Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Về Việt Nam Ăn Nhậu

Về Việt Nam Ăn Nhậu
Tác Giả: Chu Tất Tiến – Việt Báo – 9 June 2015
Có ông về Việt Nam rồi trở lại Mỹ hí hởn khoe các màn ăn uống độc đáo mà chỉ tại quê nhà mới có thể cung cấp được. Ông này chê phở ở khu Bolsa thiếu hương vị, chê Bún Bò Huế ở Thủ Đô Tị Nạn không nồng, chê Hủ Tiếu Cali kém phẩm chất, dĩ nhiên là chê tuốt luốt các món ăn ở khắp nước Mỹ, từ Tếch Xát, Hiu tôn, đến Oắt sinh Tông, đâu đâu cũng dở.
Cứ nghe ông “Vịt” kiều này nói chuyện thì chỉ muốn nhào ra phi trường lấy vé máy bay về liền một khi. Nào “Tiết Canh Tôm” là một giọt đen đen ở đầu con tôm hùm, chích vào cho nhỏ xuống ly ruợu. Giá cả phải chăng, sơ sơ có chục đô la một ly ruợu này thôi, nếu sơi cả con thì một trăm đồng. Chuyện nhỏ! Rồi tôm xanh tươi rói mới bắt ở sông, ngồi ở quán cạnh sông, nhìn chủ quán vớt lên, cho vào chảo, ôi chao, tuyệt cú mèo. Cũng chẳng tốn bao nhiêu. Chỉ vài chục đô cho một đĩa. (Có vị “Vịt” kiều bị dụ đi ghe ra giữa sông, ngắm trời đất mênh mông, ăn đĩa tôm, bị chém một trăm đô, không trả đủ, không cho về!).
Rồi thì các quán hàng ăn liên tu bất tận, cả chợ toàn là quán nhậu, muốn chi cũng có, từ thịt “rồng” là loại tắc kè khổng lồ, đến cá sấu, nhỏ hơn thì bọ cạp, rắn rết, (hình như chưa có món giun đũa chiên dòn?). Bình dân thì heo con, khách có thể ngắm người chủ thọc tiết chú heo, lột da, lọc thịt, rồi nấu nướng liền tay. Vịt, gà vào thời đại “cúm gia cầm” chơi tuốt luốt, kệ nó, chết sống có số! Có lẽ chỉ có món tiết canh vịt thì bà con hơi ngán, vì chả có nấu nướng gì, cứ máu sống mà trôi tuột vào cuống họng, thì vi khuẩn cúm theo vào hàng tỷ tỷ con.
Xem mấy cuốn phim quảng cáo cho Việt Nam ăn nhậu đang được phổ biến tùm lum, mục đích dụ khị “Vịt” kiều mang đô la về nhà, mới thấy những người khá giả dân mình đang bội thực. Phim nào phim nấy đều quay cảnh bàn ghế bóng láng, rượu đổ tràn ly, “Vịt” ta há mồm nuốt miếng những món sống sít một cách ngon lành.
Dân nhậu sang thì làm mật gấu tươi. Mấy ông chủ gấu cầm dụng cụ lấy mật, chọc ngay vào bụng con gấu đang rên rỉ, vật vã, mà rút ra một chút mật cho vào ly ruợu cho ông khách Thượng Đế, có thể cũng là “Vịt” kiều, hào hứng tu liền, hy vọng tối nay, đi nguyên một chuyến tầu với em bồ nhí mới lượm được trong quán cà phê ôm. (Danh từ xã hội chủ nghĩa thời mới: “đi tầu nhanh” có nghĩa là không huỡn mà thưởng thức, vù một cái là tầu chạy qua luôn, thì từ 150 đến 300 ngàn, tùy em trẻ hay già. “Bao nguyên chuyến” là rả rích luôn một đêm phải 1 triệu trở lên.)
Thay đổi không khí thì vào mấy quán cà phê láng coóng, trang trí hấp dẫn, kiểu mới kiểu cũ, chỉ có ăn uống mà không có ôm. Đi xa hơn, xuống mấy tỉnh thành, quán nào quán nấy sang trọng hơn Tây! Tóm lại, nếu chỉ nghe mấy “Vịt” kiều kể chuyện, xem phim ăn uống, thì thấy hình như đất nước là cả một nhà hàng khổng lồ, mênh mông, đâu đâu cũng có mùi thơm, từ mùi thịt chó, đến mùi thịt “người” do các em thơm như múi mít chào mời.
Theo tình hình kinh tế đi lên (mà hình như đang xuống?) thì các đại gia đỏ và các Vịt kiều hiện đang làm Thượng Đế Ăn Uống, nghĩa là muốn ăn cái chi, thì có cái nấy và càng ngày càng chơi sang hơn. Có những nhà hàng mà khi bước vào cửa, mà có dưới một ngàn đô xanh thì run như rẽ, vì nguyên một chén xúp khai vị đã gần 100 đô rồi, nói chi đến mấy món chính? Nói chi đến mấy cặp chân dài đứng khoe hàng hấp dẫn mê tơi bên cạnh?
…
Ôi chao! Sao mà ăn uống sướng thế? Nhưng, có mấy người biết được phía sau nhà bếp có cái gì không? Hồi nẫm, nghe tin báo chí, thấy tin ở Trung Quốc có “hơn 2 triệu con chuột cống đang tiến từ vùng nước lụt vào các nhà hàng ăn”, nghĩa là 2 triệu chú chuột này bị nước lụt nên ào vô đất liền, bị phe ta mần thịt, đem bán cho du khách. Những chú chuột bị lụt, nên ăn đủ thứ, dòi bọ, chân tay người chết, thú vật chết… rồi bị các tay phù thủy biến hóa thành các món ăn ngậy béo, hấp dẫn vô cùng với các tay ham nhậu của lạ. Cùng đồng thời, có tin một phóng viên đã vào tận trong bếp một vài trung tâm làm bánh bao, quay lén được những món hấp dẫn trong bánh bao chỉ là những tấm các tông cũ, đem ngâm nước cho mềm, rồi xắt nhỏ, ngâm tẩm sao đó rồi cho vào làm nhân bánh!
Còn ở Việt Nam, đàn em của Trung quốc thì sao? Có chắc là sạch sẽ hơn đàn anh không? Theo tin từ báo chí trong nước, từ hồi nẫm, có nhiều vụ khám phá thấy các hộp sữa Ông Thọ là một thứ đường đùng đục, không biết là đường gì, nước uống chứa một số lượng vi trùng đủ làm một con bò lăn quay, nước đá làm bằng nước “rô bi nê” không thanh lọc, nước mắm làm từ nước lấy ngay trong hồ cá tra, mắm tôm có trộn…phân người (í ẹ!), cá nhiễm độc, tôm nhiễm chì và thủy ngân…
Cá nóc, ai cũng biết là ăn vào sẽ ngộ độc, vậy mà thiên hạ ép khô rồi bán tỉnh bơ. Không biết bao người đã chầu thiên cổ vì nhậu loại cá này! Thịt cá đã vậy, còn rau thì sao? Người làm vườn đều hiểu rằng chả có phân bón nào làm tốt rau hơn phân… tươi của loài người. Gần đây, khi phương tiện kỹ thuật đã tràn vào thôn quê, thì người ta trộn phân bón vào thuốc trừ sâu cho cây lớn nhanh! Chưa hết, người ta còn có thể coi những tấm hình chụp từ báo chí trong nước rất độc đáo: mấy người bán rau sống, đứng ở mấy cái cống cái, nhúng rau xuống cống cho… mát rau trước khi mang rau vào thành phố! Mà cống cái là một kho chứa những chất kinh khủng nhất mà trí tưởng tượng loài người có thể nghĩ đến. Nhúng rau xuống cống rồi mang vào chợ.. thì đúng là giết người không dao. Còn rượu, đa số ruợu ta mà muốn ngon thì phải thêm tí tí thuốc trừ sâu. Có thuốc trừ sâu rầy vào ruợu, sẽ thấy ruợu lóng lánh, trong sáng, không có cặn. Bánh phở thì sao nhỉ? Chắc ai cũng nghe tin bánh phở, bánh hủ tiếu trộn “phóc môn” là thuốc ướp xác…
Những năm đầu thế kỷ 21, các thực phẩm xuất cảng của Việt Nam đa số bị trả lại vì có chứa những kháng sinh, trụ sinh, thủy ngân, chì và các chất độc hại khác. Thịt gà, thịt vịt từ Trung Quốc, nơi có tổ bệnh cúm gia cầm, tuồn vào Việt nam qua các cửa khẩu chính thức và không chính thức hàng ngàn tấn. Kinh hoàng nhất là bản tin tại một số tỉnh thành có dịch heo bệnh chết, những con heo đã bị chôn xuống cát lại đuợc lấy lên, bỏ lòng, xẻ thịt mang đi! Tại một làng kia có 15 con heo chết chôn trong một ngày đàng hoàng, sáng hôm sau, chỉ còn trơ mấy cái lỗ với các bộ lòng ngổn ngang. Người ta hỏi thịt mang đi đâu, thì mấy tên trộm cho biết bán cho lái buôn thịt mang vào thành phố làm nhân bánh bao và các thứ bánh khác! Úy Cha mẹ ơi! Heo đã chết vì bệnh dịch rồi, thì.. chó cũng không dám ăn, vậy mà có những kẻ dã man, đang tâm lấy thịt nhồi bánh, bán cho dân chúng ăn!
Ôi đất nước ta đang vui sướng vì ăn và cũng đau khổ vì ăn. Ăn bậy, ăn tạp và ăn phung phí. Ăn lấy chết và ăn để hủy hoại đất nước. Môi trường sinh thái của đất nước đang tàn dần, nhiều loại thú rừng đang tuyệt chủng, vậy mà có hàng ngàn, hàng vạn quán nhậu thú rừng mở tại các cửa rừng dưới cây dù che chở của quan lại địa phương, mỗi ngày hàng chục tấn thú rừng bị giết để thỏa mãn khách chơi, gồm “Vịt” kiều và Tư Bản Đỏ.
Cứ đà này, mai mốt vào rừng không còn nghe tiếng chim kêu vì bị săn bắn hết rồi, không còn cọp gầm vì đã thành cao hổ cốt rồi, không còn rắn, rùa, baba, thỏ, sóc, kỳ đà, kỳ nhông… Chúng đã vào bụng những người không tim cả rồi. Thiên nhiên đã lập ra sự cân bằng sinh thái, có những con chim dọn rác, có những con chim bắt sâu, giết hết chúng rồi, thì sâu bọ hàng tỷ con sẽ tràn lan vào nhà.
