Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2015

Góp Ý Cho Ngành Du Lịch VN

Việt Nam đang mài mòn “rừng vàng biển bạc” để khai thác du lịch
Tác Giả: Thanh Thủy – CafeBiz – 2 June 2015
“Trong khi nước ngoài mang đến cho du khách các trải nghiệm thì các địa phương Việt Nam đang tự mài mòn các lợi thế tự nhiên. Với Hạ Long, khách du lịch ngoài việc thuê thuyền ở 1 đêm trên biển thì không còn gì trải nghiệm. Với Hội An, không biết xem gì ngoài việc thăm các phố cổ, các cửa hàng với các mặt hàng tương đối giống nhau…”
Du lịch vốn được mệnh danh là ngành công nghiệp không khói, bởi những lợi ích khổng lồ mà lĩnh vực này mang lại.
Mùa hè – Mùa cao điểm của du lịch đã đến. Nhân dịp hang Sơn Đoòng vừa được báo chí trong nước và quốc tế đặc biệt quan tâm chú ý thời gian qua, CafeBiz xin giới thiệu đến quý độc giả series ”Du lịch Việt Nam – Ngành công nghiệp không khói đang ngủ quên”.
- Chúng ta vẫn tự ca ngợi về tiềm năng tự nhiên của địa phương. Địa phương nào cũng có lợi thế nhất định về điểm đến tự nhiên như Hạ Long, Sơn Đoòng… Nhưng trong khi nước ngoài mang đến cho du khách các trải nghiệm thì các địa phương Việt Nam đang tự mài mòn các lợi thế tự nhiên để khai thác du lịch
- Trong khi slogan du lịch của các nước truyền tải một thông điệp rất rõ ràng như Malaysia là Truly Asia (Châu Á đích thực), Thái Lan là Amazing Thailand (Kinh ngạc Thái Lan), Singapore là YourSingapore thì Việt Nam hết sử dụng slogan The Hidden Charm (Vẻ đẹp tiềm ẩn) lại đến The Timeless Charm (Vẻ đẹp bất tận) – một khái niệm hết sức mơ hồ.
Sau khi video clip về Sơn Đoòng (Quảng Bình) được phát sóng trực tiếp trên đài truyền hình ABC của Mỹ, khi những âm hưởng về một thắng cảnh của Việt Nam lên đài truyền hình Mỹ chưa hạ nhiệt thì những số liệu thống kê về du lịch tiếp tục đánh dấu những ngày đen tối của ngành này. Số lượng du khách quốc tế đến Việt Nam giảm tháng thứ 12 liên tiếp so với cùng kỳ năm trước đó.
Chúng tôi đã có buổi trao đổi với ông Lê Quốc Vinh – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Truyền thông Lê (Le Group) – xung quanh những bất cập và giải pháp cho du lịch Việt Nam sau 12 tháng ngành du lịch tăng trưởng “giật lùi”.
“Du khách muốn tiêu tiền ở Việt Nam cũng không được”
* Du lịch quốc gia qua các con số thống kê ngày một ảm đạm trong vòng 1 năm trở lại đây. Vậy xét ở cấp độ địa phương, ông đánh giá tiềm năng du lịch ở cấp độ này thế nào?
Ông Lê Quốc Vinh – Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Le Group: Chúng ta vẫn tự ca ngợi về tiềm năng tự nhiên của địa phương. Địa phương nào cũng có lợi thế nhất định về điểm đến tự nhiên như Hạ Long, Sơn Đoòng, những thành phố, đô thị cổ… Chúng ta luôn nghĩ rằng đó là thế mạnh có thể thu hút được du lịch.
Không thể phủ nhận những điểm đến tự nhiên có sức hút với du lịch ở một mức độ nào đó, nhưng sản phẩm du lịch không đơn giản như vậy. Chúng ta đang lúng túng trong chuyện làm sao để thu hút khách du lịch đến, ở lại lâu, và có quay lại.
Lâu nay, Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng chỉ khai thác du lịch một cách rất tự nhiên, theo kiểu có gì làm nấy. Nhưng để khách trong nước, đặc biệt khách du lịch nước ngoài ở lâu, bỏ ra một khoản tiền nhất định cho chuyến du lịch của họ, sau đó giới thiệu với bạn bè, nhất là bản thân họ sau đó quay lại thì rất hiếm.
