý mấy ông.
Nhưng mà dù dân trí tôi thấp đi chăng nữa, thì có một điều tôi dám cam đoan, rằng bất kể chuyện gì xảy ra bất kể kết quả thế nào, cũng là nhờ ơn Đảng và Nhà Nước. Nên dù cho cả nước có bị dân trí thấp, tôi cũng xin thay mặt toàn dân, cảm ơn Đảng và Nhà Nước!

Câu Chuyện của Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh

Chàng lao công gốc Việt trở thành khoa học gia không gian vũ trụ của Mỹ
Trà Mi – VOA – 26 June 2015
Một thanh niên làm lao công cho các cửa hàng trong những khu mua sắm khi sang Mỹ tỵ nạn trở thành một nhà khoa học không gian vũ trụ của Trung tâm Thí nghiệm Nghiên cứu Không quân Hoa Kỳ sau 25 năm miệt mài vượt khó vươn lên.
Đó là câu chuyện thành công của Tiến sĩ Phạm Đăng Khánh, cháu nội đích tôn của sử gia nổi tiếng Phạm Văn Sơn và là cháu ngoại của nhà thơ lừng danh một thời Bàng Bá Lân.
Đến Mỹ năm 1991 theo diện HO vì bố mẹ là cựu tù nhân chính trị từng làm việc cho chính phủ Mỹ trước năm 1975, chàng thanh niên 19 tuổi quyết tâm theo đuổi ‘giấc mơ Mỹ’, phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn.
Ý chí kiên trì và những nỗ lực không ngừng đã mang về cho anh những thành quả đáng nể. Trong số này phải kể tới hàng trăm bài viết nghiên cứu khoa học cùng hàng chục giải thưởng của Không quân Hoa Kỳ như Huy chương Không quân về Thành tựu dân sự, Giải Kỹ sư Không quân Xuất sắc, Bài nghiên cứu Xuất sắc nhất năm. Anh cũng là thành viên phê bình trong các ủy ban luận án Tiến sĩ và Thạc sĩ tại các trường đại học Mỹ, cố vấn nghiên cứu cho các cơ quan khoa học danh tiếng của Mỹ như Cơ quan Phòng thủ Tên lửa, Cơ quan Dự án Nghiên cứu Quốc phòng cao cấp, Hội Kỹ thuật Khoa học Quốc phòng Hoa Kỳ..v..v..
Tạp chí Thanh niên VOA hôm nay mời các bạn cùng gặp gỡ tấm gương thành công Phạm Đăng Khánh, niềm tự hào của người Việt hải ngoại.
TS. Khánh: Khi tôi đến Mỹ, mọi sự đều bỡ ngỡ về văn hóa, lịch sử, phong tục-tập quán. Khó khăn lớn nhất đối với tôi và cả gia đình là không có đủ khả năng đọc hiểu và nói tiếng Anh. Bản thân tôi phải bắt đầu lại con đường học vấn từ lớp 10. Các khó khăn về kinh tế người tỵ nạn nào cũng phải đương đầu, nhưng mình cũng phải cố gắng. Tôi cùng với em trai mỗi sáng sớm phải đi làm thêm. Sáng sớm, chúng tôi đi dọn dẹp, lau chùi các cửa hàng to trong các khu thương mại lớn. Mình làm 2-3 tiếng/ngày, và đi học cho tới 10 giờ đêm. Lên thạc sĩ, mình được học bổng. Mình biết tiết kiệm nên tiền học bổng cũng đủ trang trải các chi phí như đi lại, xe cộ, bảo hiểm.
Trà Mi: Với những cái giá đã trả để có được vị trí hôm nay, nhìn lại, anh nghiệm ra cho mình điều gì?
TS. Khánh: Tôi nghĩ mình lúc nào cũng nên luôn làm việc chăm chỉ, không được hài lòng với những gì đạt được, và con đường đó lúc nào cũng đòi hỏi những hy sinh. Chẳng hạn như vì công việc, thời gian của tôi dành cho gia đình đã bị ít đi.
Trà Mi: Tư chất ham học, nỗ lực, và sự may mắn chiếm tỷ lệ thế nào trong sự thành công của anh?
TS. Khánh: Tinh thần học hỏi và sự nỗ lực, hai tố chất này cộng lại chiếm 90%. Còn lại là do sự may mắn hay do cơ hội chính mình tự tạo nên. Những người tỵ nạn như tôi khi gặp khó khăn mà không biết cách giải quyết vấn đề và đương đầu với khó khăn một cách tích cực thì rất khó khăn. Làm sao để vượt qua và tìm phương hướng tùy thuộc vào bản thân mỗi người kèm theo các yếu tố tác động xung quanh từ gia đình.
Trà Mi: Nếu đặt tất cả những bí quyết thành công anh vừa kể vào môi trường ở Việt Nam, anh nghĩ đích đến của mình có giống ngày hôm nay không?
TS. Khánh: Chị hỏi một câu rất sát thực tế. Những tố chất về nỗ lực, ham học, sự giúp đỡ của những người xung quanh thì ở trong hay ngoài nước mình đều có được, nhưng môi trường nuôi nấng nghiên cứu và các chính sách hay những khuyến khích từ các cơ quan, hội đồng khoa học rất quan trọng. Có thể trong nước đang dần dần có môi trường này nhiều hơn so với những năm trước, nhưng những điều kiện đó không thể nào bằng được bên Mỹ này.
Trà Mi: Có nhiều con đường để thành công, vì sao anh chọn theo đuổi con đường khoa học đầy cam go đòi hỏi rất nhiều kỳ công và chất xám để tiến thân?
TS. Khánh: Lĩnh vực khoa học luôn năng động, thay đổi, biến động nên tôi muốn đóng góp một phần nào đó cho hướng đi này.
Trà Mi: Thành tựu hôm nay đạt được trên đất Mỹ có ý nghĩa thế nào đối với anh, một người tỵ nạn gốc Việt?
TS. Khánh: Tôi vẫn luôn tự hào mình là người Việt Nam và đề ra mục tiêu dài hạn là hỗ trợ các doanh nghiệp nghiên cứu sáng tạo do người Việt đứng đầu hoặc các chuyên gia người Việt ở đây.
Trà Mi: Vì sao mục tiêu đó chỉ mới giới hạn ở cộng đồng người Việt ở Mỹ? Anh có bao giờ nghĩ tới mình có thể làm gì để đóng góp, giúp đỡ nơi chôn nhau cắt rốn của mình chăng?
TS. Khánh: Câu hỏi này tương đối rất khó. Bất kỳ thể chế nào muốn thu hút nhân tài về giúp nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu đất nước trân trọng sự phát triển về khoa học, thúc đẩy và động viên tinh thần nghiên cứu khoa học thì ai cũng muốn về giúp đỡ cả. Hiện nay, tôi biết vài nhân tài người Việt bên này đang hợp tác với các cơ quan hữu trách ở Việt Nam để nâng cấp giáo dục đại học. Nhân tài người Việt ở nước ngoài đang dần dần trở về hợp tác và giúp đỡ phát triển kinh tế trong nước. Tôi nghĩ nếu môi trường và các điều kiện trong nước thích hợp với các nhân tài bên này và tạo điều kiện cho họ phát triển tài năng và lương bổng gần gần với bên này thì dần dần họ sẽ trở về thôi.
Trà Mi: Theo ý kiến của Tiến sĩ, học vấn cao và vị trí lãnh đạo có phải là thước đo chính xác về sự thành công của người trẻ hay không?
TS. Khánh: Tôi nghĩ học vấn vẫn là một công cụ nhiều tiềm năng. Về tinh thần lãnh đạo, đối với giới trẻ, nếu mình có vị trí cao trong một cơ quan hay tổ chức nào đó, mình nên truyền đạt tinh thần đóng góp tích cực và tinh thần tự nguyện. Tinh thần lãnh đạo và học vấn, hai điều này phải luôn đi đôi với nhau.
Trà Mi: Một lời khuyên cho các bạn trẻ ngưỡng mộ thành quả anh đạt được, anh sẽ nói gì?
TS. Khánh: Tôi muốn gửi đến các bạn trẻ một lời khuyên đơn giản thôi, đó là phải luôn luôn làm việc tích cực, ham học và hướng tới. Đây là những bí quyết đã giúp tôi thành công. Và mình cũng không nên quên nguồn gốc gia đình của mình và bản thân mình là ai.
Trà Mi: Xin cảm ơn Tiến sĩ Khánh rất nhiều về thời gian dành cho cuộc trao đổi hôm nay.