Bởi vậy, có những làng phải bỏ chạy vì nạn sâu róm, mà không biết lý do là vì cả những con chim sâu bé nhỏ nhưng sung sức như một đạo binh giết sâu đã bị biến thành thực phẩm cho những cái miệng tham lam mất rồi. Có những con rắn để bắt chuột làm hại cây cỏ, thì cũng bị lùa vào rọ cả rồi. Cú mèo, dơi, những con vật có ích, cũng đã không còn thấy đâu nữa. Những con ve ca hát cho rừng vui nay trở thành món nhậu đã đứa. Mấy con người đi lùng ve sầu không cần biết rằng “17 năm trường, một kiếp ve”, những con ve sầu này phải núp dưới đất 17 năm để trồi lên có một mùa rồi chết đi, họ cứ lùa, cứ vơ vét cho đầy túi tham, mặc các chú ve nghệ sĩ kia chưa kịp làm công việc truyền giống.
Tội nghiệp cho đất nước Việt Nam, mai kia một số lớn rừng già sẽ biến thành sa mạc, con cháu chúng ta không còn nghe đến tên thú rừng nữa. Chỉ vì cái đuôi xã hội chủ nghĩa nối dài, sinh sản những Đại Gia, Tư Bản Đỏ và mấy Vịt Kiều có mồi không có tim mà chỉ còn cái mồm, cái bao tử!
Chu Tất Tiến

Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

Ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
RFA – 9 June 2015
Một người bán ve chai thu gom bao nylon hoặc các thứ gì may ra có thể bán được dọc theo một con kênh bị ô nhiễm nặng tại Hà Nội, ngày 20 tháng mười năm 2006
Ô nhiễm môi trường là vấn nạn chung của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam… Trước thảm trạng đó các nước đều phải có biện pháp khắc phục trước khi phải trả giá đắt lúc mà ô nhiễm vượt quá mức được giới chuyên môn gọi là ‘điểm tới hạn’.
Thực tế ô nhiễm tại Việt Nam ra sao? Và biện pháp giải quyết được tiến hành thế nào?
Bài học Trung Quốc
‘Phát triển bằng mọi giá bất chấp đánh đổi môi trường’ là điều mà giới chuyên gia nêu ra qua thực tế Trung Quốc. Đây là nơi được mệnh danh ‘công xưởng sản xuất’ của thế giới từ mấy thập niên qua.
Chính các cơ quan chức năng chuyên về môi trường của Trung Quốc trong thời gian gần đây phải thừa nhận tình trạng môi trường không khí, nước, đất bị hủy hoại sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy về mặt kinh tế và xã hội.
Bộ trưởng Bảo vệ Môi trường Trung Quốc hiện nay, ông Trần Cát Ninh, lên tiếng thừa nhận những phản đối về môi trường ô nhiễm sẽ gây ra bất ổn xã hội, từ đó có thể khiến bất ổn chính trị.
Việt Nam cũng được cho là đang theo ‘vết xe đổ’ của Trung Quốc: chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng mà không quan tâm đúng mức đến môi trường. Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, người quan sát kỹ tình hình ô nhiễm tại Việt Nam trong nhiều năm qua, có đánh giá về điểm này:
“ Về mức độ phát triển cũng như ô nhiễm, Việt Nam chỉ rập khuôn đi theo con đường của Trung Quốc. Trung Quốc từ khi mở cửa từ năm 1979 trở đi, chúng ta thấy rõ ràng tình trạng mà như hiện nay có những ngày thành phố Bắc Kinh người dân không hề thấy ánh sáng mặt trời. Và một số khói bụi từ các nhà máy sản xuất ở Vân Nam có nhiều lần được khám phá ra ở thành phố Seattle tận bên Hoa Kỳ, phía tây Thái Bình Dương. Điều đó chứng tỏ mức độ ô nhiễm đó.
Việt Nam mở cửa từ năm 1986, nghĩa là chừng 10 năm sau Trung Quốc. Và Việt Nam chập chững đi vào khủng hoảng về môi trường giống y hệt như của Trung Quốc. Điều này có thể càng ngày càng tệ hại hơn vì có thể nói hầu hết các cơ sở sản xuất hạng nặng như cơ sở sản xuất gang thép, cơ sở sản xuất điện năng dùng than đá và đặc biệt hai cơ sở khai thác bô xít lớn ở Tân Rai và Nhân Cơ. Và dự trù còn có thêm 6 cơ sở nữa tại Daknong; thì chúng ta thấy rõ với qui trình sản xuất lạc hậu, với não trạng sản xuất như người Trung Quốc đã làm cho đất nước Trung Hoa thì tình trạng của Việt Nam có thể càng ngày càng mau trầm trọng hơn, càng mau nguy kịch hơn nếu chúng ta không có biện pháp nào để giải quyết vấn đề.”
Về mức độ phát triển cũng như ô nhiễm, Việt Nam chỉ rập khuôn đi theo con đường của Trung Quốc. Trung Quốc từ khi mở cửa từ năm 1979 trở đi, chúng ta thấy rõ ràng tình trạng mà như hiện nay có những ngày thành phố Bắc Kinh người dân không hề thấy ánh sáng mặt trời
TS Mai Thanh Truyết
Chuyên gia môi trường thuộc Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, giáo sư Lê Huy Bá, đưa ra đánh giá về điều được nói là ‘vết xe đổ’ của Trung Quốc trong vấn nạn ô nhiễm môi trường:
“Bởi vì mình là dạng các nước xã hội chủ nghĩa với nhau; nói chung không hoàn toàn giống nhau nhưng cũng có phần tương đối đúng vì đang phát triển với khát vọng phát triển về kinh tế mạnh mẽ mà không coi trọng về môi trường sẽ dẫn đến những chuyện khó xử.
Nếu làm mạnh tay cách đây 10 năm thì đỡ lắm rồi; bây giờ mạnh tay thì cũng tốt thôi nhưng chỉ có tính chất vớt vát, chữa cháy thôi!”
Thực tế ô nhiễm tại Việt Nam
Qua theo dõi tình hình môi trường tại Việt Nam, tiến sỹ Mai Thanh Truyết hiện sinh sống tại bang California, có những đánh giá cụ thể về tình trạng ô nhiễm của các lĩnh vực khác nhau như sau:
“Đứng về tổng thể thì tất cả môi trường: không khí, đất, cũng như nước mặt, nước ngầm càng ngày càng tệ hại.
Nói về không khí thì ngày nay Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hay Sài Gòn cũ, chúng ta không còn thấy những bàn tay, bộ mặt trong trắng mà chỉ những bộ mặt như người ninja của Nhật bản- bịt mặt, đeo găng tay. Thứ nhất vì bụi ô nhiễm quá cao. Theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc, tiêu chuẩn của hạt bụi đường kính 10 micro meter quá nhiều nên phải bịt mặt. Ngoài nguồn bụi là nguồn khí độc thải ra do hằng triệu xe máy hai bánh. Nguồn xăng ở Việt Nam có độ octane cao, nhưng trong thực tế pha nhiều benzene. Do đó khí benzene tồn tại trong không khí; mà khí benzene là một khí có nguy cơ tạo ra ung thư. Cũng do vậy ‘tầng ozone mặt đường’ tức từ 1-2 thước chứa nhiều hóa chất độc hại trong có có benzene. Thực tế cho thấy hằng năm tỷ lệ người mắc bệnh phổi tăng cao, đặc biệt trẻ em dưới 5 tuổi.
Qua 19 năm phát triển Việt Nam có trên 265 khu gọi là khu chế xuất hay là khu phát triển công nghiệp. Khu chế xuất Tân Thuận là khu đầu tiên. Với trên 265 khu như thế từ bắc chí nam, và ở thành phố Hồ Chí Minh chẳng hạn còn có trên 20 ngàn cơ sở sản xuất lẫn lộn trong khu dân cư khiến cho khí thải, chất thải rắn và chất thải lỏng đều ‘không được’!
Đối với mặt nước, các chất phế thải lỏng do không có hệ thống thanh lọc, xử lý do đó nguồn nước thải đi vào các sông rạch. Đến nay chúng ta thấy rõ các sông Đuống, sông Luộc quanh Hà Nội cũng như hệ thống kênh rạch trong nội thành Sài Gòn hầu như biến thành những dòng sông đen.
Các nước xã hội chủ nghĩa với nhau; nói chung không hoàn toàn giống nhau nhưng cũng có phần tương đối đúng vì đang phát triển với khát vọng phát triển về kinh tế mạnh mẽ mà không coi trọng về môi trường
GS Lê Huy Bá
Đó là một hệ lụy mà nếu không giải quyết thì ngay cả sông Đồng Nai, sông Sài Gòn sẽ biến thành dòng sông đen vì nguồn chảy tự nhiên, sự điều tiết tự nhiên, sự thanh lọc thiên nhiên đã đến ‘điểm tới hạn’.
Đối với đánh giá về ‘điểm tới hạn’ của tình trạng ô nhiễm mà tiến sỹ Mai Thanh Truyết nêu ra; giáo sư Lê Huy Bá tại Sài Gòn có ý kiến:
“Điểm tới hạn thì nói cũng hơi quá. Có một số kênh rạch ở thành phố (Sài Gòn) thì tới hạn thật; nhưng môi trường đất chưa đến mức tới hạn. Về nước sông thì có một số sông tới hạn nhưng có một số sông thì chưa như sông Đồng Nai chưa tới hạn, còn sông Sài Gòn thì gần đến tới hạn. Kênh rạch của thành phố quá tới hạn chứ không phải tới hạn. Không khí của nông thôn còn sạch, không khí của thành thị rất bụi gần mức tới hạn. Tại các khu công nghiệp của thành phố thì tới hạn rồi, khu nông thôn thì chưa, còn khu ngoại thành mà có các khu công nghiệp thì tới hạn rồi.
Các trục giao thông chính ô nhiễm bụi đã tới hạn.”
Thực thi luật pháp
Tương như như nhiều nước khác trên thế giới, chính phủ cũng như các cơ quan chức năng tại Việt Nam cho ban hành luật cũng như những qui định pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Vậy việc thực thi và công tác kiểm tra, chế tài trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam lâu nay ra sao?
Tiến sỹ Mai Thanh Truyết đưa ra nhận định:
“Chính cơ chế này tạo ra một tập thể cán bộ từ trên xuống dưới cùng nhóm lợi ích với nhau ‘tham nhũng’. Lấy ví dụ giản dị là việc khai thác bô xít tại Tân Rai và Nhân Cơ hoàn toàn không qua nghiên cứu tác động môi trường nên vừa qua bùn đỏ nhiều lần tràn xa xã Tân Thắng cách Bảo Lộc 15 cây số. Mặc dù trong bộ Luật Môi trường, bộ Luật Đầu tư, luật xây dựng các cơ sở sản xuất hóa chất đều có ghi cần phải nghiên cứu tác động môi trường cũng như phải có hệ thống xử lý chất phế thải nhưng điều đó hầu như không xảy ra tại Việt Nam.”