“Đến Hạ Long, khách du lịch ngoài việc thuê thuyền ở 1 đêm trên biển ngắm đảo thì không còn gì để trải nghiệm”.
Hầu hết sức hút mang tính chiều sâu là những sản phẩm có tác động của con người. Những sản phẩm do con người làm ra mới là thứ thu hút lâu dài, là thứ để khách du lịch rút hầu bao chi trả cho du lịch.
Chẳng hạn như ở Ấn Độ, người ta không để cho du khách đến ngắm cảnh đẹp tự nhiên không, mà họ phải tạo ra các sản phẩm du lịch có đặc tính văn hóa cao, ví dụ họ sử dụng các nghệ thuật dân tộc, hay giới thiệu các hoạt động ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, quà lưu niệm…, những thứ làm cho du khách đến đấy và bỏ tiền ra mua.
Các địa phương của chúng ta thì ngược lại, tự mài mòn các lợi thế tự nhiên. Đến Hạ Long, khách du lịch ngoài việc thuê thuyền ở một đêm trên biển ngắm đảo thì không còn gì để trải nghiệm. Không có cái gì làm cho người ta ở thêm trên biển, hoặc lên bờ họ cũng không có gì để chi trả thêm nữa, có muốn cũng không có.
Tôi gặp rất nhiều khách du lịch đến, họ sẵn sàng bỏ nhiều tiền như sau một chuyến đi trên vịnh, họ muốn về thành phố ở khách sạn cao cấp để chi nhiều tiền hơn, hoặc muốn tìm chỗ biểu diễn nghệ thuật để trải nghiệm về văn hóa Việt Nam. Nhưng không có.
* Theo ông, đâu là bất cập của du lịch địa phương hiện nay?
Yếu tố thứ nhất là sản phẩm du lịch mang đặc trưng văn hóa bản địa của chúng ta rất ít ỏi. Chúng ta tiếp khách nước ngoài loanh quanh lại múa nón, múa sạp… nên khách du lịch chỉ đi đến một địa phương là đủ.
Số lượng du khách đến Việt Nam đã ít, họ lại không chi tiền nữa, mà họ muốn chi cũng không được. Hiệu quả của du lịch thấp.
Đầu tiên, chúng ta phải nghĩ đến sản phẩm đã, và sản phẩm đó muốn bán được phải khác biệt, duy nhất, hấp dẫn và hữu ích. Nhưng sản phẩm làm ra phải nằm trong chiến dịch marketing của địa phương, chứ không phải thấy người ta làm gì mình làm nấy.
Ví như Đà Nẵng biến pháo hoa trở thành “đặc sản”, xây dựng chiến lược tiếp thị của Đà Nẵng lên tất cả các hoạt động xung quanh đó, phát triển hạ tầng và các sản phẩm, dịch vụ khác để phục vụ cho “đặc sản” này.
Yếu tố thứ hai là quảng bá. Khâu đầu tiên là khâu làm ra sản phẩm đã đuối rồi, khâu quảng bá cũng đuối theo. Các sự kiện mình quảng bá cực kỳ chung chung, ngay cả từ chiến lược du lịch.
The Hidden Charm (Vẻ đẹp tiềm ẩn – slogan du lịch trước đây của Việt Nam – PV) là cái gì chúng ta không định nghĩa được. Trong khi quốc gia khác truyền tải thông điệp rất rõ ràng, giúp du khách biết sẽ chờ đợi, sẽ thấy gì ở đất nước ấy, hoặc đối với các địa phương trong nước.
The Hidden Charm là một định nghĩa còn mơ hồ…
Du lịch Việt Nam đang thua Lào, Campuchia
* Nói vậy có phải phủ nhận tất cả những cái du lịch Việt Nam đã làm được những năm qua không, thưa ông?
Nhiều người tranh luận với tôi cho rằng du lịch Việt Nam đã làm tốt. Nhưng tốt là một khái niệm rất trừu tượng. Sự so sánh phải so trên một mặt bằng tiêu chuẩn mới so được ai tốt hơn ai. Khi mình nghĩ rằng mình tốt hơn cách đây 10 năm không có nghĩa là mình tốt, mà phải so sánh với toàn khu vực. Campuchia làm tốt hơn chúng ta rất nhiều, và họ đi rất nhanh.
Quảng bá hình ảnh quốc gia phải nêu lên được sự nổi bật của quốc gia đó.