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

Một Chút Hương Xưa…Xe gắn máy trước 1975

Nguồn : Vững Đại Phát

Tác giả: Phi Long – 21 May 2015
Có thể nói xe đạp và xe gắn máy là phương tiện di chuyển chiếm đa số tại miền Nam trước 1975 và cho đến nay, xe gắn máy vẫn là phương tiện di chuyển được nhiều người sử dụng nhất . Bài này xin nhắc lại một số xe gắn máy đã hiện diện tại miền Nam trước 1975.
Nói đến xe gắn máy thì chắc là mọi người sống tại miền Nam trước đây đều biết đến xe Mobilette. Vì Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên hãng Motobécane của Pháp, chế tạo ra chiếc Mobylette, đương nhiên là hiện diện trên thị trường Việt Nam. Nhưng nhiều người biết đến tên Mobylette hơn là Motobécane. Xe Mobylette ở Việt Nam có loại Mobylette vàng và Mobylette xanh.
Cả hai đều dùng động cơ 49,99cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái, nhưng Mobylette vàng thì nhỏ hơn, chỉ có ống nhún phía trước, còn Mobylette xanh thì lớn, nặng hơn có ống nhún ở cả bánh trước lẫn bánh sau nên đi êm hơn và giá cao hơn .
Xe Mobilette xem chừng ra không thay đổi nhiều lắm qua nhiều năm. Xe Mobylette trong thập niên 1950 thân là những ống tuýp hàn lại. Qua thập niên 1960 thì thân làm bằng tôn ép. Màu sắc cũng ít thay đổi. Có lúc Mobylette vàng đổi thành Mobylette xám. Xe Mobylette được chế tạo để dễ sử dụng.
Xe không cần sang số mà dùng embrayage automatique, vặn ga lớn thì xe chạy nhanh, vặn ga nhỏ lại thì xe chạy chậm và đứng lại. Khi muốn nổ máy thì chỉ cần đạp cho nhanh là xe nổ máy. Đạp hoài không nổ thì chỉ gần gạt môt cái chốt ở đĩa có dây couroie ăn vào động cơ để tách rời động cơ và bánh sau thì có thể đạp bộ về nhà.
Mobylette vàng 1956
Mobilette xám, 1967
Nếu có khi nào trong lúc bạn đạp xe đạp rồi nghĩ bụng sao không gắn một cái động cơ nhỏ lên xe đạp để khỏi phải đạp thì ý nghĩ đó đã có người nghĩ đến và chế tạo ra chiếc Vélosolex. Xe Vélosolex là một chiếc xe đạp có gắn động cơ lên bánh trước. Động cơ này làm lăn một cục đá tròn phía dưới .
Khi người lái kéo cái cần trước mặt thì cục đá dở hổng lên khỏi bánh trước và có thể đạp như xe đạp. Khi đạp đến một tốc độ nào đó, hạ cần xuống thì tốc độ của xe làm cho động cơ nổ máy và động cơ kéo chiếc xe đi bằng bánh trước. Khi xe đã chạy ngon trớn thì người lái có thể rút chân lên miếng để chân nhỏ ở giữa xe mà ngồi một cách thoải mái. Từ một ý kiến rất giản dị phát xuất giữa thế kỷ 20, xe Vélosolex vẫn còn tồn tại qua đến đầu thế kỷ 21.
Vì cách sử dụng giản dị, trọng lượng nhẹ nhàng nên các xe Mobylette, Vélosolex thông dụng trong giới sinh viên, học sinh và phái nữ.
Ở một hạng cao hơn là các xe scooter của Ý: Vespa, Lambretta. Các xe scooter này vì lòng máy lớn hơn 50 cc, nhỏ nhất là 125 cc hoặc 150 cc hoặc 200 cc tùy theo kiểu, nên không còn được xếp vào loại vélomoteur. Người sử dụng phải trên 18 tuổi và phải có bằng lái. Vì thế, những người đi xe Vespa, Lambretta thường là ở tuổi trung niên và có đời sống cũng tương đối khá vì xe scooter đắt hơn.
Xe Vespa hàng chục năm nay không thay đổi mấy. Thân xe làm băng tôn ép. Có lẽ vì thế nên làm hình tròn như quả trứng để chịu lực tốt hơn. Máy được đặt ở chỗ phình bên phải, còn bên trái là ngăn để chứa đồ. Vì thế xe Vespa khi chạy hơi nghiêng về phía phải vì bên này nặng hơn. Xe Lambretta tuy trông bề ngoài giống Vespa nhưng cấu tạo lại khác.
Khung xe bằng ống sắt hàn lại, máy đặt ở giữa khung và che bên ngoài bằng lớp vỏ sắt. Xe Lambretta hồi đâu thập niên 1960 có đường nét cong. Cuối thập niên 60, qua đầu thập niên 70 thì kiểu dáng thẳng, theo như mốt của thời đó, nên trông thanh nhã. Cả hai đều sang số bằng tay, bóp embrayage vào và vặn để đổi số.
Vespa 1963
Lambretta 1962
Lambretta 1966
Từ cuối thập niên 1950, miền Nam cũng nhập cảng các xe gắn máy Đức như Goebel, Sachs, Puch. Các xe này đều có chung đặc điểm là có bình xăng đặt trước người lái, sang số bằng tay, có ống nhún cả trước lẫn sau, và máy đều là 50cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái.
Mỗi xe lại có những đặc điểm riêng như máy xe Puch luôn luôn được bọc trong lớp vỏ bằng nhôm, có quạt chạy để làm mát. Như thế có lợi điểm là máy xe được làm mát ngay cả khi ngừng đèn đỏ. Vì là xe có sang số nên tuy chỉ có 50cc, xe gắn máy Đức có sức kéo mạnh hơn các xe Mobylette ở số 1, 2, nên cũng được dùng để kéo xe lôi, có thể kéo được thêm được bốn năm hành khách và hàng hóa phía sau. Hãng Puch và Sachs ngày nay vẫn còn tồn tại.
Goebel 1965
Puch 1964
Sachs 1961
Fips, máy Sachs, 1955
Vào khoảng 1965 thì thấy nhắc đến tên Honda, với một số kiểu xe mới lạ xuất hiện. Một số xe Honda đầu tiên do người Mỹ mua đem sang Việt Nam để đi làm việc rồi khi họ về nước thì để lại, lọt ra ngoài thị trường người Việt mua được. Một trong những công dụng của xe Honda là các phi công Mỹ dùng để di chuyển giữa chỗ đậu phi cơ và doanh trại. Từ doanh trại ra chỗ đậu thường xa, đi bộ cũng mất vài phút đến vài chục phút.
Có xe Honda phóng thì thu ngắn thời gian nhất là khi có báo động thì phóng xe Honda ra máy bay nhanh hơn là chạy bộ. Xe Honda S90 có lẽ là chiếc được ưa
chuộng nhất trong số các xe Honda trước 1965 vì kiểu đẹp và máy mạnh, tiếng nổ ròn. Các kiểu xe kia là C110, S65 (thường được gọi là S50), P50, C50. Xe P50 có cấu tạo đặc biệt với máy nằm ở sát bánh sau và truyền động thẳng vào bánh chứ không qua dây xích.
Cách đặt máy này có lợi là khỏi bị mất lực khi truyền qua dây xích và giảm bớt số bộ phận nhưng có khuyết điểm là xe dễ bị mất thăng bằng vì đầu nhẹ, đuôi nặng. Lại thêm khi đi xuống ổ gà vì không có ống nhún nên sức va chạm có thể làm vỡ răng cưa ở vành bánh xe. Xe Honda dame C50 trước 1965 có chiếc đã có bộ đề bằng điện, khỏi cần đạp. Trong khi chiếc Honda dame nhập cảng hàng loạt sau này phải đạp máy nổ bằng chân.
Honda S90 1967
Honda S65 1964
Honda C110 1964
Honda P50, 1964
Chiếc xe Honda được chính thức nhập cảng để bán cho người tiêu thụ là xe Honda Dame năm 1965. Hãng Honda thì gọi là kiểu C50, nhưng mọi người thường gọi là Honda Dame. Có Honda Dame nhưng không ai gọi Honda Homme, mà gọi là Honda đàn ông.
Những chiếc xe Honda Dame đầu tiên xuất hiện tại Sài Gòn thu hút được sự chú ý của người đi đường. Những ngày đầu tiên xe bán ra ngoài, trên các nẻo đường phố người ta nhìn thấy các chiếc xe Honda Dame màu đỏ hay xanh lá cây nhạt. Có người bị tắt máy xe, hý hoáy nhìn xuống chân vì chưa quen với cách sang số bằng chân. Sang lộn số có thể làm xe tắt máy. Khi thấy có một số người dắt xe Honda đi bên đường, có người nói hãng Motobécane của Mobilette thuê người dắt xe Honda Dame đi khắp các đường phố để người dân thấy xe Nhật dở, bị chết máy hoài, sợ không dám mua. Không biết là có đúng hay không.