Đối với mặt nước, các chất phế thải lỏng do không có hệ thống thanh lọc, xử lý do đó nguồn nước thải đi vào các sông rạch. Đến nay chúng ta thấy rõ các sông Đuống, sông Luộc quanh Hà Nội cũng như hệ thống kênh rạch trong nội thành Sài Gòn hầu như biến thành những dòng sông đen
TS Mai Thanh Truyết
Một người sinh sống và hoạt động trong ngành môi trường ở Việt Nam như giáo sư Lê Huy Bá cũng chỉ ra những bất cập tồn tại lâu nay trong nước về tình trạng thực thi luật pháp bảo vệ môi trường:
“Nói chung luật, qui định dưới luật khá đầy đủ, nhưng ngay cả luật, nghị định đôi lúc chồng chéo nhau như qui định về chất thải nguy hại người ta cũng cãi nhau khiến cho các cơ sở quản lý luật pháp ở cấp tỉnh, huyện khó thực thi.
Nhiều người thấy điều đó nhưng cách quản lý của mình (Việt Nam) trì trệ, không linh hoạt và ‘trên bảo dưới không nghe’. Ngoài ra không phải tất cả nhưng còn có một số chưa thống nhất.”
Giáo sư Lê Huy Bá nêu ra một số dẫn chứng:
“Ví dụ để theo dõi ô nhiễm không khí, có khoảng 6-7 trạm quan trắc tự động nhưng nay hư hết rồi, không còn chính xác nữa; nhưng mấy năm rồi cứ để như thế; không đầu tư thêm, không sửa chữa, không thay thế gì cả.
Ví dụ thứ hai là vấn đề quản lý lưu vực sông, cách đây gần mười mấy năm rồi có lập ra Ban Quản lý Lưu vực Sông nhưng có hoạt động gì đâu. Mỗi tỉnh có cách quản lý riêng, không ai nói ai được cả, không thống nhất với nhau. Mỗi tỉnh muốn đi một mình, có khi dẫm đạp lên nhau, có khi lại để cả khoảng trống, không ai lo cả!”
Cảnh báo cũng như thực tế cho thấy nếu chỉ hô hào suông mà không có biện pháp ngay từ lúc này thì một khi ô nhiễm đạt ‘điểm tới hạn’ thì đã quá muộn và giá phải trả sẽ đắt gấp nhiều lần so với hiện nay.
Tuy nhiên hầu như mọi cảnh báo của giới khoa học vẫn không được các nhà quản lý đất nước tại Việt Nam nghe như chính thừa nhận của giáo sư Lê Huy Bá; một chuyên gia trong ngành ngay tại Việt Nam.

Tỷ Phú Đô La Thứ 3 Của Việt Nam???

Trịnh Vĩnh Bình kiện chính phủ VN đòi bồi thường 1 tỷ USD
Tác Giả: Huỳnh Bá Hải – DLB – 9 June 2015
- …Tổ hợp luật sư của ông Trịnh Vĩnh Bình kỳ này cũng là các luật sư từng giúp cho tỷ phú dầu mỏ của Nga là ông Khodorkovsky. Thuận lợi cho ông Bình và tổ hợp Luật sư của ông là chính Tòa án Quốc tế này đã tuyên án chính phủ Nga phải có nghĩa vụ bồi thường 50 tỷ USD cho ông Khidorkovsky. Lần này cùng với các hiệp ước thương mại giữa Việt Nam và Hoà Lan cùng với án lệ có sẵn thì phía Việt Nam thua kiện là rất cao…
*
Một nguồn tin thân cận cho chúng tôi biết là ông Trịnh Vĩnh Bình chính thức đưa chính phủ Việt Nam ra Tòa án Trọng tài Quốc tế ở Den Haag-The Hague (Tiếng Anh) hay La Hay (Tiếng Pháp) – Hoà Lan.
Vụ kiện chính thức khởi hành vào tháng 1.2015. Ngày 30.4.2015 phía Tòa án Quốc Tế đã chính thức gởi lệnh thông báo đến nhà nước Việt Nam vào đúng ngày đảng cộng sản ăn mừng 40 năm cưỡng chiếm Miền Nam. Người đứng tên là ông Trịnh Vĩnh Bình, mang quốc tịch Haà Lan. Nội dung đòi chính phủ Việt Nam với các liên can trực tiếp là Bộ kế hoạch đầu tư và UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu phải bồi thường cho ông 1 tỷ USD vì đã trắng trợn vi phạm cam kết mật giữa ông và phía chính phủ Việt Nam vào năm 2005.
Ông Trịnh Vĩnh Bình sinh năm 1947. Ông đến Hoà Lan tỵ nạn và vào năm 1987 ông đã đem 3,5 triệu USD về Việt Nam đầu tư. Ban đầu ông đã rất thành công và nâng tổng số tài sản đầu tư lên đến 30 triệu USD. Tuy nhiên, sau đó nhà nước Việt Nam đã tịch thu tài sản của ông và đem ông ra xét xử 2 cấp sơ thẩm kết án 13 năm tù qua phúc thẩm giảm xuống 11 năm tù. Sau khi bị giam tù ông tìm cách trốn qua Cambodia và về Hoà Lan kiện ra một Trung tâm trọng tài quốc tế tại Stockholm, Thụy điển đòi bồi thường 100 triệu USD vào năm 2005. Cầm chắc thất bại nên phía Việt Nam chọn hòa giải ngay với các cam kết:
A. Phía Việt Nam có các nghĩa vụ:
1. Bồi thường cho ông Trịnh Vĩnh Bình 15 triệu (mười lăm triệu) USD là tiền chi phí đi kiện số tiền này giao ngay trong năm 2005
2. Phía Việt Nam trao trả toàn bộ tài sản ở VN cho ông Trịnh Vĩnh Bình bao gồm phân xưởng, nhà kho, đất đai bất động sản. Việc trao trả tài sản chậm nhất vào năm 2012.
3. Phía Việt Nam cho ông Trịnh Vĩnh Bình ra vào Việt nam tự do để làm từ thiện.
B. Phía ông Trịnh Vĩnh Bình:
Có nghĩa vụ giữ kín cam kết mật nói trên không được tết lộ cho bất cứ cơ quan truyền thông nào.
Cho đến hết năm 2014 thì phía Việt Nam chỉ thực hiện được 2 việc là trả 15 triệu USD tiền mặt cho ông Bình. Không như nhiều nguồn tin nói là trả 150 triệu. Và cho ông vào ra Việt Nam làm từ thiện ở bãi biển tại Tuy Hòa- Phú Yên. Còn chuyện trao trả tài sản thì chưa trả bất cứ động sản hay bất động sản nhà kho phân xưởng nào cho ông Trịnh Vĩnh Bình.
Thấy việc cam kết ban đầu bị vi phạm ông Trịnh Vĩnh Bình lần này nhờ đến một Tòa án quốc tế can thiệp.
Tổ hợp luật sư của ông Trịnh Vĩnh Bình kỳ này cũng là các luật sư từng giúp cho tỷ phú dầu mỏ của Nga là ông Khodorkovsky.
Thuận lợi cho ông Bình và tổ hợp Luật sư của ông là chính Tòa án Quốc tế này đã tuyên án chính phủ Nga phải có nghĩa vụ bồi thường 50 tỷ USD cho ông Khidorkovsky. Lần này cùng với các hiệp ước thương mại giữa Việt Nam và Hà Lan cùng với án lệ có sẵn thì phía Việt Nam thua kiện là rất cao.
Không như giải pháp im lặng như cam kết bị Việt Nam trắng trợn vi phạm. ông Trịnh Vĩnh Bình có hứa dùng 90% tiền được sau khi trừa các chi phí vụ kiện sẽ được dùng từ thiện, hoạt động nhân đạo hay giúp các nạn nhân của chế độ cộng sản đi kiện ra các tòa án quốc tế đòi bồi thường, việc hỗ trợ bao gồm tư vấn cả tiền bạc nhằm giúp cá nạn nhân lấy lại công lý cho mình. Không loại trừ khả năng một số tiền sẽ được giúp các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam.
Ban đầu tổ hợp Luật sư muốn ông Bình khóa toàn bộ vụ việc cho họ nhưng ông chọn phương án đồng hành cùng họ.
Chuẩn bị cho tiến trình vụ kiện có thể lâu dài hay bị nhà nước Việt Nam cho người đi ám sát ông Trịnh Vĩnh Bình thì ông Bình cũng đã hoàn tất lập chúc thư thừa kế vụ kiện cho các thừa kế của ông ngõ hầu theo đuổi vụ việc đến cùng. Nguồn tin cho hay là ông Bình được chính Tòa án quốc tế khuyến cáo không nên quay về Việt Nam lúc này, ông cũng tuyên bố sẽ không về Việt Nam cho đến khi công lý thực thi hoàn toàn cho ông.
Trong vài ngày tới các cơ quan truyền thông tại Hòa Lan và EURO-zone sẽ thông báo tin này trên các phương tiện truyền thông nhằm khuyến cáo Việt kiều cân nhắc khi về Việt Nam đầu tư làm ăn.
Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi vụ kiện khi nó bị nhà nước Việt Nam chà đạp trắng trợn các cam kết do chính họ đặt bút ký kết.
Vụ Kiện Năm 2005
Giải quyết ra sao vụ Trịnh Vĩnh Bình kiện đòi bồi thường hàng trăm triệu USD?
Theo Báo Thanh Niên – 23 June 2005
Trịnh Vĩnh Bình – một người Hà Lan gốc Việt, trước đây đã từng bị kết án tù hình sự và bị tịch thu tài sản tại VN đã tiến hành khởi kiện nhà nước VN tại nước ngoài, đòi bồi thường thiệt hại với số tiền lên tới hàng trăm triệu USD. Đây là một vụ kiện hy hữu chưa từng có với nhiều tình tiết pháp lý phức tạp. Luật sư Mai Lương Việt, người đã nhiều năm hành nghề tư vấn tại các công ty luật nước ngoài tại VN đã cho biết một số vấn đề xung quanh vụ kiện này.
Vào đầu thập niên 1990, ông Bình (khi đó đã có quốc tịch Hà Lan) về nước đầu tư vào nhiều dự án tại TP.HCM và một số tỉnh phía Nam, thông qua 2 công ty trong nước. Sau đó, vào năm 1998, ông Bình bị TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết án tù về tội đưa hối lộ và vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai, bị phạt tiền, đồng thời tịch thu toàn bộ tài sản có tại Việt Nam. Sau khi rời khỏi Việt Nam, ông Bình đã nhiều năm tiến hành khiếu nại, yêu cầu Nhà nước Việt Nam bồi thường thiệt hại. Luật sư của ông Bình đã chính thức nêu vấn đề từ cuối năm 2003 nhưng các cuộc thương lượng giữa 2 bên đã không đạt được kết quả.
Phiên tòa quốc tế nhằm giải quyết vụ tranh chấp này sẽ khởi sự vào tháng 12/2005 tại Stockholm (Thụy Điển). Vụ xét xử này, dự kiến sẽ kéo dài cả năm và số tiền tốn kém về án phí có thể lên tới hàng trăm triệu USD
Cá nhân nhà đầu tư được kiện nhà nước?
* Ông đánh giá thế nào về vụ kiện này?