Mới đây tôi nói chuyện với một người làm du lịch ở Pháp và cô ấy cho biết: Người Pháp giờ chỉ muốn đến Campuchia và Lào, không phải vì chi phí du lịch ít đi, mà họ thấy sức hút ở nhưng nơi đó. Trong khi đó, người Pháp ngày xưa đến Việt Nam rất nhiều.
Vì vậy, chúng ta phải chọn được giá trị cốt lõi chung của đất nước, sau đó tìm giá trị cốt lõi của từng địa phương, thì chúng ta mới tập trung quảng bá giá trị đó một cách hiệu quả. Khi đó, mới xây dựng được hình ảnh của địa phương và của cả quốc gia.
* Số liệu du lịch 12 tháng trở lại đây vô cùng u ám. Khách du lịch và càng ngày càng giảm. Mặc dù Tổng cục Du lịch đưa ra rất nhiều nguyên nhân như quan hệ với Trung Quốc, vấn đề kinh tế vĩ mô từ Nga, thủ tục visa… Theo ông đánh giá, những nguyên nhân này liệu đã đủ? Lượng khách du lịch đến Việt Nam ngày càng giảm liệu có đến từ cách làm du lịch chưa chuyên nghiệp từ phía Việt Nam?
Về khách quan, nếu chúng ta nói chiến tranh hay sự suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến tất cả mọi người, nhưng tại sao cùng một bối cảnh như thế, ở các nước khác, du lịch gia tăng mà chúng ta giảm, hoặc tuy có tăng nhưng tăng không bằng họ. Đấy chính là lý do nội tại.
Tổng cục Du lịch đưa ra rất nhiều ý kiến, trong đó có lý do chủ quan “rất lãng xẹt” như visa đắt đỏ hơn cả khung giá Chính phủ quy định chẳng hạn. Lý do căn bản nhất là lợi ích nhóm, lợi ích của từng bộ phận liên đới đến phát triển du lịch Việt Nam. Họ coi trọng lợi ích riêng của mình hơn lợi ích quốc gia.
Xem phim Tomb Raider, ai cũng thấy hình ảnh Angkor Wat kỳ vỹ và muốn sang du lịch Campuchia. Hay như Avengers của Mỹ quay ở Seoul, Seoul được lợi rất nhiều. Và Trung Quốc bỏ bao nhiêu tiền làm Kungfu Panda 1, Kungfu Panda 2…
Trong khi đó, bao nhiêu đoàn làm phim muốn đến Việt Nam, nhưng việc tổ chức sản xuất vô cùng khó khăn. Có những người nhẫn nại người ta vẫn sẽ đến, nhưng đa phần khi chán với hệ thống ấy họ sẽ bỏ cuộc, và tốt nhất là đi sang một nước nào đó. Bộ phim Điệp viên 007 sau khi bị Việt Nam từ chối với cảnh quay ở Vịnh Hạ Long đã chuyển sang Thái Lan, thế là Vịnh Hạ Long mất luôn cơ hội.
Trong khi đó, mới đây, Sơn Đoòng chỉ mất mấy chục phút mà bao nhiêu người biết đến Việt Nam.
* Ông từng nói: Để thay đổi cách làm thương hiệu cần thay đổi tư duy, trong đó cần thay đổi một cách toàn diện những rào cản pháp lý, thứ tư duy thắt chặt và khống chế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, đang làm nhụt chí các doanh nghiệp tâm huyết. Vậy theo ông, cơ chế nào để các doanh nghiệp trong nước quan tâm hơn đến đầu tư du lịch tại Việt Nam?
Theo tôi, thứ nhất, thay vì tư duy hạn chế phải chuyển sang tư duy khuyến khích. Nhà nước đang đặt ra một loạt rào cản, làm khó cho doanh nghiệp làm du lịch.
Hiện cơ quan xúc tiến du lịch đồng thời là cơ quan quản lý tư duy cản trở nhiều hơn tư duy khuyến khích. Trong khi đó, ở các nước, cơ quan xúc tiến du lịch chỉ làm xúc tiến thôi, và tất cả những cái họ làm là làm sao thu hút khách du lịch đến nhiều nhất.