Một số người lúc đó nói là hàng Nhật không bền, chỉ vài năm là hỏng và tiên đoán rằng chừng năm mười nữa thì các xe gắn máy Pháp, Đức vẫn còn chạy, còn xe Nhật thì lúc đó vứt đi. Những người đó có lẽ căn cứ vào phẩm chất hàng hóa của Nhật trước thập niên 1960. Nhưng qua thập niên 1960, các hãng xe gắn máy Nhật đã trải qua những năm cạnh tranh khốc liệt trong nước.
Vào đầu thập niên 1960, nhiều hãng xe gắn máy ào ạt ra đời tại Nhật, cuối cùng theo luật thư hùng đào thải chỉ có những hãng có khả năng cải tiến mới sống còn. Lúc xe Nhật sang Việt Nam cũng là lúc các hãng xe gắn máy Nhật bắt đầu tung ra thế giới với nhiều cải tiến làm cho phẩm chất xe Nhật vượt hẳn các xe Tây phương.
Honda Dame C50 1965
Xe Honda Dame được làm để cho phái nữ đi nên dùng ambrayage tự động, khi sang số chân không cần phải bóp embrayage tay mà chỉ cần giảm ga. Các hiệu xe Suzuki Dame, Yamaha Dame cũng giống thế. Còn các xe gắn máy Nhật kiểu đàn ông được vẽ kiểu giống như những chiếc mô tô phân khối lớn ở chỗ không có pédale mà có cần đạp cho nổ máy, hai bên có thanh ngang để chân, bên phải là thắng chân, bên trái là cần sang số, embrayage tay trái, thắng trước tay phải, bình xăng phía trước.
Các xe này còn giống mô tô ở chỗ hai bên bình xăng có hai miếng cao su để đầu gối áp vào cho êm. Điều đáng kể là yên xe thấp vừa với chiều cao người Á Châu khiến cho việc leo lên xe, chống xe dễ dàng hơn khi sử dụng các xe gắn máy Tây phương. Tay ga vặn nhẹ nhàng chứ không nặng như xe Tây phương. Máy đạp nhẹ nhàng và dễ nổ. Nói tóm lại, các nhà chế tạo Nhật khiến cho các chiếc xe gắn máy sử dụng dễ dàng, tiện nghi hơn khiến cho người dùng thấy rất thoải mái khi đi xe.
Sau chiếc xe Honda Dame là sự xuất hiện của Honda đàn ông 66 (SS50). SS là chữ viết tắt của Super Sport. Chiếc Honda 66 xuất hiện vào năm 1966, với màu đỏ hay đen, tay lái ngắn ngủn để người lái thu hẹp khoảng cách hai tay, giảm tiết diện cản gió, xe không có đèn signal, hộp số có năm số và có thể đạt đến tốc độ tối đa đáng nể là 90km/giờ đối với một chiếc xe máy 50 cc. Đó là một chiếc xe được vẽ kiểu với các đặc tính của xe đua.
Tuy nhiên chiếc xe này không tiện dụng trong thành phố vì tay lái quá ngắn nên khó điều khiển. Sang năm 1967, Honda sửa lại kiểu xe cho tay lái rộng hơn, hộp số có bốn số, sơn đen hoặc đỏ, có đèn signal, ống nhún trước có bọc cao su, tốc độ tối đa 90k/giờ. Kiểu xe 67 (SS50) đã đi vào lịch sử vì máy mạnh, chạy nhanh, được nhiều người ưa chuộng và có lẽ là được sử dụng nhiều nhất tại miền Nam cùng với xe Honda Dame. Về sau Honda có ra các kiểu khác nhưng Honda 67 vẫn được nhiều người biết đến nhất. Vì máy mạnh nên chiếc Honda 67 được dùng để kéo xe lôi thay cho các hiệu xe Đức trước đây.
Honda SS50 1966, tay lái 67
Honda SS50, 1966, tay lái original
Honda SS50 1967
Cả tứ đại gia của làng xe gắn máy Nhật, Honda, Yamaha, Suzuki, Kawasaki đều có mặt tại miền Nam lúc đó. Hãng Suzuki tung ra kiểu xe nam M15 và M12 và xe Suzuki Dame, M31. Hai kiểu xe nam đại khái giống nhau, dùng cùng một động cơ nhưng kiểu thể thao có ống pô vắt cao và vè trước ngắn để trông có vẻ thể thao hơn.
Suzuki M12 1967
Suzuki M15 1967
Suzuki Dame M31 1967
Hãng Yamaha có hai kiểu xe đàn ông, trong đó có kiểu YF5, và một kiểu Yamaha Dame. Xe Yamaha đàn ông kiểu đẹp, nhiều bộ phận xi bóng loáng. Yamaha Dame sơn màu xanh da trời, với đường cong dịu dàng, trông rất mỹ thuật. Các xe Yamaha xem ra không được ưa chuộng bằng Honda vì máy không mạnh bằng.
Yamaha nam kiểu thể thao YF50, 1967
Yamaha nam F5, 1970
Yamaha Dame U5 1966
Xe Suzuki Dame và Yamaha Dame đèn trước thấp hơn xe Honda Dame, trông vẻ nhu mì thích hợp với các cô mặc áo dài.
Kawasaki là hãng nhỏ nhất trong các hãng xe Nhật lúc đó, chỉ đưa sang một kiểu xe đàn ông. Xe Kawasaki chạy tuy tốt nhưng bị chê là nặng và máy yếu. Xe Kawasaki đem sang Việt Nam là kiểu dùng sườn của xe 80 cc, thay vào đó bằng động cơ 50 cc để được xếp vào loại vélomoteur, không cần bằng lái.
Kawasaki M10 1966
Hiệu xe ít người nhớ đến có lẽ là Bridgestone. Bridgestone là hãng chuyên chế tạo vỏ bánh xe nhưng lúc đó cũng có một phân bộ chuyên sản xuất xe mô tô để đua. Kiểu Bridgestone đem sang Việt Nam năm 1966 có máy 65 cc.
Vì thế xe Bridgestone vọt rất mạnh. Đặc điểm của Bridgestone là hộp số có bốn số quay vòng giống như các xe đua, nghĩa là sang đến số bốn thì nhấn thêm sẽ trở về số một mà không phải trả số ngược lại. Xe Bridgestone chìm vào quên lãng của người Việt khi phân bộ xe mô tô của hãng đóng cửa năm 1967 vì lý do là nếu sản xuất xe đua thì các hãng xe gắn máy Nhật khác không muốn mua vỏ xe của hãng kình địch với mình trong các cuộc đua.
Bridgestone 65 1966
Bridgestone 65 kiểu thể thao 1966
Không như các hãng xe châu Âu giữ các kiểu xe y nguyên nhiều năm, các hãng Nhật ào ạt tấn công thị trường Việt Nam với các kiểu xe mới ra mỗi năm. Qua 1968, Honda tung ra xe CL50. CL là chữ viết tắt của Scrambler. Đó là kiểu xe được chế tạo để chạy các đường đất lồi lõm nên chỉ có bốn số, xe kéo mạnh ở số một và số hai, nhưng tốc độ tối đa kém xe Honda 67. Ống pô vắt cao để khỏi va chạm vào mô đất hay ngập nước.
Qua 1969, Honda tung ra kiểu SS50M. Cũng dùng cùng máy và sườn như xe Honda 67 nhưng bình xăng dài hơn cho có vẻ thể thao. Qua năm 1970, Honda đưa sang kiểu CD50. Xe này cũng dùng cùng loại sườn và động cơ như SS50 nhưng bình xăng và hộp đựng đồ phụ tùng vẽ kiểu khác nên trông bề ngoài khác hẳn. Xe được chế tạo để chạy trong thành phố nên chỉ có bốn số với các số đầu kéo mạnh, thích hợp với cách chạy xe trong thành phố phải luôn luôn dừng lại đèn đỏ rồi lại bắt đầu vọt lên. Cùng là kiểu SS50E, đến 1971, 1972, Honda tung ra kiểu xe với sơn đỏ metal và vè xi bóng, ghi đông cao kiểu sừng bò trông rất hấp dẫn.
Honda thay đổi hình dáng bề ngoài thu hút thêm khách hàng mới. Năm 1969, Suzuki cũng tung ra kiểu xe mới AS50 trông rất thể thao và rất đẹp. Ngoài các kiểu xe Honda chính thức nhập cảng, trên đường phố Sài Gòn thỉnh thoảng xuất hiện một số kiểu xe Honda lạ như Honda Monkey, nhỏ xíu như xe con nít, hoặc Honda CT50, CT70, với chữ T là viết tắt của Trail, loại xe Honda dùng để đi dạo chơi ở đồng quê, trên các đường mòn nhưng tại Việt Nam trở thành phương tiện để đi học, đi làm tuốt luốt.
Honda CL50, 1968
Honda CD50, 1970, pô nằm original, vè trước vè sau cùng màu với thân xe
Honda SS50lM 1969
Suzuki AS50 1970
Honda CT70 1970
Honda Monkey 1970
Trong tất cả các loại xe Nhật, chỉ có Honda là dùng loại động cơ bốn thì, với xăng và nhớt chứa riêng còn các hãng kia dùng loại động cơ hai thì, chạy xăng pha nhớt.
Với các đủ loại xe tung vào thị trường, đường phố miền Nam trở nên nhộn nhịp với các loại xe đủ màu sắc. Đường phố Sài Gòn náo nhiệt với các coureurs cúi rạp trên con ngựa sắt ra sức phóng, lạng, máy nổ ròn, đinh tai nhức óc. Đúng ra máy xe Honda chạy rất êm. Nhưng vì nhiều người đã tháo bỏ ốm tiêu hãm thanh gắn ở đầu ống khói nên máy nổ lớn. Ống này nhỏ như ống tiêu, với thân có đục nhiều lỗ, dài khoảng gang tay. Chỉ cần tháo
Phi Long

Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2015

Báo “Cách” Kiểu Gì Cũng Lạc Hậu

Nguồn : Vững Đại Phát

Tác giả: Phạm Trần – VietCatholic – 25 June 2015
Làng báo Nhà nước Cộng sản Việt Nam kỷ niệm 90 năm ngày gọi là “báo chí cách mạng” 21/06/1925 -21/06/2015, nhưng càng “cách” bao nhiêu thì 35 nghìn người làm báo càng lạc hậu và dân càng xa đảng bấy nhiêu.
Hiện tượng này không lạ từ mấy năm qua khi báo đài nhà nước phải kéo cờ trắng đầu hàng các mạng báo xã hội và các nhà báo công dân tự do về phương diên thông tin nhanh đến đại chúng. Từ yếu điểm này, báo in của 849 cơ quan, 67 đài phát thanh – truyền hình, 98 báo, tạp chí điện tử, Thông tấn xả Việt Nam (TTXVN) phần lớn đều lâm vào tình trạng tài chính khó khăn vì số người mua báo càng ngày càng giảm đi.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhìn nhận tại một phiên họp với các đại diện tòa báo: “Trong bối cảnh mới, báo chí phải làm được nhiệm vụ chính trị của mình trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh rất gay gắt, kinh phí Nhà nước lại không thể bao cấp. Đây là một việc rất khó”. (theo Infonet của Bộ Thông tin&Truyền Thông)
Tuy nhiên ông Dũng đã không có ngay chiếc đũa thần để cứu nguy mà đề nghị:” Các cơ quan báo chí cùng suy nghĩ, đề xuất xem nên làm thế nào để vừa làm được nhiệm vụ chính trị – tuyên truyền thông tin định hướng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, vừa có nguồn thu, thu nhập. Nếu không có thu nhập thì khó có thể tồn tại, phát triển được trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay.”
Một giải pháp của Bộ Thông tin và Truyền Thông gọi là “quy họach báo chí” đã được trình cho Bộ Chính trị xem xét nhưng chưa thi hành vì còn nhiều vướng mắc giữa nhà nước và các cơ quan chủ qủan báo (đứng tên chủ báo).
Mụch đích quy họach là thu gọn lại, không để cho báo chí ra báo phụ và báo điện tử tràn lan như hiện nay. Bộ trưởng Thông tin và Truyển Thông Nguyễn Bắc Son nói : “ Quy hoạch để báo chí ngày càng phát triển hơn, ngày càng chất lượng tốt hơn, định hướng của Bộ chính trị ghi rõ, trong quy hoạch phải khẳng định làm sao cho báo chí tốt hơn, không có báo tư nhân, không được tư nhân núp bóng; không cần nhiều, nhưng cần chất lượng.”
Tuy nhiên, phiá báo chí thì lo ngại dự án quy họach sẽ làm mất việc làm của không ít 35 nghìn người, trong số có 18,000 nhà báo từ trung ương xuống địa phương.
Vẫn theo Infonet thì nhà báo Lê Xuân Sơn, Tổng Biên tập Báo Tiền Phong cho biết: “Việc nhiều người chuyển sang đọc báo điện tử khiến cho báo giấy khó khăn. Thậm chí các công ty phát hành tư nhân, bám rất sát thị trường, năng động, cũng không sống nổi. Theo lời chủ một công ty phát hành lớn nhất ở miền Nam vừa cho biết thì trong năm ngoái, công ty này đã sụt giảm mất 40% sản lượng phát hành”.
Ông Phạm Anh Tuấn, Tổng Biên tập Báo Vietnamnet (cũng của Bộ Thông tin &Truyền thông) trình bày : “Báo điện tử đang rất khó khăn về mặt kinh tế vì phát hành miễn phí, chủ yếu sống bằng quảng cáo. Chúng tôi phải sống như một doanh nghiệp nhưng lại phải làm nhiệm vụ chính trị. Chúng tôi mong muốn được quan tâm hơn để không phải làm kinh tế như doanh nghiệp bình thường”.
Nhưng tại sao Bộ Thông tin&Truyền Thông lại có tới 2 báo Điện tử để cạnh tranh với các báo khác ? Nhân viên của hai báo này là cán bộ nhà nước hay dân thường có nghiệp vụ làm báo được tuyển dụng ?
Cũng như cơ quan Thông tấn quốc gia TTXVN lại có thêm báo điện tử Tin Tức để làm gì ?
Theo Infonet nhà báo Lê Xuân Sơn thừa nhận : “Đúng là chúng ta có nhiều cơ quan báo chí, nhiều đầu báo, đầu tạp chí thật, nhưng cũng có thông tin rằng số lượng đầu báo/đầu người của Việt Nam khá thấp so với thế giới. Nếu loại bỏ nhiều cơ quan báo chí thì tỷ lệ ấy còn thấp hơn nữa, ảnh hưởng tới quyền được thông tin cũng như dân trí.”
Ở Việt Nam không có báo tư nhân. Tất cả báo đều do các tổ chức hay cơ quan của đảng nắm giữ. Được tài trợ ít hay tòan phần, tùy đơn vị chủ qủan. Vì vậy, mỗi cơ quan, đơn vị có báo đều tìm mọi cách, đôi khi có cả những hành động làm mất phẩm chất của báo chí, để kiếm tiền nuôi nhau béo thêm.
BÁO ĐẢNG VÀ ĐẠO ĐỨC NHÀ BÁO
Tuy nhiên, với dân số trên 90 triệu người như Việt Nam mà chỉ có 849 cơ quan có báo in thì qúa chậm tiến so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Nhưng số người bỏ tiền ra mua báo đọc lại không nhiều nên các báo chính thống của đảng như Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Sài Gòn Giải Phóng, Hà Nội Mới v.v… đã được “ép bán” cho các cơ quan, đơn vị, hay các cơ sở thương mại để tồn tại.
Bên cạnh các báo in, hầu hết các cơ quan chủ qủan đã in thêm nhiều loại báo phụ và lập ra báo mạng để lấy qủang cáo và làm áp-phe kiếm tiền.
Tuy nhiên không ai biết mỗi ngày đã có bao nhiêu người Việt Nam vào Internet để đọc các báo điện tử của nhà nước, hay còn được gọi là “báo lề đảng”, nhưng số người vào các trang báo “lề dân”, hay mạng xã hội tự do thì có hàng triệu người.
Lý do báo “lề dân” phát triển nhanh, được nhiều người truy cập hơn báo “lề đảng” vì tin của “lề dân” nhanh hơn, tuy đôi khi cũng có sai trái vì thiếu kiểm chứng. Các bài bình luận hay phân tích thời sự Việt Nam và Thế giới của báo “lề dân” hòan toàn tự do, dân chủ và tôn trọng lẫn nhau. Ngược lại, các bài viết, kể cả tin tức của báo “lề đảng”, trước khi được phổ biến, phải qua kiểm duyệt bởi nhiều cấp trong Ban Tuyên giáo đảng hay các cơ quan chủ qủan để bảo đảm không gây khó khăn cho cơ quan, có lợi cho nhà nước và đạt mục tiêu tuyên truyền theo ý muốn của đảng.
Ngược lại, vì được hoạt động tự do nên các báo điện tử của “lề dân” đưa tin nhanh gấp 100 lần hơn “lề đảng”. Các loại tin mà nhà nước Việt Nam gọi là “nhạy cảm”, có thể gây tranh cãi, sợ lộ ra thì xấu mặt, nhất là có dính líu đến người hàng xóm “vừa là đồng chí vừa là anh em” Trung Quốc thì báo đảng phải tránh xa.
Các loại tin thuộc loại “cấm kỵ” như tin dân oan xuống đường đòi công lý bị công an đánh đập, hay người dân biểu tình chống Trung Quốc bị côn đồ tấn công, bị công an hốt lên xe đưa về trại “phục hồi nhân phẩm”, như đã xẩy ra ở Hà Nội và Sài Gòn từ năm 2007 đến 2014 thì phải coi như không có chuyện gì xẩy ra !
Vì vậy mới có chuyện ngược đời không biết xấu hổ của làng báo tự phong “cách mạng” nhưng rất lạc hậu, ấu trĩ hơ cả làng báo Ai Lao và Cao Miên. Đó là khi cả Thế giới được đọc, được xem hình và cả Video cảnh người dân biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ở Sài Gòn và Hà Nội thì “dân cả nước An Nam” không hay biết gì, cứ ngớ ra như người ngoài hành tinh !
Vì vậy để cạnh tranh tìm miếng cơm manh áo, nhiều “nhà báo cách mạng” đã biến thành “cách miệng” , miễn sao kiếm được đầy túi, không cần bận tâm đến mấy chữ “đạo đức nghề nghiệp” cho mất thời giờ.
Nhà báo 83 tuổi Hữu Thọ, Nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Nguyên Trưởng Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương đã phê bình sự xuống cấp này tại một cuộc Hội thảo vào dịp 90 năm báo chí.
Ông nói: “những tồn tại không ít và có việc không nhỏ, nổi lên là thông tin sai sự thật quá nhiều, thậm chí bịa đặt, suy diễn gây bức xúc xã hội, có những sai sót mà chúng tôi cũng không thể ngờ…, cùng những hành vi tiêu cực khác mà tôi rất đau lòng khi phải nói lên một sự thật rằng uy tín của giới báo chí đang giảm sút.
Theo dõi thì thấy kỳ họp báo chí toàn quốc nào cũng được phê phán, nhắc nhở nhưng tôi có cảm giác là hiệu lực không cao, những sai phạm vẫn tiếp tục.”
“Vì sao có tình trạng đó?”, ông Hữu Thọ hỏi và trả lời : “Đây là đề tài có thể thảo luận sôi nổi, và chắc chắn còn có nhiều ý kiến khác nhau, có cuộc hội thảo đã nêu ra 6 nguyên nhân. Với sự hiểu biết có hạn, tôi nghĩ, phải chăng những nguyên nhân chính là:
Trước hết, nhiều tờ báo hiện đang khó khăn cân đối thu chi cho nên một số tờ báo tìm cách đưa tin giật gân, câu khách để bán báo, câu số người truy nhập để có thêm quảng cáo, có tiền nuôi quân, giữ cây bút giỏi. Các số phụ, các trang tin điện tử ồ ạt ra đời trong mấy năm vừa rồi (đã có tới 1.500 trang thông tin điện tử), phải chăng là nguyên nhân quan trọng của xu thế thương mại hóa báo chí?
Nhưng nguyên nhân chính và căn bản phải nói tới việc kém rèn luyện, tu dưỡng của phóng viên và sự giám sát lỏng lẻo của các Ban biên tập về hành vi đạo đức của những người viết báo, không chỉ là những người làm báo trẻ; trong đó trách nhiệm của các đồng chí Tổng biên tập các tờ báo là rất quan trọng.”
Nhưng suy thoái đạo đức trong nghề bào có nguy hiểm cho chế độ bằng suy thoái tư tưởng và đạo đức trong hệ thống cầm quyền của đảng và nhà nước không ?
Tất nhiên anh nhà báo không thể nào tham nhũng bằng một cán bộ có chức có quyền, và càng không tạo được vây cánh để bảo vệ cho quyền lợi phe nhóm như đang sôi nổi diễn ra trong đảng.