- Luật sư Mai Lương Việt: Ông Bình đã khởi kiện với tư cách là một nhà đầu tư nước ngoài bị mất tài sản tại Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam đang tập trung thu hút đầu tư nước ngoài, kêu gọi sự đóng góp xây dựng đất nước của người Việt Nam ở nước ngoài cũng như tăng cường nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật và tiến hành cải cách tư pháp phục vụ cho quá trình hội nhập quốc tế. Diễn biến và kết quả của vụ kiện này chắc chắn sẽ được sự quan tâm đặc biệt, nhất là từ phía các nhà đầu tư nước ngoài và từ nhà đầu tư có nguồn gốc Việt Nam.
* Được biết trước đây ông Bình đã bị kết án do phạm tội hình sự và tài sản của ông ta cũng bị tịch thu vì lý do đó, nay căn cứ vào đâu ông ta có thể khởi kiện nhà nước Việt Nam ra tòa án trọng tài để đòi bồi thường?
- Tôi chưa được đọc hồ sơ của vụ kiện nhưng được biết ông Bình, với tư cách là một nhà đầu tư có quốc tịch Hà Lan, đã viện dẫn các quy định của Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký kết với Hà Lan vào năm 1994 để tiến hành khởi kiện. Như vậy, có khả năng cái đích mà ông Bình đang nhắm tới là có được phán quyết trọng tài cho rằng bản án hình sự chống lại ông ta tại Việt Nam trước đây chỉ là cái cớ để Chính phủ Việt Nam tiến hành tước đoạt quyền sở hữu đối với tài sản của ông ta, tức là theo ông Bình, Chính phủ Việt Nam đã vi phạm thỏa thuận tại hiệp định nêu trên và phải bồi thường cho ông ta.
Trọng tài nào sẽ xử?
* Nơi nào sẽ xét xử vụ này, thưa ông?
- Ông Bình đã tiến hành khởi kiện theo thủ tục tố tụng trọng tài và thông tin có được cho thấy nơi tiến hành xét xử là Stockholm (Thụy Điển).
* Ông có biết tòa án trọng tài trong vụ này là thuộc tổ chức nào và trọng tài sẽ tiến hành xét xử theo quy chế nào?
- Tôi chưa được biết chi tiết hơn. Có thể biết được về cơ chế lựa chọn trọng tài và nguyên tắc xét xử vụ này khi xem quy chế giải quyết tranh chấp tại Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Hà Lan.
Tuy nhiên, đa phần các hiệp định về bảo hộ đầu tư mà Việt Nam đã ký với nước ngoài đều quy định một trong hai hình thức xét xử trọng tài là trọng tài Ad-hoc (trọng tài vụ việc) hoặc trọng tài thường trực. Trọng tài thường trực được lựa chọn thường là của Trung tâm Quốc tế giải quyết các tranh chấp liên quan tới đầu tư (viết tắt bằng tiếng Anh là ICSID), là tổ chức có liên hệ mật thiết với Ngân hàng thế giới, được thành lập và hoạt động theo Công ước về giải quyết các tranh chấp liên quan tới đầu tư giữa các quốc gia và kiều dân của các quốc gia khác (hay còn gọi là Công ước Washington năm 1965). Điều kiện để đưa tranh chấp ra giải quyết tại trung tâm này là cả 2 quốc gia có liên quan phải là thành viên của Công ước. Tuy nhiên, trung tâm cũng có thể tham gia giải quyết tranh chấp trong trường hợp có một quốc gia không phải thành viên Công ước thông qua việc sử dụng quy tắc bổ sung của trung tâm được thông qua vào năm 1978. Việt Nam hiện chưa tham gia Công ước Washington, vì vậy nếu trung tâm nêu trên hiện đang giải quyết vụ việc này thì sẽ phải áp dụng quy tắc bổ sung. Trụ sở chính của ICSID được đặt tại Washington D.C nhưng các bên tham gia vụ kiện có thể thỏa thuận chọn địa điểm tiến hành xét xử tại bất kỳ nơi nào khác.
* Vậy còn trọng tài Ad-hoc thì sao?
- Trong trường hợp này, thông thường các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư quy định việc giải quyết bằng trọng tài theo quy tắc trọng tài của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL).
Việt Nam nên dự hay không?
* Theo quan điểm của ông, nhà nước Việt Nam có bắt buộc phải tham gia vụ kiện không khi cho rằng tòa án Việt Nam đã có quyết định chính xác trường hợp của ông Bình?
- Tôi nghĩ rằng trong trường hợp này, Chính phủ Việt Nam cần tập trung mọi nguồn lực để giải quyết vụ việc một cách thận trọng nhất. Không nên nghĩ rằng trọng tài quốc tế hay tòa án nước ngoài là “cái gì đó” rất xa vời, rằng phán quyết của trọng tài hay bản án của tòa án nước ngoài khó có thể đem thi hành đối với cơ quan hay tổ chức của Việt Nam.
Thực tế cho thấy kể cả trường hợp tin chắc là mình đúng cũng phải tham gia để chứng minh và cung cấp chứng cứ nếu không muốn rằng đối thủ sẽ tìm cách đơn phương chứng minh là họ đúng và tòa án hay trọng tài sẽ xem xét, ra phán quyết vắng mặt bị đơn.
Tôi được biết, Chính phủ Việt Nam đã thuê một trong những hãng luật lớn nhất của Pháp tư vấn và giúp trong quá trình tranh tụng. Đây là một quyết định đúng đắn và kịp thời, nhất là khi phía nguyên đơn cũng đã thuê hãng luật Covington & Burling nổi tiếng của Mỹ.
* Thưa ông, đặt giả thiết phán quyết lần này bất lợi cho phía Việt Nam thì việc thi hành phán quyết đó sẽ như thế nào?
- Thông thường phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên kể từ thời điểm được thông báo và luật pháp quốc tế cũng như quốc gia của đa số các nước không cho phép kháng án một phán quyết trọng tài như trên, trừ một số trường hợp ngoại lệ rất hạn chế. Ví dụ trong trường hợp trọng tài không có thẩm quyền xét xử, việc chỉ định hoặc thành phần trọng tài không hợp lệ, vi phạm quyền của các bên được giải trình, có sự đối xử thiếu bình đẳng hoặc có sự không phù hợp với trật tự công cộng.
Trong trường hợp một bên từ chối thi hành phán quyết trọng tài, bên kia có thể tiến hành thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết theo quy định tại Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài. Bên muốn thi hành phán quyết có quyền tiến hành thủ tục yêu cầu thi hành không chỉ ở nước của bên kia mà còn ở tại tất cả các nước đã tham gia Công ước New York 1958. Hiện nay, số nước thành viên Công ước đã lên tới hơn 130 nước, trong đó bao gồm cả Việt Nam.
* Cuối cùng, ông có điều gì muốn nhắn nhủ đến cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nhân vụ kiện hy hữu này không?
- Vụ kiện này một lần nữa cho thấy Việt Nam đã và đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giớ và quá trình hội nhập này sẽ làm phát sinh nhiều tình huống phức tạp. Việc kiện tụng, nhất là kiện liên quan tới tranh chấp về thương mại sẽ xảy ra ngày càng nhiều cùng với tốc độ hội nhập quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam. Tình hình đó đòi hỏi không chỉ các doanh nghiệp mà cả Chính phủ và các cơ quan nhà nước phải có được sự chuẩn bị kỹ càng để đối phó với các tình huống phức tạp đó và bảo vệ quyền lợi của mình.
Xin cám ơn ông.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Chiến Tranh Lạnh Mới (Hồi 2)

Chiến Tranh Lạnh Mới (Hồi 2)
Tác Giả: Nguyễn-Xuân Nghĩa – Việt Tribune – 22 May 2015
Nỗi băn khoăn của Hoa Kỳ – và Việt Nam…
Một ngẫu nhiên của lịch sử, khi thế giới tưởng niệm ngày Đệ nhị Thế chiến chấm dứt năm 1945, vào 70 năm trước, người ta lại nói đến một khung cảnh Chiến tranh lạnh khác. Lần này có thể là cuộc tranh đua giữa Hoa Kỳ đang có vẻ tàn tạ đi xuống, và Trung Quốc là cường quốc mới nổi, và không còn giữ thế “quật khởi hòa bình” như trước.
Xin chào đón “Chiến tranh lạnh – Hồi 2”.
Cũng một ngẫu nhiên của lịch sử, khi thế giới tưởng niệm ngày cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975, là 40 năm về trước, người Việt Nam lại nói đến một khung cảnh chiến tranh khác. Lần này là sự bành trướng của Trung Quốc tại Đông Nam Á, với Việt Nam ở trên tuyến đầu.
Chưa ai rõ là trên tuyến đầu ấy, Việt Nam giữ vai trò gì? Một chư hầu “bốn tốt” của Trung Quốc? Hay một thành viên của các nước Đông Nam Á có khả năng rung chuông báo động nếu Bắc Kinh tiếp tục lấn lướt ngoài biển Đông?
Và Hoa Kỳ sẽ ứng xử ra sao? Là thế lực ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc để bảo vệ những quyền tự do căn bản của các nước trong vành cung Thái bình dương nối với Ấn Độ dương? Hay là một cường quốc hòa dịu với thế lực mới nổi là Trung Quốc để cùng phân chia ảnh hưởng tại Châu Á?
Nhưng thật ra, Thế chiến II (1939-1945) kết thúc vào lúc nào, ở đâu?
Ngày tám Tháng Năm hay ngày 15 Tháng Tám tại Âu Châu? Hay ngày hai Tháng Chín năm đó là khi Nhật chính thức đầu hàng tại Châu Á?
Hóa ra Thế chiến II trải rộng trên cả đại lục Âu-Á, từ Đại Tây dương đến Thái bình dương, từ các bán đảo ở miền Tây, bên trong có nước Pháp, tới các quần đảo ở miền Đông bao trùm lên nước Nhật – và vắt ngang lãnh thổ của hai nước Nga và Tầu…
Sau khi Thế chiến II chấm dứt năm 1945, hai cường quốc cộng sản là Liên bang Xô viết và Trung Cộng lại tiếp tục bành trướng và gây phản ứng be bờ ngăn chặn trên đại lục Âu-Á. Đấy là thời kỳ gọi là “Chiến tranh lạnh”, mở ra từ Đông Âu kéo dài tới Đông Bắc Á với chiến tranh Cao Ly trên bán đảo Triều Tiên và tràn xuống Đông Nam Á, với tụ điểm là Việt Nam, bị chia đôi thành hai miền Nam Bắc và bị hút vào tranh chấp Đông Tây, giữa Cộng sản và Tây phương.
Hậu quả là bài toán độc lập của Việt Nam lại bị đánh tráo.
Thay vì cùng phong trào giải thực của các nước Á Châu đưa xứ sở ra khỏi ách thực dân, người Cộng sản Việt Nam lại nương vào đà bành trướng của cộng sản quốc tế để nhuộm đỏ cả nước trong một ách đế quốc khác. Những người không cộng sản bị họ bách hại từ sau Thế chiến II chỉ còn con đường là từ giải pháp độc lập bất toàn kiểu Pháp xây dựng lại quốc gia trên phân nửa lãnh thổ.