Thứ hai, Nhà nước có dám trao quyền cho doanh nghiệp làm điều họ muốn hay không? Nếu dám để cho họ làm sáng kiến của họ thì doanh nghiệp sẵn sàng bỏ tiền đầu tư. Ví như công ty làm du lịch Sơn Đoòng có tư duy rất Tây. Họ sẵn sàng làm những điều mà họ cho là tốt cho doanh nghiệp của họ, xúc tiến được hoạt động của họ thì họ đầu tư ngay. Nhưng nếu nghĩ ra một loạt hạn chế, họ sẽ “thà không làm thì thôi”.
* Xin cảm ơn ông!
Lào: Năm 2014, du khách đến Lào tăng 11%, lên 4,15 triệu du khách. Năm 2013, ngành du lịch đóng góp cho GDP nước này 11.800 tỷ LAK, tương đương 1,46 tỷ USD, đóng góp 14,2% GDP. Năm 2014, ngành du lịch thu về 23.300 tỷ LAK, tương đương 2,88 tỷ USD, đóng góp vào 13,9% GDP.
Campuchia: Khách du lịch quốc tế đến nước này năm 2014 chỉ tăng trưởng ở mức 1 con số (7%), sau 4 năm tăng trưởng trên 2 con số. Mức chi tiêu của khách du lịch ngày càng tăng, hiện ở mức 2,74 tỷ USD, tăng so với mức 2,55 tỷ USD năm 2013.
Trong khi đó, du khách đến VN đã giảm 12 tháng liên tiếp kể từ tháng 5/2014. Theo Tổng cục Thống kê, trong 5 tháng đầu năm 2015, khách quốc tế đến Việt Nam đã giảm 12,6% so với cùng kỳ năm trước.
“Người ta đến một quốc gia là vì cái gì?
Việt Nam: Slogan của ngành du lịch Việt Nam – Hidden Charm trước đây và Timeless Charm (Vẻ đẹp bất tận) – là một khái niệm hết sức mơ hồ.
Trong khi đó, slogan du lịch của các nước đều truyền tải một thông điệp hết sức rõ ràng.
Malaysia: Truly Asia (Châu Á đích thực). Đến đây là đặc trưng của Châu Á. Đến đây bạn sẽ tìm thấy các nét đặc trưng của Châu Á.
Thái Lan: Amazing Thailand (Kinh ngạc Thái Lan). Đến đây sẽ thấy những điều ngoài sức tưởng tượng của bạn.
Singapore: Your Singapore (Singapore của bạn). Singapore không phải là của tôi, của những người Singapore, mà là của tất cả mọi người đến Singapore.
Mọi người quảng bá là Việt Nam thân thiện, nhưng sự thân thiện là một khái niệm rất trừu tượng. Mang sự thân thiện của mình so với các quốc gia khác chúng ta đâu có sự nổi trội. Bộ mặt cau có của các nhân viên công vụ của chúng ta ai cũng thấy.
Chúng ta có môi trường xanh? Không. So với nước nào chúng ta cũng kém hơn”.
Ông Lê Quốc Vinh
Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Le Group

Quan Chức, OPM và Vinh Quang

Nửa nghìn tỷ sắm xe công và con ‘quan’ chê vinh quang
Tác Giả: Kỳ Duyên – Tuần VN – 30 May 2015
Bất cứ ở thời đại nào, thời cuộc nào, dù chiến tranh hay xây dựng đất nước, sự ứng xử công bằng với mọi số phận công dân không chỉ hạn chế lãng phí nguồn nhân lực, mà còn chính là một thước đo văn minh, nhân bản của XH đó.
Nước Việt có nổi những thước đo đó không, để góp phần xóa đi những bất công còn đang hiện hữu?
Gắn liền với tệ nạn tham nhũng, có một hiện tượng nguy hại không kém, nhưng có vẻ như ít “lọt mắt xanh” của XH, mặc dù cũng là thứ “sát thủ thầm lặng” của sự phát triển. Đó là hiện tượng lãng phí. Mà dân gian thường mỉa mai- tiền chùa í mà!
“Cha chung không ai khóc”
Gọi là tiền chùa, bởi đó là thứ tiền coi là thuộc về của chung, không phải của riêng, nên người ta không có trách nhiệm, và không biết tiếc.
Nhưng thực chất, tiền chùa vẫn có địa chỉ rõ ràng- đó là tiền thuế của dân.