Vì vậy, theo ông Hữu Thọ thì “báo đã bị lợi dụng”, căn cứ vào những gì đã và đang diễn ra trong hoạt động của báo chí hiện nay.
Ông kể ra các hình thức báo bị các thế lực lợi dụng gồm:
- “Lợi dụng báo chí như công cụ để tự đề cao, để nổi danh hòng trúng cử trong các cuộc “thi”, không chỉ có chuyện “loạn Sao, loạn Hậu” mà cả trong những cuộc tranh giành chức vụ chính trị;
- Lợi dụng báo chí để hạ đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh và trong cả chính trị;
- Lợi dụng báo chí để trả thù cá nhân;
- Lợi dụng báo chí đế che chắn tội ác, bảo vệ tội phạm…”
Vậy sự lạm dụng thế lực của nhà báo có không ? Ông Hữu Thọ liệt kê ra 6 nhóm như:
- Ép, van nài, đe dọa các doanh nghiệp để xin quảng cáo, ăn hoa hồng;
- Viết bài tâng bốc theo lối quảng cáo để nhận thù lao các kiểu;
- Mang thư bạn đọc đi đe dọa các đơn vị và người bị “tố cáo” để đòi tiền;
- Hùa nhau đánh thuê, đánh lên cao theo kiểu “Erostat đốt đền”;
- Viết bài bảo vệ tội phạm theo kiểu “dùng chữ nghĩa, hình ảnh để bảo kê”;
- Lợi dụng sự quen biết rộng rãi để tham gia đường dây chạy các thứ, kể cả chạy chức, chạy quyền…
Những người bị lợi dụng hay lạm dụng như trên tôi vừa nói, thực sự không chỉ vi phạm đạo đức nghề nghiệp mà còn không xứng đáng với đạo làm người, có trường hợp vi phạm luật pháp. Họ thực sự không còn giữ được sự trung thực, thẳng thắn là cái cốt lõi trong đạo đức của người cầm bút, gõ máy.”
TÁT NƯỚC THEO MƯA
Cùng hùa theo mạt sát báo chí là Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son. Ông thừa nhận có “ Một bộ phận những người làm báo vẫn còn non kém về nhận thức chính trị, đã bộc lộ những khuyết điểm, yếu kém, vi phạm đạo đức nghề nghiệp…”
Ông nói: “Người đứng đầu một số cơ quan báo chí đã buông lỏng quản lý nội dung thông tin, quản lý đội ngũ phóng viên, coi trọng lợi nhuận, khai thác nhiều đề tài mặt trái của xã hội với mức độ thông tin dày đặc… Cùng với những thông tin giật gân, câu khách, vi phạm thuần phong mỹ tục là xu hướng xem nhẹ quy trình thẩm định nguồn tin, thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân…
Những hạn chế, khuyết điểm của báo chí là một trong những nguyên nhân làm giảm tính chính trị, tư tưởng, tính văn hóa, giáo dục của báo chí cách mạng Việt Nam.”
Rất ngạc nhiên không thấy ông Son nhận có trách nhiệm gì trong tình trạng xuống cấp của làng báo “cách mạng”.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đọc diễn văn tối 21/06 (2015) để lên lớp đội ngũ làm báo. Ông nói : “Báo chí cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền, góp phần củng cố, tăng cường lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, tạo sự đồng thuận xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực phấn đấu, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các gương người tốt, việc tốt; bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, các giá trị, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phê phán, đấu tranh với cái xấu, cái ác, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trong mọi lĩnh vực.” (theo Thôn tấn Xã Việt Nam, TTXVN)
Đã vậy, ông còn bắt nhà báo phải gánh thêm trách nhiệm “nguy hiểm” gọi là : “Ngăn chặn những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm, mị dân, chuyên quyền, độc đoán, trù dập người đấu tranh, phê bình; để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng, tham nhũng, tiêu cực lớn ở địa phương, đơn vị; nói không đi đôi với làm; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân và vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính lọt vào cấp ủy các cấp như tinh thần Nghị quyết Trung ương và bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư tại Hội nghị Trung ương 11 vừa qua đã chỉ rõ, góp phần vào thành công của Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội XII của Đảng.”
Nói như ông Sang thì ai nói cũng được, chỉ cần không thèm nghĩ gì đến cái dạ dầy đói meo của anh nhà báo và sinh mạng của anh ta nếu nghe ông xúi dại mà lào đầu vào các “bãi mìn cá nhân” trong khi lãnh đạo đảng không dám mon men đến.
Đến phiên Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng còn ghê gớm hơn. Ông phán trong một bài viết : “Những yếu kém của báo chí hiện nay, trước hết là do một bộ phận người làm báo còn non kém về chính trị, nghiệp vụ, đặc biệt là thiếu trách nhiệm xã hội và vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Người đứng đầu một số cơ quan báo chí buông lỏng quản lý nội dung thông tin, quản lý đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên, quá nhấn mạnh chức năng giải trí, chạy theo lợi nhuận đơn thuần mà xem nhẹ các chức năng định hướng, giáo dục và thẩm mỹ của báo chí; thậm chí còn lợi dụng báo chí để mưu lợi cá nhân, lợi ích nhóm.”
Sau đó, ông chỉ trích thái độ bàng quang của báo chí hiện nay: “ Trong kháng chiến với muôn vàn khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, cái chết luôn cận kề, nhưng nhà báo vừa cầm bút, vừa cầm súng để chiến đấu và sáng tạo nên tác phẩm báo chí, gắn kết triệu người như một, cùng hướng về một mục tiêu, đó là giải phóng đất nước, giữ vững độc lập dân tộc. Ngày nay, trong hòa bình, bên cạnh đội ngũ nhà báo chân chính, cũng có những người muốn nhân danh “nhà báo” đứng ngoài công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lợi dụng phản biện xã hội để nói lên tiếng nói lạc lõng, xa rời tôn chỉ mục đích của báo chí, thiếu trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp. Đó là điều không thể chấp nhận.”
Ông Trọng không đưa ra con số có bao nhiêu tờ báo và số người làm báo đã thờ ở với đảng như thế, nhưng ông gay gắt thêm : “
Nhân đây, cũng cần nhắc lại rằng, báo chí là công cụ đấu tranh xã hội, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp. Báo chí cách mạng không chỉ là phương tiện thông tin thuần túy, càng không phải là công cụ giải trí đơn thuần, mà nó có chức năng tuyên truyền, cổ động, tập hợp và tổ chức quần chúng đấu tranh cách mạng, giáo dục và hướng dẫn hành động của các tầng lớp xã hội. Trên thế giới, dù nói ra hay không nói ra, các thế lực chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội,… đều sử dụng báo chí như những công cụ phục vụ cho lợi ích của họ. Dù có nói nhiều đến tính “khách quan”, “dân chủ”, “tự do”, “giải trí”… của báo chí thì thực tế người ta vẫn sử dụng báo chí vào mục đích chính trị, coi đây là vũ khí lợi hại của họ. Ta hãy xem hằng ngày báo chí của họ nói gì? Tại sao họ chỉ đưa tin này không đưa tin khác? Họ bình luận theo chiều hướng nào? Tấn công ai và bảo vệ ai? Có thật là họ không chịu sự quản lý, chi phối của ông chủ họ không? Cho nên chúng ta không thể mơ hồ. Không mơ hồ trước hết về bản chất, chức năng của báo chí, để từ đó xác định rõ chỗ đứng , góc nhìn và cách nhìn của mình trong việc thu nhận thông tin, phân tích thông tin và công bố thông tin. Ai cũng nói là báo chí phải thông tin đúng sự thật, phải khách quan. Nhưng sự thật đó là sự thật nào? Sự thật nhìn dưới góc độ nào? Động cơ dụng ý nói ra để làm gì? Có lợi cho ai và có hại cho ai? Nói ra để xây dựng hay để phá hoại?…”
Qủa thật chưa bao giờ thấy ông Trọng đã nóng giận với báo chí đảng đến mức độ này, kể từ khi ông còn là Bí thư Thành phố Hà Nội. Nhưng tại sao ông đã “đỏ mặt tía tai” với người làm bào đến thế, vào thời điểm đảng chuẩn bị tổ chức Đại hội XII vào tháng 1/2016 ?
Ông dằn vặt tiếp : “ Đây cũng là dịp để chúng ta khẳng định nhất quán quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, lợi dụng tự do, dân chủ, đòi đa nguyên, đa đảng; lợi dụng chống tham nhũng, tiêu cực, thổi phồng những yếu kém, khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy kết, bôi xấu chế độ, kích động, làm giảm uy tín của Đảng, Nhà nước ta, gây nghi ngờ, chia rẽ nội bộ. Báo chí phải là người đi tiên phong trên mặt trận tư tưởng, tỉnh táo, cảnh giác, lấy chính thực tiễn sinh động của đất nước đổi mới để tấn công, vạch trần âm mưu thâm độc của các thế lực xấu, thù địch, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.”
Sau ông Sang xúi dại báo chí lao đầu vào lửa đạn chết thay cho lãnh đạo đảng lại đến lượt ông Trọng lên lớp dậy “báo chí cách mạng” phải biết tô son điểm phấn cho chế độ trong khi chính ông đã không ngăn chặn được tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hoá” trong đảng, và có nhiều người làm báo không còn muốn đi theo định hướng của đảng nữa.
Tại sao lại có tình trạng này ? Điều dễ hiểu là nếu báo chí cứ tiếp tục bị bịt miệng, nhắm mắt tuyên truyền sai trái theo lệnh đảng và làm ngơ trước cái đau, chậm tiến và lạc hậu của người dân thì người làm báo chỉ lạc hậu thêm mà thôi.