Đâm ra từ nhiều mặt trận khác biệt, Chiến tranh lạnh của toàn cầu lại quy vào lãnh thổ Việt Nam, và mở ra cuộc chiến Quốc-Cộng giữa hai miền Nam Bắc. Cuộc chiến đó chấm dứt vào năm 1975, với kết quả là cả nước Việt Nam trôi vào chế độ cộng sản.
Chế độ cộng sản không thể tồn tại vì những mâu thuẫn và nhược điểm nội tại của chủ nghiã. Liên bang Xô viết tan rã và sụp đổ năm 1991, Trung Cộng thì chuyển qua kinh tế tư bản, gọi đó là “cải cách”, Việt Nam Cộng sản chạy theo và gọi đó là “đổi mới”. Chiến tranh lạnh kết thúc như vậy, vào năm 1991.
Chiến tranh lạnh chấm dứt năm 1991 cũng là lúc Việt Nam trở lại vị trí chư hầu của Trung Quốc và mở ra một thời kỳ Bắc thuộc mới. Khi thế giới bước qua thế kỷ 21, những kẻ chiến thắng năm 1975 đã chọn con đường nguy hại đó cho Tổ quốc Việt Nam để bảo vệ quyền lực của đảng Cộng sản và quyền lợi của tay chân.
Chính họ đã chứng minh rằng khái niệm độc lập năm xưa bị họ đánh tráo. Chính nghĩa của những người không cộng sản trở thành sáng tỏ hơn trên một đất nước không còn chủ quyền, người dân không có tự do. Và càng không được nói về chuyện độc lập hay dân chủ. Đấy là vấn đề nội bộ của người Việt Nam mà họ sẽ phải giải quyết lấy, vì thế giới đang bước qua một thời kỳ khác….
*
Chúng ta sẽ không nói về sự tan rã của đế quốc Xô viết vào năm 1991 với hậu quả lan rộng tại Đông Âu và Trung Âu, hay sự suy nhược của các nước Âu Châu khi Liên bang Nga hồi phục và muốn tìm lại không gian cũ của Liên Xô. Chúng ta cũng chẳng nói tới sự cáo chung của Âu Châu kể từ năm 1991 sau khi lục địa này đã chinh phục và khuynh đảo cả thế giới trong 500 năm, từ 1492 tới 1991.
Chỉ vì Trung Đông và Đông Á đang trở thành những khu vực nóng của giao tranh và bành trướng.
Giao tranh của các thế lực Hồi giáo cực đoan thuộc nhiều hệ phái khác nhau và bành trướng của Trung Quốc từ Đông Bắc Á tới Đông Nam Á. Khi thế giới nói đến “Chiến tranh lạnh Mới”, hay “Cold War 2.0”, ta nên nhìn ra vùng biên tế của đại lục Âu-Á: tại miền Nam của Âu Châu là vùng biển Địa Trung Hải qua tới khu vực Viễn Đông của Á Châu, từ Ấn Độ dương tới Thái Bình dương.
Y như ngày xưa, cả thế giới đều tự hỏi rằng siêu cường Hoa Kỳ sẽ làm gì?
Về địa dư, nước Mỹ chẳng liên quan gì tới vùng đất Âu-Á, hoặc cả khu vực biên tế ở ngoài rìa của đại lục Âu Á. Nhưng về quyền lợi thì hiển nhiên là có. Hoa Kỳ phải bảo vệ được quyền tự do lưu thông trên toàn cầu và bao trùm lên các điểm nóng đang là thời sự.
Y như ngày xưa, nước Mỹ cũng muốn khỏi bị lôi vào cuộc. Ngày xưa, Hoa Kỳ đã trì hoãn mãi rồi mới tham gia khá trễ vào Thế chiến I và cả Thế chiến II, khi các nước trong cuộc đã qua nhiều năm chinh chiến. Cũng như ngày xưa, Hoa Kỳ đi tìm những trật tự bất toàn và bất ổn ở các vùng đất xa lạ với đa số dân Mỹ. Trật tự ấy là một loại cán cân thăng bằng bất ổn mà nước Mỹ có thể nhấn qua bên này hoặc nhích về bên kia tùy theo tình hình tại chỗ, và nhất là tùy theo cảm quan của dân chúng. Trong một nền dân chủ, không phải là lãnh đạo cứ muốn làm gì cũng được.
Sau nhiều thập niên cáng đáng thiên hạ sự, và thậm chí còn giữ vai trò của một Đế quốc bất đắc dĩ, Hoa Kỳ đã có dấu hiệu mệt mỏi mà không chỉ vì chủ trương của Tổng thống Barack Obama. Mà cũng vì người dân phân vân về chuyện công hay thủ, quyền lực cứng hay mềm, cần phát huy các giá trị tinh thần đã làm nên nước Mỹ như tự do và dân chủ, hay chỉ bảo vệ những quyền lợi thiết thực về an ninh và kinh tế?
Đấy là khung cảnh thời sự của những biến động nổi bật ngày nay.
*
Tổng thống Obama tổ chức một thượng đỉnh với các nước Á Rập Hồi giáo trong vùng Vịnh mà đa số lãnh tụ các nước lại không tham dự, trong khi người ta nói đến sự bành trướng của tổ chức Nhà nước Hồi giáo ISIL và theo dõi cuộc đấu tranh gián tiếp giữa Saudi Arabia theo hệ phái Hồi giáo Sunni với Iran lãnh đạo hệ phái Shia.
Tổng thống Obama cũng đã tưởng có thể hòa dịu với Liên bang Nga để cùng giải quyết các vấn đề noài vùng biên tế như Syria hay Iran, nào ngờ lãnh tụ Vladimir Putin lại mở ra mũi công tại Ukraine khiến Liên hiệp Âu châu bị chấn động, bất nhất về đối sách và lại mong Mỹ nhập cuộc.
Tổng thống Obama vận động việc hoàn thành Hiệp ước Đối tác Chiến lược Xuyên Thái Bình dương TPP, với sự tham gia của Nhật Bản, như một thế đối trọng với Trung Quốc đang tung tiền gây ảnh hưởng toàn cầu, và hung hăng bành trướng ngoài Đông hải. Nhưng Quốc hội và đảng Dân chủ lại gây trở ngại cho nỗ lực đó vì những quan tâm cục bộ ở nhà.
Nhiều lắm, kể ra không hết những phân vân và bất trắc như vậy của Hoa Kỳ.
Chiến tranh lạnh Mới đang lừng lững tiến tới, ngoài dự đoán hay cả ý muốn của các nước. Trong hoàn cảnh đó, thế giới thì nói đến động thái của siêu cường Hoa Kỳ, người Việt nên suy nghĩ xem Việt Nam nên làm gì để khỏi tái diễn sai lầm cũ, mà vẫn tồn tại và độc lập với Trung Quốc?
Bài toán không dễ có giải đáp – mà lại đầy rủi ro sau một thế kỷ 20 có đầy lãng phí và tổn thất oan uổng cho người Việt….

Nước Mỹ Xấu Xí…

Nước Mỹ Xấu Xí…
(GNA: Tôn trọng mọi góc nhìn, GNA xin đăng lại đây quan điểm của một chiến binh tiếp tục ‘chống Mỹ cứu nước’. Nếu một quốc gia tự do, dân chủ như Mỹ mà không còn chút đạo đức liêm sĩ trong trò chơi chính trị thế giới, thì có lẽ chúng ta nên cẩn thận hơn với ông bạn 16 chữ vàng đang năng động bành trướng chủ nghĩa Đại Hán theo quyết định của vài ông chóp bu tại Politburo Trung Quốc. Thiếu tá Hồ Quang của Quân Đội Nhân Dân Giải Phóng Tầu (PLA) đã nhắc nhở chúng ta hàng ngày trong đời sống hiện tại.)
Nên thận trọng với “lòng tốt” của Mỹ
Tác Giả: Anh Quốc – Góc Nhìn Thời Đại (Theo Tin Tức Hàng Ngày) – 8 June 2015
“Nước Mỹ tự do” từng làm người hùng “chống cộng, bảo vệ thế giới tự do” với cái giá vài trăm tỷ USD và hơn 50 ngàn mạng người trong chiến tranh Việt Nam với mục đích cao cả “ngăn chặn làn sóng đỏ”. Khi ấy người ta tưởng chừng như nước Mỹ sẽ không bao giờ “đội trời chung” với “cộng sản”. Ấy thế mà, đùng một cái, Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, chuẩn bị ký kết TPP, thậm chí là mở toang cửa Nhà Trắng mời ông Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tới thăm – hành động bom nguyên tử có ý nghĩa như “phản bội” mọi giá trị lâu nay Mỹ tuyên bố: xem “cộng sản” như “kẻ thù nhân loại”. Đong đếm, kì kèo từng đồng bạc cắc bồi thường nạn nhân chất độc màu da cam nhưng lại sẵn sàng tài trợ 18 triệu USD để Việt Nam – một nước cựu thù của Mỹ mua tàu tuần tra. Trong khi anh bạn đồng minh Philippine gào khản cổ thì chỉ được vài cái máy bay hết date. Một sự “tốt bụng” đến bất ngờ! (GNA: Nên kiểm lại số liệu thực về phát ngôn này)
Chúng ta đều biết Mỹ vỗn dĩ xưa nay chẳng cho ai cái gì bao giờ, việc Mỹ bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam chi ít cũng phải có một khoản rằng buộc chính trị đi kèm, nếu nhìn vào thực trạng trong thời gian gần đây có thế thấy được điều đó. Việc các tù nhân tội phạm chống đối Nhà nước được đặc xá trước thời hạn có vẻ như có mối liên hệ nào đó.
Sau khi thua trắng trong ván bài “chống Nga” và chuốc lấy sự bất mãn từ các đồng minh Tây Âu, nước Mỹ có nguy cơ đánh mất vị trí cường quốc số 1 vào tay Trung Quốc. Để ngăn chặn điều này, Mỹ vội vàng nhảy vào Biển Đông bằng con bài TPP, thúc đẩy nâng tầm ngoại giao với các quốc gia ASEAN. Với dã tâm biến ASEAN trở thành con tốt thí đi đầu trong việc chống lại đại gia Trung Quốc. Tuy nhiên, vì phần lớn các nước trong khu vực hoặc đã bị mua chuộc hoặc không có quyền lợi ở Biển Đông. Trong khi Maylaysia chỉ được cái to mồm còn Philippin thì quá yếu, chỉ còn lại Việt Nam sẵn sàng chơi khô máu với Trung Quốc vì có quyền lợi sống còn ở Biển Đông.(GNA: Nên hỏi lại Bộ Chánh Trị và ông Bộ Trưởng Quốc Phòng về việc này!!) Việc Mỹ dùng “biện pháp nóng” khiêu khích quân sự có thể là đòn hâm nóng khiến các nước nhỏ tưởng Mỹ sẽ nhảy vào nên hung hăng ra trận (ngư ông đắc lợi), hoặc sẽ tham gia cuộc đua vũ trang mua sắm vũ khí cho Mỹ (chả phải tự dưng Nhà Trắng dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam đâu), hoặc Trung Quốc buộc phải chia sẻ quyền lợi Biển Đông với Mỹ để được yên thân… Tóm lại, dù tình hình Biển Đông xoay chuyển theo tình huống nào thì Mỹ vẫn là kẻ đắc lợi liều nhất.
Đừng nói Mỹ nhảy vào vì “Mỹ có lợi ích cốt lõi ở Biển Đông”. Câu này được các học giả Âu – Mỹ viết dựa trên quan điểm vì lợi ích của nước Mỹ. Một đất nước ở cách Biển Đông nửa vòng trái đất mà đòi có “lợi ích cốt lõi ở Biển Đông” thì không khác gì chuyện dưới thời Pháp thuộc học sinh An Nam lớp đồng ấu cứ phải đọc “tổ tiên chúng ta là người Gô – loa”. Lợi ích của Mỹ ở Biển Đông phải giống như lợi ích của bất kỳ nước nào có tàu bè qua lại ở Biển Đông. Mà cứ cho là Mỹ có “lợi ích cốt lõi ở biển Đông đi”. Xưa kia Mỹ sẵn sàng chi vài trăm tỷ USD trong cuộc chiến tranh Việt Nam để “ngăn chặn làn sóng đỏ, bảo vệ thế giới tự do”. Ấy thế mà lại tiếc vài chục tỷ USD, không chịu đầu tư cho quân đội đồng minh Philippine trở thành tiền đồn chống Trung Quốc mà lại chọn cách hỗ trợ Việt Nam – một nước “cộng sản” cựu thù. (GNA: Nên kiểm lại số liệu thực về phát ngôn này) Nghe có vẻ không hợp lý lắm.
Thể hiện vài động tác giựt le kiểu lượn lờ tàu chiến trong phạm vi lãnh hải cách Trung Quốc….12 hải lý, cho máy bay trinh sát bay xa xa và chở theo một anh phóng viên CNN để thế giới trầm trồ ngưỡng mộ “À! Không phải dạng vừa đâu”. Sau đó thì quan chức Mỹ liên tục đưa ra những phát ngôn thề non hẹn biển cùng Việt Nam chống Tàu. 18 triệu USD, 5 cái tàu tuần tra mà so với hải quân Việt Nam thì chỉ như xuồng ba lá xuất hiện tần suất dày đặc trên truyền thông. Phải chăng nước Mỹ đang định dùng nước bọt và dăm ba đồng tiền lẻ làm liều Doping kích thích Việt Nam xông lên chống Tàu, làm bãi chiến trường cho Mỹ giống như Ukraine?
Cuối cùng, xin nhắc lại một câu nói được xem như kim chỉ nam của các nước tư bản “Không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn”
Anh Quốc

Tự Do và Chính Trị

Tự do xôi gấc
Tương Nhi-Triết Học Đường Phố – 31 May 2015
(GNA: Bài viết của một bạn thuộc ‘thế hệ 9X’ cho thấy một tư duy sâu đậm, nghiêm túc …gấp triệu lần các tiến sĩ …giấy nhan nhãn trong xã hội. Đây mới là điều ông già Alan tự hào về đất Việt = con người)
“Chính trị là đời sống.
Hãy học làm quen với một thứ như vậy.
Chính trị không xa lạ.
Chỉ có những thể chế độc tài biến chính trị thành một thứ độc quyền để trao đổi tạo lợi nhuận, khiến hình hài của chính trị bị bóp méo, khiến người dân lãnh đạm và tránh xa.
Chỉ khi hiểu về quyền, mới biết được đến dân chủ.
Khi biết mùi dân chủ, mới thực sự hiểu thế nào là tự do.
Một kẻ chỉ lo đói thì không thể phân biệt được thức ăn và thức ăn ngon.”
Trong bài viết trước của tôi “9X – The lost generation”, ở cuối bài viết, tôi có tái bút một dòng về việc sẽ không nhắc đến một phạm trù “nhạy cảm” đã, đang và sẽ có một ảnh hưởng vô cùng lớn lên tư tưởng của thế hệ chúng tôi. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ cố gắng làm rõ những điều tôi cảm nhận đồng thời triển khai những điều đó thông qua những thông tin và nguồn trích lược rõ ràng, mở, cơ bản và khách quan nhất.
Đương nhiên, bất cứ bài viết nào cũng không thể tránh khỏi những luận điểm và ý kiến mang tính cá nhân, chủ quan, nhưng đó sẽ là những ý kiến của tôi rút ra dựa trên những tham khảo đã có trong lịch sử. Những ý kiến trái chiều và mang tính định kiến, tôi xin phép không trả lời cũng không tranh luận. Đã đến lúc chúng ta học cách nhìn vấn đề từ nhiều phía hơn, đa dạng hơn và dung hòa hơn.
Nói một cách thành thật, tự bản thân tôi cảm giác hết sức không tự tin khi viết về vấn đề này bởi đơn giản với tuổi đời còn hạn chế và nền tảng căn bản cũng được đào tạo trong một thể chế khép-kín, chính trị với tôi cho tới thời điểm này vẫn là một thứ nhạy-cảm (và đã bị một cậu bạn phê phán rằng không nên sử dụng từ nhạy cảm để nói tới nó bởi nó vốn là hơi thở cuộc sống văn minh). Nhưng lần này, tôi sẽ tận dụng điểm yếu kém đó của mình để trình bày vấn đề này.
Nó sẽ giống như bạn đang được nghe tả một gói xôi gấc bởi hoặc một tên ăn mày đói lả hoặc một kẻ ăn tạp hoặc một con người bình thường. “Tự do” được nhìn bởi con mắt của kẻ tự do và kẻ tưởng rằng mình tự do không thể giống nhau.
Thế chúng ta là ai khi nhân loại hỏi về gói xôi gấc? Tên ăn mày hay người bình thường?
Đều không phải. Chúng ta là những kẻ ăn tạp.
Chính trị là gì?
Trong các từ điển bao gồm cả Từ điển bách khoa Việt Nam, chính trị có một định nghĩa khá dài nhưng cái tôi thích nhất là dòng đầu tiên tôi đọc trên Wikipedia khi sử dụng từ khóa tìm kiếm Politics. Đó là nguồn gốc của từ này. Theo đó, Politics có xuất phát nguồn từ một từ Hy Lạp (politikos) mang ý nghĩa nguyên thủy là “của, cho hoặc liên quan tới công dân”. Đó là một điều rất thú vị.
Nghĩa là ngay từ khi Chính trị chưa phát triển và đạt được đến một trình độ, hệ thống như ngày nay, việc chọn lọc và sử dụng từ này có một ý nghĩa rất lớn trong việc đem nó đến đúng với bản chất của vấn đề. Và theo tôi, chỉ sau khi những hệ thống chính trị khác nhau được hình thành, chính trị mới có những định nghĩa văn hoa và dài dòng đến như thế liên quan tới thể chế, điều hành và cai trị một cộng đồng, một quốc gia. Nhưng để nhìn đúng bản chất sự việc, xuất phát điểm của chính trị là “của dân, do dân và vì dân”.
Tiếp theo đó, cùng với sự phát triển của xã hội trong dòng chảy lịch sử, hiện nay chính trị được hiểu theo bốn cách giải thích cơ bản: Nghệ thuật của phép cai trị, những công việc chung, sự thỏa hiệp và đồng thuận, quyền lực và cách phân phối tài nguyên hay lợi ích (theo Wikipedia). Và có lẽ tùy theo từng quốc gia, chính trị đang hoặc tiến trở lại gần hoặc dần xa rời cái lý tưởng ban đầu của việc hình thành chính nó trong một cộng đồng, là những hoạt động và lý thuyết tác động lên đời sống con người ở quy mô toàn cầu hoặc cá thể.
Chính trị trở nên xa vời với công dân và cá thể trong cộng đồng nếu bản thân nó không còn được áp dụng để vì lợi ích con người và biến thành vấn đề nhạy-cảm cần được bưng bít, nằm trong tay kẻ cầm quyền để thao túng và gây dựng lợi ích riêng cho một cá thể hoặc tập đoàn. Chính trị bị bóp méo dưới sự tuyên truyền của giai cấp cầm quyền chủ đạo về lợi ích riêng thay vì lợi ích quốc gia, dân tộc và con người.
Và chúng tôi đang dần xa lánh chính trị chỉ vì chúng tôi không hiểu nó nhưng liệu chúng ta có thể đổ trách nhiệm lên cả một cộng đồng lớn khi tâm lý con người nói chung có xu hướng rời xa những thứ mà theo họ có khả năng gây ra bất ổn đối với đời sống thường nhật thay vì đi tìm chân lý. Giống như Copernicus và Galileo với thuyết Nhật tâm. Giáo đoàn Thiên chúa có thể ví như một tập đoàn chính trị, các con chiên là cộng đồng cư dân mạng bị tẩy não, thuyết Nhật Tâm là vấn đề tự do dân chủ và Galileo là kẻ chịu tù đày khi nói lên chân lý. Chân lý không đáng sợ nhưng con đường đi tới chân lý rõ ràng không được trải hoa hồng.
Vậy thế hệ 9x chúng tôi tiếp cận với chính trị như thế nào? Điều đó có quan trọng hay không? Điều đó đóng vai trò thế nào trong đời sống của một 9x? Và mấu chốt hơn, điều đó mang tầm ảnh hưởng như thế nào đối với một đất nước đang trong giai đoạn chuyển-mình?
Lần lượt từng câu hỏi bật ra như thể chúng đã ở đó từ rất lâu và chỉ chờ tới lúc thích hợp sẽ tự nhiên nhi nhiên trôi tuột ra khỏi tâm thức hỗn loạn của tôi. Và tôi tự đi tìm câu trả lời cho chính mình.
Vậy thế hệ 9x chúng tôi tiếp cận với chính trị như thế nào?
Nếu các bạn cho rằng chúng tôi không được tiếp xúc với chính trị thì thực ra đó là một sai lầm, chúng tôi được tiếp xúc với chính trị từ rất sớm, từ khi tư duy còn chưa hình thành. Không kể tới những ảnh hưởng gián tiếp của chính trị vào một đứa trẻ như đã trình bày trong các thí dụ ở bài viết 9x – The lost generation.
Điều đầu tiên trực tiếp nhất một đứa trẻ khi vừa chập chững đi học được tiếp xúc với chính trị đó là hình ảnh Bác Hồ – Hồ Chí Minh. Tôi và triệu triệu những đứa trẻ khác không có gì khác biệt nhau khi được tiếp nhận những thông tin về vị lãnh tụ của Viêt Nam và là một đứa nhỏ, chúng tôi không hề nhận thức được đó là chính trị cho tới thời điểm rất lâu sau này. Bất kể một chế độ nào sử dụng hình ảnh lãnh tụ được thần thánh hóa để tôn thờ cũng đều là những thể chế mang hơi hướng tôn giáo độc trị. Bởi vậy, cho dù thần bái Hồ Chí Minh hay không, tôi chắc chắn rằng người trẻ hiện nay cảm thấy thú vị với hình ảnh ông ta đánh bi-a và hút thuốc lá hơn là những hình ảnh đạo mạo khác.