Vô trách nhiệm và vô cảm

Nguồn : Vững Đại Phát

Tác Giả: Nguyễn Hưng Quốc – Blog VOA – 25 June 2015
Xã hội Việt Nam hiện nay có nhiều khuyết tật, nhưng hai khuyết tật chính, theo tôi, có ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước là: Một, sự vô trách nhiệm của các cán bộ, kể cả các cán bộ lãnh đạo; và hai, sự vô cảm của dân chúng, kể cả các thành phần trí thức.

Đã có nhiều người viết và nói về sự vô cảm của dân chúng. Nói một cách tóm tắt, sự vô cảm ấy có ba biểu hiện chính.
Thứ nhất, vô cảm trước những đau khổ của người khác. Đã đành ở Việt Nam vẫn có những người quan tâm đến dân oan, đến những người bệnh tật và nghèo khổ trong xã hội. Nhưng rõ ràng đó chỉ là thiểu số, một thiểu số cực kỳ ít ỏi. Còn đại đa số thì vẫn dửng dưng. Tai nạn xảy ra ngoài đường: người ta dửng dưng. Vô số người không có đủ cơm ăn, áo mặc: người ta dửng dưng. Bao nhiêu người bị chà đạp: người ta dửng dưng. Hình ảnh tiêu biểu nhất cho loại dửng dưng này là các youtube ghi hình ảnh một số học sinh bị bạn bè đánh đập một cách tàn nhẫn: Tất cả những người chung quanh đều yên lặng đứng nhìn, không có chút nỗ lực can thiệp hay thậm chí, cũng không bày tỏ một thái độ nào cả. Họ nhìn một cách hờ hững như không có chuyện bất bình thường nào đang xảy ra ngay trước mắt mình cả.
Thứ hai, vô cảm các các tệ nạn trong xã hội. Ai cũng biết xã hội Việt Nam đầy những tệ nạn. Tệ nạn từ trong nhà đến trường học và ngoài xã hội. Tuy nhiên số người thực sự quan tâm rất ít. Thấy kết quả điều tra của quốc tế về chất lượng sống, ở đó, Việt Nam bị xếp vào dưới đáy cùng của thế giới, thậm chí, còn thua cả Campuchia và Lào, cũng không có mấy người động lòng. Mỗi người hầu như chỉ nhìn vào sự thành công hay thất bại của bản thân mình, còn tệ nạn xã hội nói chung là thuộc về trách nhiệm của những ai khác.
Thứ ba, vô cảm trước tình hình của đất nước. Ở đây lại có nhiều khía cạnh. Kinh tế Việt Nam càng lúc càng sa lầy trong nợ nần: người ta mặc kệ. Giáo dục Việt Nam càng ngày càng xuống dốc: người ta mặc kệ. Văn hoá càng lúc càng suy thoái: người ta mặc kệ. Đạo đức càng ngày càng suy đồi: người ta mặc kệ. Quan trọng nhất, Việt Nam càng ngày càng đối diện với nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược: người ta cũng mặc kệ. Tất cả những thái độ mặc kệ ấy có một cái tên chung: sợ chính trị. Ai cũng né tránh chính trị. Người ta phó thác chuyện chính trị, từ đối nội đến đối ngoại, cho chính phủ và đảng cầm quyền. Người ta thừa biết chính phủ và đảng cầm quyền cũng đang bế tắc, không tìm ra một phương hướng hay sách lược nào để giải quyết cả, người ta vẫn bất chấp.
Tôi có khá nhiều bạn bè thuộc giới trí thức trong nước. Hỏi chuyện, ai cũng biết tất cả những nguy cơ mà Việt Nam đang đối diện, trong đó có cả nguy cơ mất nước, nhưng hầu như ai cũng chỉ thở dài ngao ngán: Trung Quốc bây giờ mạnh quá, làm sao chống lại được? Rồi thôi. Người ta xem đó như những chuyện không thể tránh khỏi. Và vì không thể tránh khỏi, chúng cũng không còn là vấn đề nữa. Sau đó, người ta an tâm tập trung hết tâm trí vào việc kiếm sống. Chuyện nước non như thuộc về ai khác.
Dân chúng như thế, còn cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo thì sao? Thì ở đâu cũng thấy một điều: Vô trách nhiệm.
Biển hiện đầu tiên của tinh thần vô trách nhiệm ấy được nhìn thấy trong công việc làm hàng ngày của họ. Ví dụ gần đây nhất là những chuyện liên quan đến cây xanh ở Hà Nội. Thành phố chủ trương chặt hơn 7000 cây xanh mà không hề nghiên cứu cẩn thận những cây nào là đáng chặt. Đến lúc dân chúng phản đối kịch liệt, người ta mới dừng lại. Sau đó, trồng cây thế. Hứa trồng cây vàng tâm nhưng thực tế lại trồng cây mỡ, một loại cây rẻ tiền hơn. Cũng chưa hết. Sau trận dông lốc vừa rồi làm hàng ngàn cây bị bứng gốc đổ nhào, người dân mới phát hiện rễ những cây mới trồng còn để nguyên cả bao ny lông chung quanh. Đến lúc dân chúng tố cáo, người ta mới lén lút để cào đất và cắt các bao ny lông ấy ra. Tất cả diễn tiến chặt cây rồi trồng cây ấy cho thấy điều gì? – Sự vô trách nhiệm. Không phải chỉ những người thợ chặt cây hay trồng cây vô trách nhiệm mà cả giới lãnh đạo của họ, thậm chí, lãnh đạo của cả thành phố cũng vô trách nhiệm.
Những hành động vô trách nhiệm ấy xuất hiện ở khắp nơi: xây đường thì chỉ vài tháng, hay có khi, vài tuần là bị sụp lún. Trồng trụ điện thì không có cốt sắt nên cứ gặp gió lớn là bị đổ. Dây điện treo lằng nhằng và lòng thòng ngay trên đầu dân chúng cũng không ai để ý.
Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ vô trách nhiệm đối với đất nước. Trong cái gọi là đất nước ấy, khía cạnh quan trọng nhất là độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ; trong khía cạnh ấy, yếu tố nòng cốt là các hiểm hoạ đến từ Trung Quốc. Chỉ nêu các sự kiện gần đây nhất làm ví dụ. Đó là việc Trung Quốc cho bồi đắp các bãi đá ngầm hoặc rạn san hô làm đảo nhân tạo. Việt Nam phản ứng ra sao? Cũng chỉ là những lời phản đối lấy lệ của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. Ngay trên diễn đàn cuộc đối thoại Shangri-la ở Singapore vừa rồi, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cũng không tham dự. Chỉ có Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh hiện diện. Nhưng ông Vịnh cũng không phát biểu gì cả. Ông chỉ làm một việc như ông tự nhận là “lắng nghe”. Như những diễn biến mới nhất liên quan đến cuộc tranh chấp ở Biển Đông là thuộc trách nhiệm của ai khác.
Theo dõi tin tức từ báo chí những tháng gần đây, người ta thấy rõ quốc gia có phản ứng gay gắt nhất trước hành động xây đảo nhân tạo ở Trường Sa chính là Mỹ. Cho máy bay vờn qua vờn lại chung quanh các hòn đảo nhân tạo ấy là Mỹ. Tố cáo và phản đối âm mưu xây đảo nhân tạo ấy của Trung Quốc cũng là Mỹ. Vận động dư luận thế giới, đặc biệt các quốc gia thuộc nhóm G7, để mọi người thấy rõ âm mưu của Trung Quốc cũng lại là Mỹ. Việt Nam, từ trước đến sau, giữ một sự im lặng rất khó hiểu.
Dường như nhà cầm quyền Việt Nam xem chuyện mang Trung Quốc ra các toà án quốc tế là trách nhiệm của Philippines và lên án các hành động xây dựng đảo nhân đạo trái phép ở Trường Sa là nhiệm vụ của Mỹ. Giới chức Việt Nam thì chỉ khoanh tay đứng nhìn.
Khoanh tay thật ra cũng là một hình thức bó tay.
Bó tay ngay cả trước khi nỗ lực làm một cái gì đó là một sự bó tay rất vô trách nhiệm.

Bất công xã hội cản trở kinh tế

Nguồn : Vững Đại Phát

Tác Giả: Ngô Nhân Dụng – Người Việt - 25 June 2015
Đọc trên một tờ báo trong nước: Cầm trên tay hóa đơn tiền điện tháng Năm 2015, một phụ nữ 35 tuổi, ở quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tính toán: “Bình thường mỗi tháng nhà tôi chỉ trả khoảng 400 ngàn đồng, tháng này vọt lên hơn 1.8 triệu đồng. Không hiểu ngành điện họ có tính sai không?”

Giá điện tăng vọt làm cả nước choáng váng. Nhưng đối với các “vương tôn, công tử” thì con số một, hai triệu đồng không đáng để lo nghĩ. Năm ngoái, trên các trang mạng đã sôi nổi khi mấy cậu ấm đưa lên mạng cho bà con đọc hóa đơn các bữa ăn chơi của mình. Một cậu chi 182 triệu trong một đêm, trong đó có 161 triệu tiền mua sáu chai rượu (tương đương hơn 7,000 đô la Mỹ). Một “thiếu gia” khác chi 218 triệu trong một đêm ăn chơi, trong đó có ba chai rượu ngoại quốc, mỗi chai 65 triệu đồng Việt Nam, gần 3,000 đô la một chai. Một đại gia thứ dữ, chi 400 triệu đồng, với bốn chai rượu mỗi chai 90 triệu, hơn 4,000 đô la
Một công dân mạng nhận xét: Họ ăn chơi một đêm bằng mình làm việc mười năm, dành dụm không ăn uống gì cả! Một chai rượu của họ, mình đi làm vài năm mới mua được. Không biết những người này kiếm được bao nhiêu tiền một ngày!
Thật ra trên thế giới những người giầu có vẫn ăn chơi, xài tiền như nước, nhưng không phải ở đâu người ta cũng bất bình. Trong một nước dân chủ tự do kinh tế phồn thịnh, có những người kiếm ra rất nhiều tiền, nhưng không ai ghét. Ở Mỹ không ai ghét những ông Bill Gates hay Warren Buffet, hai người giầu nhất nước. Họ đều kiếm ra tiền vì thành công về kinh doanh, không bóc lột ai mà ngược lại còn tạo thêm của cải cho nhiều người khác. Dư luận bất bình chỉ nổi lên trong những nước không được sống tự do, dân chủ. Ở đó, những kẻ nắm quyền lạm dụng quyền lực, biến của công thành của riêng; những người khác thì hối lộ, mua chuộc bọn nắm quyền để làm giầu. Hai loại người giầu đều kiếm tiền một cách bất chính.
Trong xã hội cảnh bất công biểu lộ dưới hai hình thức: Bất công về lợi tức và bất công về tài sản. Hai loại bất công này ảnh hưởng hỗ tương với nhau. Người có sẵn tài sản lớn thì dễ kiếm được lợi tức cao. Ở những nước dân chủ tự do, hiện tượng trên vẫn diễn ra. Cho nên, người ta đặt ra những thứ luật lệ để giảm bớt tình trạng bất công này. Thí dụ, đánh thuế trên các di sản lớn để con cháu những người giầu có không chiếm ưu thế hưởng lợi tức cao mãi mãi hơn các gia đình nghèo. Một biện pháp thịnh hành nhất là đánh thuế người giầu cao hơn người kiếm ra ít tiền. Một người ở Mỹ kiếm nửa triệu mỗi năm có thể phải đóng thuế 39%, còn những người lợi tức khoảng 20,000 đô la thường không phải đóng thuế. Tại các nước Châu Âu, nhất là ở phía Bắc, những người lợi tức cao còn phải đóng suất thuế lên tới 80%, 90%; mà đó cũng là những nước có lợi tức bình quân cao nhất thế giới.
Thứ bất công nặng nề và nguy hiểm cho tất cả mọi người là bất công về cơ hội. Trong chế độ dân chủ tự do, một quy tắc được đề cao là bình đẳng về cơ hội. Bao nhiêu đạo luật an sinh xã hội đều nhắm bảo vệ quyền bình đẳng đó.
Ai cũng nghĩ trong xã hội mà có chênh lệch giầu nghèo là điều xấu, nên tránh. Nhưng mọi người thường chỉ phê phán cảnh bất công bằng con mắt đạo đức. Những người giầu sẽ bị chê cười nếu họ sống xa hoa trong khi người nghèo chạy ăn từng bữa toát mồ hôi. Nhưng người ta vẫn chấp nhận: Ai giỏi thì kiếm ra tiền, tha hồ sống xa hoa; ai không giỏi thì phải chịu nghèo nàn.
Nhưng bất công xã hội còn là một nguyên nhân gây cản trở khiến cho kinh tế khó phát triển. Khi kinh tế không phát triển đúng theo tiềm năng đáng lẽ phải đạt được, thì không phải chỉ người nghèo phải chịu, mà tất cả mọi người đều bị thiệt thòi. Nếu xã hội công bằng hơn, thì tài sản chung của quốc gia sẽ cao hơn, mọi người được chia phần cùng hưởng, trong đó có giới trung lưu.
Bất công xã hội tai hại chung cho nền kinh tế, vì tình trạng bất công kéo dài làm nản lòng những người có khả năng. Họ cảm thấy không thể cố gắng làm việc cho cuộc đời mình khá hơn, con cháu mình khá hơn, khi cảm thấy dù cố gắng cách mấy cũng sẽ “đụng trần,” không ngoi lên được nữa. Ở những nước kinh tế phồn thịnh thì người ta dễ chứng kiến cảnh nhiều người có khả năng vọt lên thành triệu phú, tỷ phú, khi chưa đẩy 30 tuổi. Bởi vì cơ cấu xã hội bảo đảm ai cũng có cơ hội như nhau.
Một lý do khiến bất công xã hội làm thiệt hại cho kinh tế, là ảnh hưởng trên số tiêu thụ chung của cả quốc gia. Kinh tế sẽ phát triển cao khi số tiêu thụ cao, vì việc tiêu thụ thúc đẩy các nhà sản xuất hoạt động hơn, tạo thêm công việc làm cho nhiều người, nhờ thế lại gia tăng số tiêu thụ. Ở những nước giầu, số tiêu thụ của tư nhân chiếm đến 70% lợi tức quốc gia, chưa kể số tiêu thụ của nhà nước.
Chúng ta thử tưởng tượng lợi tức một nước là 100 đồng, gọi là GDP, tổng sản lượng nội địa. Trong một xã hội hoàn toàn công bằng, số tiền đó được chia đều, thí dụ 50 người dân mỗi người 2 đồng. Với lợi tức đó, mỗi người sẽ chi tiêu một đồng rưỡi, tổng số tiêu thụ của cả nước sẽ là 75 đồng, 75% tổng số lợi tức quốc gia.
Nếu xã hội bất công, chúng ta có cảnh 100 đồng được chia cho 40 người dân nghèo mỗi người một đồng, còn 10 người giàu có được lợi tức 60 đồng. Đám dân nghèo sẽ dùng hết lợi tức vào việc tiêu thụ, tất cả 40 đồng. Còn 10 người giầu có, dù tiêu sài xa xỉ mỗi người cũng chỉ dùng tới 2 đồng thôi, tổng cộng 20 đồng. Như vậy thì tổng số tiêu thụ đã giảm xuống chỉ còn 60 đồng, 60% của tổng số GDP. Nếu xã hội bất công hơn, tập trung lợi tức vào 5 người, hoặc 2 người, thì tổng số tiêu thụ còn thấp hơn nữa.
Chính quyền Trung Quốc hiện nay đang cố thoát khỏi cảnh trì trệ bằng cách thúc đẩy người dân tiêu thụ nhiều hơn. Hiện nay tỷ lệ tiêu thụ trong nước Trung Hoa chỉ chiếm 40% tổng sản lượng nội địa; chính quyền muốn con số đó tăng lên. Trong khi đó, dân Mỹ không cần chính quyền khuyến khích vẫn dùng 70% GDP trong việc tiêu thụ.
Nhưng ngay trong việc kích thích tiêu thụ ở Trung Quốc, người ta cũng thấy ngay một chướng ngại, là tình trạng bất công xã hội. Chính những người đang được hưởng lợi nhờ cơ cấu bất công trở thành một lực lượng bảo thủ rất kiên cố, họ chống lại các biện pháp cải cách. Khi cơ cấu kinh tế không thay đổi nhanh, các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm ưu thế dù khả năng sinh lợi kém cỏi hoặc không hề sinh lợi, thì năng suất chung của cả nền kinh tế không lên cao được.
Điều nguy hiểm cho cả xã hội là tình trạng bất công sẽ tự nuôi dưỡng để kéo dài. Con cái một gia đình nghèo sẽ thiếu cơ hội đi học, khó lòng bước vào bậc đại học, so với con cái nhà giàu. Tại Việt Nam, con nhà giàu có thể được cho vào những trường tư đặc biệt, dậy bằng tiếng Anh, theo chương trình giáo dục của các nước giầu. Lớn lên, các học sinh giầu được gửi ra ngoại quốc dễ dàng. Cứ như thế, tình trạng bất công về lợi tức, về tài sản, sẽ kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Bất công xã hội cản trở việc phát triển kinh tế, chúng ta thấy rõ nhất khi thấy trong lịch sử các cuộc cách mạng dân chủ giúp cho các nền kinh tế nghèo cất cánh. Vì chế độ dân chủ bảo đảm việc thiết lập công bằng xã hội dễ dàng, nhanh chóng và bền vững hơn. Trong cuốn sách “Why Nations Fail: The Origins of Power, Prosperity, and Poverty” các giáo sư Daron Acemoglu (Đại học MIT) và James Robinson (Đại học Harvard) đã nêu ra nhiều thí dụ. Cuộc cách mạng 1688 ở Anh quốc đã giúp xã hội công bằng hơn, là nguyên nhân gây nên cuộc cách mạng công nghiệp trong thế kỷ 17, 18 ở nước Anh. Sau cuộc cách mạng ở Mỹ, người dân đã xóa bỏ những đặc quyền của giai cấp thượng lưu, thiết lập những quyền tự do căn bản cho mọi người dân, chính quyền chịu trách nhiệm với dân chúng, nhờ thế việc phân bố lợi tức công bằng hơn. Đó là nguyên nhân chính giúp cho kinh tế nước Mỹ phát triển.
Một thí dụ hiển nhiên ai cũng thấy là khi so sánh Bắc Hàn với Nam Hàn. Cùng một dân tộc, cùng một địa thế, cùng một thời gian, Nam Hàn đã tiến bộ vượt bực. Các tác giả trên còn nêu thí dụ hai thị xã cùng mang tên Nogales, nằm hai bên biên giới, một thuộc tiểu bang Sonora, Mexico và một thuộc tiểu bang Arizona, Mỹ. Tình trạng giầu nghèo của dân chúng hai nơi khác nhau chỉ có thể giải thích được là do chế độ chính trị ở Mỹ dân chủ hơn, cho nên xã hội công bằng hơn.
Trong các bài nghiên cứu khác, Daron Acemoglu còn nhấn mạnh rằng khi một chính quyền không dân chủ đưa ra những biện pháp giảm bất công xã hội, thì hành động đó cũng không dẫn tới tiến bộ kinh tế bền vững. Chỉ khi nào thể chế chính trị được thay đổi thì công bằng xã hội mới có, nhờ thế kinh tế sẽ phát triển bền vững hơn.
Nếu biết suy nghĩ thì chính các “đại gia” ở Trung Quốc và ở Việt Nam phải thấy rằng chính họ cần góp phần vào việc thay đổi thể chế chính trị. Bởi vì khi người dân được tự do, xã hội công bằng hơn, thì chính con cháu họ sau này sẽ được hưởng, nhờ kinh tế phát triển tốt hơn. Ngược lại, tình trạng bất công sẽ kiềm hãm kinh tế, làm tất cả cùng nghèo. Nếu ngày nay họ được hưởng 1% của lợi tức chung 100 đồng, thì họ cũng chỉ có một đồng. Khi kinh tế phát triển GDP lên thành 1,000 đồng, thì dù chỉ hưởng 0.5% họ vẫn được 5 đồng! Muốn xã hội công bằng để kinh tế phát triển, phải dân chủ hóa.
Ngô Nhân Dụng

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Loạt Bài “Bắt Đầu Từ Zero” – Bài 2

Bài 2: Đíểm Đến và Mục Tiêu
Alan Phan
23 June 2015

“Bạn không bao giờ nên nghi ngờ khả năng của mình trong việc thành đạt, thể hiện, vượt khó và chuyển lửa cho bất cứ điều gì – You must never doubt your ability to achieve anything, become anything, overcome anything and inspire anything – Tasha Hoggatt”
Trong bài trước, chúng ta đã hiểu rõ 3 nguyên tắc thiết yếu cho quy trình căn bản của bất cứ dự án, hành trình, sự nghiệp nào: mục tiêu, kế hoạch và thực hiện.
Phần lớn chúng ta nghĩ rằng bước đầu tiên có lẽ đơn giản vì ai mà chẳng biết ý muốn của mình. Tuy vậy, các bạn trẻ thường lúng túng, vì xác định điểm đến và mục tiêu của cá nhân tùy thuộc khá nhiều vào những tác động khác, không chỉ là ham muốn của riêng mình.
Trước hết, chúng ta nên phân biệt giữa đích đến và mục tiêu. Ví dụ, tôi và bạn cùng có một điểm đi là Saigon và điểm đến là Hà Nội. Chúng ta có thể cùng sử dụng như nhau một phương thức di chuyển: máy bay, đường bộ, đường thủy, xe lửa…nhưng mục tiêu hai đứa lại khác biệt và có thể đối nghịch. Tôi đi công tác bàn thảo hợp đồng cho một dự án kinh doanh; bạn đi Hà Nội để …thăm lăng Bác và những người bạn cũ gần đất xa trời? Trong khi điểm đến nói về một vị trí cụ thể (WHERE) ; mục tiêu mới là quan trọng vì đây là cái tại sao (WHY) của hành trình. Biết WHERE mà chưa biết WHY thì dễ bị ảnh hưởng và sức ép của lực đẩy bên ngoài (gia đình, xã hội, văn hóa, hoàn cảnh, vĩ mô…).
1. Điểm đến (Where?)
Dù mỗi cá nhân là một thế giới khác biệt, riêng lẻ và đa nguyên, sự lựa chọn điểm đến của những bạn trẻ thường có nhiều mẫu số chung, thể hiện tâm lý bầy đàn của môi trường sống.