Từ đó, bản thân tôi cũng tự hỏi, liệu đó có phải là một sự tiến bộ? Người trẻ với sự tiếp xúc nhanh nhạy trong thời đại thông tin với tri thức mới có nhu cầu được nhìn lãnh đạo qua một lăng kính giống người hơn là giống thần? Tuy nhiên, cho dù thế nào, cho tới thời điểm này, mục tiêu chính trị trong việc truyền bá hình ảnh đó vẫn đang ăn sâu vào nền giáo dục và tư tưởng người Việt hiện đại.
Vì sao lại là khăn quàng đỏ? Vì sao lại là đoàn thiếu niên, thanh niên Hồ Chí Minh? Vì sao không phải Đoàn viên không được thi Đại học? Chính trị, nếu để ý, đang kìm hãm người trẻ thay vì phục vụ cho họ. Và công cụ ngầm của kìm hãm này là phương thức giáo dục về lịch sử.
Điều đó có quan trọng hay không?
Có một câu nói rằng: “Lịch sử là công cụ của nhà cầm quyền.” Nhận thức sai lầm về lịch sử có thể đem tới hậu quả khôn lường”. Trong khi những đứa trẻ vẫn đang phải gò lưng ra học Sử với những chiến công hiển hách mà nhà biên soạn (dù muốn hay không) đang nhồi nhét vào tập sách giáo khoa mà lợi ích đem lại từ những cột mốc chiến thắng(?)
Và số liệu về quân thù đã nằm xuống trong suốt một dải lịch sử dựng nước của Việt Nam chưa thấy đâu ngoài tính thành tích chính danh trong thi cử mệt nhoài thì người Việt Nam vẫn quá thờ ơ với chính sử Việt. Sử không viết về quá trình hình thành dân tộc, tính dân tộc lại tách riêng địa lý ra khỏi lịch sử mà chỉ nhắc tới những cuộc chiến kéo dài, hãy tự hỏi chúng ta có thật sự là một dân tộc được hưởng hòa bình tự do hay đã từng được hưởng hòa bình tự do thực sự để tập trung phát triển đất nước?
Tự do ở dạng thức nào?
Nói tới đây, tôi chợt nhớ tới một câu chuyện nhỏ được trao đổi giữa tôi và một người bạn lớn: “Vì sao chữ người Việt Nam lại đẹp?” Chữ tôi cũng khá đẹp, tôi không phủ nhận điều đó, tuy nhiên, có vẻ là chẳng thấm tháp vào đâu so với chữ của những đứa trẻ bây giờ hay những đứa trẻ tầm tuổi tôi ngày đó được rèn luyện để đi thi vở sạch chữ đẹp với phương châm: “Nét chữ, nết người.” Chủ đề này thực ra là do tôi gợi lên sau khi nhớ ra cách đây vài năm tôi có lỡ lời trêu một người bạn nước ngoài rằng: “Chữ mày xấu quá.” Và bị bạn quặc lại đầy mỉa mai: “Còn chữ của chúng mày thì quá đẹp nên chúng mày chẳng coi nội dung là quan trọng.” Thật là xấu hổ tới nhớ đời. Vậy, chúng ta đẹp, nhưng nội dung của chúng ta thế nào?
Nội dung của chúng ta sai lệch và mông lung. Chúng ta viết đẹp để phỉnh lừa chính mình. Trẻ con được dạy viết chữ đẹp nhưng không được dạy cảm thụ cái đẹp. Quan điểm về cái đẹp có thể khác nhau nhưng không biết cảm thụ cái đẹp là một thiệt thòi. Một cộng đồng không biết cảm thụ cái đẹp thì hành vi văn hóa xã hội đi xuống là chuyện không thể tránh khỏi.
Chính tại điểm này, chính trị hiện ra như một bóng đen ngu muội phủ lên đời sống tinh thần của con người để từ đó, xô đẩy trực tiếp tới đời sống vật chất của họ. Nếu bạn không biết rằng ở một nơi nào đó, có một cuộc sống thực sự tốt hơn, bạn sẽ vô thức bằng lòng với những gì hiện đang có. Và khi con người tự bằng lòng, xã hội cũng sẽ dừng tiến lên. Những-người-biết là những người có khả năng tạo ra thay đổi. Vậy chúng ta có cần biết?
Điều đó đóng vai trò thế nào trong đời sống của một 9x?
Bộ phim “The Lives of Others” – Cuộc sống của những người phía bên kia, nói về một sự biết như vậy. Đây là một bộ phim của Đức nói về một người mật thám tại Berlin dưới thời Cộng sản, và sự chuyển đổi về tư tưởng của ông đối với một điều ông rất tin sau khi được giao nhiệm vụ theo dõi một nhà biên kịch. Bộ phim mở đầu với việc ông giảng dạy cho học viên trong học viện An ninh Quốc gia về việc tra khảo một người Đông Đức giúp đỡ một người khác trốn sang Tây Đức. Sự lạnh lùng và lý trí của ông có thể khiến bạn rùng mình chán ghét. Ngay cả trong thời gian đầu khi theo dõi nhà biên kịch, ông cũng vẫn giữ thái độ này.
Tuy nhiên, khi những biến cố xảy ra, khi được tiếp xúc với một nguồn thông tin ở mức độ cao hơn, nhân bản hơn, nhiều chiều hơn từ phía nhà biên kịch thay vì những người dân bình thường vốn được đặt dưới chế độ theo dõi của Chính phủ, tổng hòa của những thứ đó đã thay đổi một người được huấn luyện chuyên nghiệp để phục vụ chế độ thành một con người khác. Ông đọc thơ của nhà biên kịch, nghe nhạc của nhà biên kịch, trải nỗi đau mất mát của nhà biên kịch, can thiệp vào đời sống tình cảm của anh ta và cuối cùng, cứu anh ta trước nguy cơ cận kề do viết một bài báo tố cáo chế độ và rồi ông bị thuyên chuyển làm công việc thư tín ở một bộ phận nhỏ.
Vậy nhưng khi kết thúc bộ phim, cái duy nhất tôi thấy là sự thanh thản của một con người được tiếp xúc và nhận ra sự thật. Không có gì quý hơn sự thật. Và con người phải lao động chân chính, dùng chính óc phán đoán của mình để nhìn ra sự thật đó.
Nhưng phần lớn, người Việt Nam chỉ làm việc chứ chưa lao động. Vì sao lại như vậy?
Người Việt Nam phần lớn đang làm việc cật lực nhưng chỉ một số rất ít là đang lao động. Bởi chúng ta đều có những nhu cầu cần được giải quyết. Ăn, mặc, ở, hưởng thụ. Không thể phủ nhận rằng, chính những nhu cầu đó, hay ở đây tôi tạm gọi là ham muốn (lust – dục vọng) là động lực thúc đẩy chính để con người tiếp tục tồn tại kể từ những ngày đầu tiên chúng ta xuất hiện trên trái đất. Tuy nhiên, điều gì khiến làm việc và lao động trở thành hai phạm trù khác nhau, đồng thời, chính trị đóng vai trò nào trong sự khác biệt này?
Yếu tố mấu chốt nằm ở hai chữ “tự do” với ý nghĩa làm chủ công việc của mình. Một người được tự-do làm việc sẽ trở thành một người lao động chân chính. Một nhà báo làm việc sẽ tạo ra lợi nhuận cho nhà xuất bản nhưng một nhà báo được làm chủ việc viết của mình sẽ tạo ra tác động lên xã hội. Tạm thời chưa nói tới tác động tốt hay xấu, nhưng từ vụ việc Je suis Charlie, tác động xã hội của nó mang tính toàn cầu.
Chuyện đó có bao giờ xảy ra nếu những người làm báo trong tòa soạn đó ngày ngày chỉ đưa tin về mông và ngực? Liệu có khác biệt nào có thể đến từ mông và ngực? 14.000USD đi khách của những cô chân dài được đưa lên báo sẽ khiến các trẻ em gái ghê sợ lánh xa mãi dâm hay lao đầu vào đi tìm một người đại gia để bán thân cho dù với giá chỉ bằng 1/10?
Như một câu nói đùa chua chát của chị bạn tôi rằng: “14.000USD mà bán được chị cũng bán!” Làm việc để tạo ra lợi nhuận, lao động để tạo ra giá trị xã hội. Chính trị là điểm chốt hạ xác định con người trong xã hội đang làm việc hay lao động. Và cho dù những số liệu nói rất khác về bề nổi của sự-phát-triển-Việt-Nam, giá trị xã hội của Việt Nam đang đi xuống bởi vì con người không được trao cho cơ hội để được lao động thực sự.
Tôi? Có đang lao động thực sự?
Có được cảm thấy tự do?
Từ những hạn hẹp của chính mình, chính trị đối với tôi hẳn đang dần trở nên rõ ràng hơn so với phần lớn những con người hờ hững xung quanh nhưng không có nghĩa rằng khi tôi hiểu hơn về nó thì tôi có thể nắm được nó. Tôi biết mình không tự do. Gói xôi gấc đó vẫn nằm trong vòng mơ mộng của một kẻ ăn mày.
Nhưng ít nhất, tôi cũng biết mình đang là một kẻ ăn mày và không huênh hoang rằng mình đang được ăn xôi gấc…
[Và mấu chốt hơn, điều đó mang tầm ảnh hưởng như thế nào đối với một đất nước đang trong giai đoạn chuyển-mình?]
Câu hỏi cuối này, tôi tiếc nuối để mở… Có lẽ vì bi quan, có lẽ vì thiếu thông tin và chắc chắn là vì chưa đủ tầm nhìn để biết được sự chuyển mình ấy, tôi đứng đâu trong nó. Bạn có đang đi tìm lấy câu trả lời cho chính mình như tôi?
Tương Nhi

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

Loạt Bài “Bắt Đầu Từ Zero” (Bài 1)

Nguồn : Vững Đại Phát

Loạt Bài “Bắt Đầu Từ Zero”
Alan Phan
Bài 1: Quy Trình Căn Bản
(Quản trị theo mục tiêu sẽ khả dụng – nếu bạn biết mục tiêu. Chín mươi phần trăm thời điểm, bạn không biết – Management by objective works – if you know the objectives. Ninety percent of the time, you don’t – Peter Drucker)
Trong 45 năm làm ăn của tôi, có đến ít nhất 6 lần tôi phải bắt đầu lại từ zero. Khi khởi nghiệp năm 24 tuổi, khi biến động bể dâu năm 1975, khi trắng tay với bất động sản năm 1982, …và vài lần nữa tôi không muốn nhớ. Dù nhiều lúc mệt mỏi với tình thế và thử thách, nhưng lúc nào trong thâm tâm, tôi cũng hào hứng, năng động. Và luôn tự nhủ,” lần này sẽ khác, mình lại có cơ hội làm tốt hơn, sự nghiệp sẽ vững vàng hơn…và như lúc đi hẹn hò với một người bạn gái mới, đây là ‘điều’ mình luôn tìm kiếm…”
Hàng ngày, tôi vẫn nhận nhiều emails từ các bạn trẻ với những cảm giác và câu hỏi tương tự, nhất là khi họ bắt đầu tất cả từ zero: cháu có phiêu lưu lắm không khi bỏ việc làm đi kinh doanh, cháu nên làm gì; sản phẩm phải ra sao để có đặc thù và sáng tạo ; chú nghĩ ý tưởng kinh doanh này (mô tả trong vài paragraphs) có khả thi không; chú tài trợ cháu hay giới thiệu dùm các nhà đầu tư; tìm cho cháu đối tác tại Âu Mỹ..v.v…
Dĩ nhiên, sau vài lần thất vọng, các bạn trẻ này sẽ bớt chút ngây thơ, tự tìm cho mình những câu trả lời chính xác hơn; và tôi hy vọng, sẽ giữ vững niềm tin vào mình, vào Ơn Trên, vào sự đam mê và kiên nhẫn cần thiết.
Trong việc kinh doanh, cũng như khi kiến tạo một sự nghiệp cá nhân khi đi làm công; và trên một bình diện bao quát hơn, như việc điều hành, quản trị một quốc gia, đều trải qua một quy trình căn bản của luật thiên nhiên: thụ thai, sinh đẻ, lớn khôn và ra bươn chải với đời. Rất đơn giản và phức tạp, rất gập ghềnh qua thời gian, nhưng lại chóng qua như một hơi thở dài.
Ba câu hỏi chính cho quy trình này:
- Bạn biết mình thực sự “muốn” gì không?
- Bạn đã bỏ thì giờ nghiên khảo và lập ra kế hoạch chi tiết để đạt mục tiêu chưa?
- Bạn đã sẵn sàng bắt tay vào việc, từ khởi hành cho đến khi hoàn tất?
Khi giải mã những thất bại của mình, tôi nhận xét là mình đã vi phạm không ít thì nhiều, một hay cả ba, nguyên tắc căn bản nói trên.
Không biết mục tiêu cốt lõi
Không có kế hoạch đầy đủ
Không thực hành đến nơi đến chốn
Và đây chỉ là những đòi hỏi căn bản. Tôi chắc là ai cũng hiểu nhiều yếu tố và thử thách khác nữa luôn đi kèm với quy trình: một mạng lưới yểm trợ của gia đình, bạn bè, thầy cô, đối tác…một nguồn tài chánh nhỏ để mồi lửa cho dự án…một ý chí cương định để kiên nhẫn theo đuổi đam mê…một tinh thần khiêm nhượng và cẩn trọng để kiểm soát rủi ro và biết thay đổi…một chút may mắn về thời điểm, về cơ hội…
1. Mục Tiêu:
Phần lớn chúng ta đều biết rõ điểm đến và mục đích của vài tuần du lịch, nhưng lại phân vân trước câu hỏi điểm đến và mục đích của đời mình là gì? Bởi vì câu hỏi này đòi hỏi nhiều tư duy, cảm nhận cá nhân; phương thức giải mã tình thế và dự đoán; rồi những đụng chạm đến tự ái, truyền thống, liên hệ phức tạp với gia đình, xã hội, văn hóa…hay những tình huống môi trường trói buộc. Khi đối diện với tính chất phức tạp của vấn đề, chúng ta thường có xu thế trì hoãn, lười biếng và thụ động; dù đây là câu hỏi mấu chốt của cả một đời người.
Nhưng bất cứ cuộc hành trình nào do mình chủ động đều đòi hỏi một mục tiêu rõ ràng. Mục tiêu luôn đa dạng, khác biệt với trải nghiệm và ý thích của mỗi cá nhân, cũng như thay đổi theo lứa tuổi, kinh nghiệm và những xô đẩy của lực chuyển, của văn hóa. Không có mục tiêu nào sai cả; chỉ có sai lầm khi chúng ta không có mục tiêu và để dòng đời cuốn trôi như chiếc lá nhẹ hẫng. Ngay cả những biến động không do mình tạo ra, có thể làm lạc hướng điểm đến, nhưng với một ý chí cương kiền và một mục tiêu rõ ràng, chúng ta vẫn có thể tìm những “detour” (đường vòng) để đạt đích, dù chậm.
Tôi sẽ nói nhiều hơn về cách xác định mục tiêu trong bài tới vì đây là một yếu tố quan trọng trong quy trình. Như Lewis Carroll nói,” nếu bạn không biết mình định đi đâu, thì con đường nào cũng dẫn đến đích cả”.
2. Kế hoạch
Xác định được mục tiêu rồi, chuyện nghiên khảo những tài liệu, dữ kiện, ý kiến…liên quan đến đề tài trở thành một công tác không khó khăn, nhưng sẽ tốn rất nhiều thời gian và tư duy phân tích để hoàn tất một kế hoạch đầy đủ. Những thành phần chính:
- Phân tích SWOT (điểm mạnh-điểm yếu- cơ hội-rủi ro) của dự án về sản phẩm, thị trường, công nghệ, cơ sở vật chất, nhân lực, tài chính dự phóng…
- Tóm lược các lợi thế cạnh tranh của dự án trên những góc cạnh quan trọng: khả năng tăng trưởng, ứng dụng liên hoàn, hấp dẫn với nhà đầu tư và người tiêu dùng, đồi thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng…
- Những chỉ số quyết định: ROI (return on investment- tỷ lệ hoàn vốn); IRR (internal rate of return-tỷ số hoàn trái nội tình); leverage ratio (debt to equity- nợ trên vốn); profit margin (mức lợi nhuận) ; valuation ratio (tỷ số định giá); liquidity ratio (thanh khoản)…
Phải hiểu rằng kế hoạch sẽ chỉ là bản thảo để khơi thông hành động; không thể là văn bản bất biến như Kinh Thánh hay Cương Lĩnh Đảng. Thời gian, tình thế và con người sẽ thay đổi nhiều dự đoán, chương trình…trong kế hoạch. Liệt kê được càng nhiều “contingency” (dự phòng) , càng cho phép chúng ta uyển chuyển trong việc thực hiện và không bị rối trí để lạc hướng.
3. Thực hành
Kế hoạch dù hoàn hảo đến đâu, cũng vô giá trị nếu không ai thực hiện. Hành động là nhân tố bắt buộc cho mọi dự án, thành công hay thất bại. Vài yếu tố cần suy xét trước khi hành động:
- Mồ hôi và sáng tạo
Kẻ thù lớn nhất của hành động là sự lười biếng; và hậu quả của lười biếng là thụ động và phản xạ. Khi để lực đẩy bên ngoài như tình thế, con người, cơ chế…kiểm soát mọi hành động thì sáng tạo sẽ biến mất. Tôi vẫn nhớ lời dặn của một thầy giáo,” khi con cá sấu đang bám sát đít ta, thì ai cũng quên công việc chính của mình là tháo cạn hồ nước”. Tập làm quen với 2 người bạn đồng hành trong chuỗi phiêu lưu của bạn: mồ hôi và nước mắt.
- Phản ứng phụ
Như viên thuốc trị bệnh, hiệu quả tốt đẹp đến đâu cũng mang theo các phản ứng phụ, nhiều khi bất cập và khó chịu. Hành động để giải quyết một vấn đề, dù đúng, vẫn có thể mang lại cả chục vấn đề khác, đôi khi khó khăn hơn. Do đó, bạn cần phân tích kỹ, trước khi xuống tay kiếm, những tình huống ngắn hạn và lâu dài, cũng như những phản ứng từ khách hàng, nhân viên, đối tác…Kiên nhẫn, không vội vã và đừng để áp lực tạm thời làm sai hướng đi của quyết đoán.
- Thay đổi của thế trận
Như trên chiến trường, trận địa luôn thay đổi theo chiến thuật của đối thủ, theo thời điểm phù hợp, theo sức mạnh nội tại của mỗi phe, theo xu hướng thua thắng của tình hình…Bạn phải có đầu óc của một viên tướng, dù với sự nghiệp cá nhân, chỉ có mình bạn giữa trận mạc. Lùi một bước để tiến hai bước là một chiến thuật rất thành công của những du kích quân thời chiến tranh.
- Đừng trả giá quá đắt
Bất cứ hành động nào cũng kèm theo một đầu tư về tiền bạc, công sức, thời gian, cơ hội… Đôi khi bạn phải biết nói KHÔNG với những hành động mà lợi ích không xứng đáng với đầu tư. Đừng để sĩ diện, hào khí hay “sunk cost” (tiền đã lỡ châm vào)…ngăn bạn ngừng cuộc chơi, hãy biết walk away như bọn tư bản vẫn làm. Nên nhớ là trong cuộc đời thực, cơ hội đến với mỗi người liên tục, không phải như các tay thích nổ là “once in a lifetime” (cả đời chỉ có một lần).
- Kiểm soát liên tục
Mỗi kế hoạch phải có những điểm chốt (benchmarks) để bạn đánh giá tình thế về hướng đi cũng như tốc độ. Phải ngừng lại để phân tích đúng-sai, mạnh-yếu…và có cơ hội điều chỉnh kịp thời. Đây là lúc phải xét lại các tỷ số tài chánh, vì bottom line (bài toán sau cùng) luôn luôn là doanh nghiệp phải có doanh thu và lợi nhuận xứng đáng với số tiền đầu tư. Current ratio (tỷ số hiện tại= liquid assets over current debts); cũng như cash flow (dòng tiền) là 2 cách đo lường khá chính xác sự ổn định của doanh nghiệp.
Sau cùng, ở những công ty mà chi phí nhân viên và ban giám đốc khá lớn, việc theo sát các chi tiêu cũng như hiệu năng của họ là tối ưu cho hội đồng quản trị hay người chủ.
&&&&&&
Như đã nói, cuộc hành trình nào cũng cần một đích đến (mục tiêu) một road map- bản đồ (kế hoạch) và việc di chuyển (hành động). Quá đơn giản; nhưng nhiều bạn trẻ đã vấp ngã vì thiếu sửa soạn, dù cho một dự án nhỏ hay lớn. Lười biếng, cẩu thả và “đại khái chủ nghĩa” là quán tính phổ thông của mọi người, đôi khi cả những vĩ nhân. Gần như ai cũng đều “biết” quy trình căn bản này trên lý thuyết, nhưng chuyện thực thi lại có một tỷ lệ rất nhỏ.
Có lẽ đây là một cuộc tranh đấu trong nội lực của từng cá nhân. Bạn khao khát thành công cho đam mê mộng ước của mình, thì đừng bỏ sót những điều “hiển nhiên” trong quy trình.
Alan Phan