Khảo sát các bạn sinh viên sắp ra trường cho thấy điểm đến mà họ nghĩ sẽ làm họ hạnh phúc và thỏa mãn thường quay quanh đề tài tiền bạc, quyền lực hay danh tiếng. Đa số muốn có nhiều tiền như các đại gia, bao quanh bởi siêu xe và chân dài nên mơ làm business; khá đông các bạn khác muốn sống ổn định thoải mái và mong tìm một job thật ngon. Họ cần một số lương ổn định để giúp gia đình nghèo khó hay lấy được vợ đảm đang. Nhiều sinh viên lại năng động và tham vọng hơn: họ cho rằng quyền lực và quan hệ mới là chìa khóa vàng của kho báu (nhất là ở Việt Nam). Họ đăng ký gia nhập Đảng, học cách nói của vẹt, biết đủ trò ăn chơi nhậu nhẹt để chiêu đãi, thấm nhuần thủ thuật đội trên đạp dưới…Vài anh chị lại bị hấp dẫn bởi tiếng tăm của ca nghệ sĩ, người mẫu hay diễn viên. Một số sinh viên khác thì muốn sống cho lý tưởng xã hội, tìm niềm vui trong những phục vụ thiện nguyện, ngày đêm suy tư về giải pháp xóa đói giảm nghèo hay cải tổ giáo dục. Một thiểu số nhỏ lại quay về với tâm linh, với tôn giáo…cho rằng cứu cánh của mọi vấn nạn con người là niềm tin vào các Ơn Trên.
Dĩ nhiên, tất cả những điểm đến mơ ước thường đi kèm với nhiều rào cản: nội tại như kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức, sức khỏe, ý chí, tự ái, kiên nhẫn…ngoại lực như gia đình, chế độ, hoàn cảnh, cơ hội, may rủi…Biết rõ khả năng đối phó của mình với những rào cản này cần một nghiên khảo và phê phán trung thực, vì nếu không, chúng ta có thể lãng phí rất nhiều ngưồn lực, cho những dự án nửa vời, dễ tạo ra một thói quen tiêu cực và thất vọng trong tương lai.
Nên bỏ chút thì giờ, ngồi ghi lại những giới hạn và lợi thế cạnh tranh của mình khi xác định điểm đến. Nếu suốt đời đã thâm nhuần tư tưởng Mác-Lê-Mao qua sách vở, thì việc trở thành một giáo sư rao giảng về kinh tế thị trường sẽ làm trò cười (sau lưng thôi) cho các đồng nghiệp. Nếu người thấp lùn dưới 1.4 mét thì giấc mộng làm “siêu sao” bóng rổ khó thành hiện thực; còn người cao quá 2 mét thì đừng nên cố gắng làm nài ngựa đua. Quay qua hoàn cảnh và môi trường bao quanh, một sinh viên thích độc lập, sáng tạo và năng động, thì nên quên chuyện trở thành một “đầy tớ” của XHCN; nếu gia đình không thuộc thành phần COCC thì hay nhất là lo tìm sự nghiệp ở một công ty đa quốc, ngoài biên giới.
Một điều cần luu ý nữa là điểm đến phải đơn giản và cụ thể. Một chuyên gia mà đích đến quá phức tạp, nhiều định hướng (đôi khi mâu thuẫn nhau) phải là một thiên tài hay sẽ chỉ là một anh nghiệp dư , know nothing because he/she knows everything (không biết gì vì gì cũng biết). Cụ thể nghĩa là biết nhắm tới cái chuyên biệt rõ ràng (specific). Chẳng hạn, muốn thành đại gia, bạn nên đặt một đích đến là năm 40 tuổi bạn sẽ có một tài sản dư hơn 5 triệu đô la hay 500 triệu đô la (sau khi trừ ra nợ nần). Đừng nghĩ chung chung là bạn sẽ có rất nhiều tiền; vì không ai thiết lập được một kế hoạch khả thi dựa trên tổng quan.
Một phương thức thông dụng trong việc xác định điểm đến là bắt đầu với một danh sách dài dựa trên đam mê, ham thích và “thời trang”, rồi thu ngắn lần lượt với những rào cản, giới hạn…cho đến khi chỉ còn khoảng 5, 10 lựa chọn. Sàng lọc kế tiếp sẽ là một tập trung vào những con số specific để có kết quả sau cùng là lựa chọn “tối ưu” trong tình trạng hiện tại. Dĩ nhiên, đích đến , cũng như mục tiêu trong quy trình này, có thể thay đổi theo thời gian, sức khỏe, hoàn cảnh hay gia đình. Mỗi 6 tháng, bạn nên khởi sự lại bước đầu tiên để điều chỉnh nếu cần.
Trong trường hợp bất khả kháng, nên có can đảm “xóa bài làm lại”. Thói quen “bỏ thì thương, vương thì tội” đã làm khốn đốn bao nhiêu tài năng không quyết đoán.
2. Mục Tiêu (WHY)
Một hành trình dài thường vướng mắc nhiều rào cản ngoài dự đoán; và những tình huống bất ngờ (những con thiên nga đen) luôn tạo những biến động gọi là game-changers (xấu hoặc tốt). Nếu không chắc chắn lắm về cái WHY của cuộc chơi, bạn sẽ có xu hướng bỏ cuộc dễ dàng, không muốn bám trụ để qua thời đoạn khó. Cái WHY cũng sẽ đáp ứng những thôi thúc, đam mê trong nội lực và việc tranh đấu để biểu hiện con người thật của mình là một hạnh phúc tinh thần rất cấn thiết cho sự phát triển thực sự.

Cũng như khi xác định đích đến, bạn phải ghi rõ hết mọi chi tiết về những “thứ” mình nghĩ là quan trọng cho cuộc sống hàng ngày, và đồng thời làm mình vui thích. Đây là một danh sách đầy kín những hoạt động trong công việc hay trong buổi chơi nghỉ; gồm những món đồ tiêu dùng hay trang sức như siêu xe hay chân dài; từ những kiến thức suy tư về nghệ thuât, kinh tế đến những giải pháp sáng tạo cho công nghệ, xã hội; từ những cống hiến đóng góp cho gia đình hay người yêu đến những giây phút thiền định bên Chúa, Phật…Sau đó, là xếp đặt thứ tự ưu tiên cho từng “món” trong “thực đơn đời”.
Quan trọng hơn hết là phải bắt đầu mỗi “thứ” bằng câu hỏi “tại sao?”. Vì một trải nghiệm đã qua, vì một khung kiến thức mới, vì bạn bè đang háo hức với tình huống và cơ hội, vì đó cũng là lựa chọn của thần tương, vì các mạng truyền thông đang cổ vũ (không phải trò cướp hiếp giết), vì ngài Tổng Bí Thư hay cha mẹ vừa đọc diễn văn????
Đợt sàng lọc đầu tiên cho danh sách dài này là loại bỏ những thứ có ưu tiên thấp nhưng lại mâu thuẫn với thứ có ưu tiên cao hơn. Và phải hỏi lại (trong nghiêm túc của những giây phút tĩnh lặng) : đây có thực sự là “thứ” mình muốn theo đuổi trong một thời gian dài, có thể là vài chục năm trong đời mình. Nên nhớ là tiền bạc mất đi có thể tìm lại được, nhưng thời gian thì không bao giờ.
Sau khi gói gọn danh sách còn chừng 10 “thứ”, bạn nên so sánh những lựa chọn với sự phù hợp của kỹ năng, kinh nghiệm, nguồn lực (hiện tại và tiềm năng), áp lực hoàn cảnh, lợi thế giữa môi trường chung quanh, chuẩn mực đạo đức, tâm linh hướng thượng hay tình yêu thương tha nhân.
Nếu bạn đã nghiên khảo cẩn thận về mọi yếu tố, bạn sẽ thấy mục tiêu thường hòa hợp tương đồng với đích đến. Nếu không, hãy bắt đầu lại từ đầu và tiếp tục giải mã con người và ước nguyện sâu kín của mình.
Cách hay nhất là hình dung ra con người bạn 10 năm, 20 năm sắp tới. Có phải đây là mẫu hình tượng mà bạn đang tìm kiếm?
Cá nhân tôi, mỗi khi tôi muốn thẩm định lại đích đến và mục tiêu của phần đời còn lại, tôi hay tìm đến một nơi thật yên tĩnh, không đụng đến điện thoại hay Internet, không ai có thể liên lạc với mình trong vài ngày. Xóa bỏ hết mọi định kiến trong tư duy và tập trung vào một con người mà mình nghĩ là cái “ego” đích thực của mình, với tất cả xấu tốt, thành bại, khả năng hay giới hạn.
Gân đây nhất, tôi vẫn cho rằng một đời thanh bình phải gom đủ 6 bình diện: sức khỏe, tâm linh, tinh thần, gia đình xã hội, kiến thức và tiền bạc. Sáu góc cạnh này tôi đã xác định cả 20 năm vừa qua, không gì thay đổi. Nhưng theo tuổi tác và nhu cầu của môi trường mới, tôi đã điều chỉnh đổi thứ tự ưu tiên. Sức khỏe từ hạng 4 đã vượt lên hàng đầu, tiền bạc từ hàng 3 đã xuống hàng cuối.
Trong tương lai, những thứ tự ưu tiên này có thể đổi ngôi vài lần nữa và các yếu tố mới có thể xuất hiện.
Khi “đích đến và mục tiêu” được định vị rõ ràng và chuyên biệt, “kế hoạch” dựng nên sẽ có một nền tảng bền vững và chính xác. Sau cùng, bước “hành động” sẽ không có mầu sắc của thụ động, lè phè, vô định và dễ xao động theo ý thích và lực đẩy nhất thời. Con đường trước mặt sẽ hoàn toàn quyết đoán, kiên trì và đầy đủ niềm tin.
Alan Phan
(Bạn phải chấp nhận thất bại như một kết quả có thể xẩy ra cho vài thử nghiệm. Nếu không có thất bại, có nghĩa là bạn chưa thử thách ranh giới của mục tiêu – You accept failure as a possible outcome of some of the experiments. If you don’t get failures, you’re not pushing hard enough on the objectives – John Poindexter)