Cũng chính vì quan niệm là thứ tiền không phải của mình, chả cứ cá nhân quan chức nào, mà ngay cả các cơ quan nhà nước cũng rẻ rúng tiền chùa vô tội vạ. Tại buổi tọa đàm góp ý kiến sửa đổi dự thảo Luật Ngân sách nhà nước, có đại biểu thẳng thắn: “Việt Nam tiêu tiền tùy tiện nhất thế giới”( Đất Việt, ngày 19/5).
Có chuyên gia nước ngoài từng thốt lên “Ăn uống, tiếp khách ở Việt Nam một tháng bằng chi cả một năm ở Châu Âu (nước họ)”!
Câu chuyện tiền chùa lập tức xới lên trên các trang báo, những thông tin đắng lòng, tưởng đã im lìm… chìm xuồng. Đó là những công trình, những dự án tiền tỷ đi vay, chịu sự ràng buộc bởi các quy định của ngân hàng trong nước, các ODA quốc tế, nhưng xây xong thì thân phận bẽ bàng trơ gan cùng tuế nguyệt.
Sự sử dụng một cách lãng phí tiền chùa vô cùng đa dạng, và bất công. Tiền chùa bỗng trở thành một miếng giữa đàng.
Trước đó, tháng 11/2014, báo Lao động cho biết, trong phiên QH thảo luận về tái cấu trúc kinh tế, các ĐBQH đã thông tin, nhiều công trình bị bỏ hoang, trong khi dân không có nhà ở. Nhiều dự án vay vốn ODA không tính toán kỹ, gây lỗ, mất khả năng thanh toán nợ. Ngược lại ở Cà Mau, 250 nghìn người dân ở hai huyện Đầm Rơi, Ngọc Hiển (Cà Mau), sau 40 năm thống nhất đất nước, vẫn không có nổi một con đường để đi lại, đến mức họ có cảm giác bị bỏ rơi.
Trong khi đó, ngay tại Thủ đô HN thôi, có rất nhiều cao ốc triệu đô, rồi Bệnh viện Quốc tế Hoa Kỳ được đầu tư tới 50 triệu USD, được kỳ vọng là bệnh viện quốc tế 05 sao, sau khi xây dựng xong phần thô, cũng bị bỏ hoang. Rút cục, kỳ vọng của người dân tan như sương khói. Mà con số những công trình kiểu này không hề ít. Thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường HN cho thấy, HN có khoảng 500 dự án đã được phê duyệt, giao đất nhưng đang “đắp chiếu” (VnMedia, ngày 19/5).
Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ Tài chính ngày 21/5, riêng năm 2014, VN chi gần 500 tỷ đồng mua mới 507 xe công cho các bộ, ngành, địa phương. Đáng chú ý, chỉ mới năm trước, 2013, tại hội nghị trực tuyến với các địa phương, Chính phủ đã đề nghị không mua sắm xe công từ năm 2015. Phải chăng năm 2014 vì thế là năm ô tô công… chạy nước rút?
Vì sao, tiền chùa bị rẻ rúng đến vậy, dù nó thấm đẫm mồ hôi lao động một nắng hai sương của người dân.
Hay bởi nó là tiền chùa, nhân danh ngân sách nhà nước, nên không ai của đau con xót?
Hay bởi tâm lý – tiền của các dự án ODA là tiền tài trợ, không hoàn lại, hoặc trả lãi thấp, nên các địa phương có quyền vung tay quá trán?
Trong khi những câu hỏi đó còn treo lơ lửng, thì một vụ việc gây ồn ào như một minh chứng sinh động về thân phận tiền chùa bất ngờ nổi lên mới đây. Đó là vụ nhà máy liên hợp gang thép Vạn Lợi nghìn tỷ ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) sắp khai tử (VietNamNet, ngày 22/5).
Sau 06 năm bỏ hoang, Vạn Lợi đang chuyển dần thành “vạn hại”.
nha may thep
Nhà máy liên hợp gang thép Vạn Lợi nghìn tỷ ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) sắp khai tử.
Mà không “vạn hại” sao được, khi tổng mức đầu tư của dự án lên tới hơn 1.700 tỷ đồng, trong đó khoảng 85% là vốn của các ngân hàng cho vay (trên tổng mức đầu tư dự án), chủ đầu tư chỉ có 15%, giờ các hạng mục như đống sắt vụn. Nhưng chìm nổi theo Vạn Lợi, rất có thể là một loạt các ngân hàng nổi tiếng….
Vụ việc Vạn Lợi- “vạn hại” đang làm tốn giấy mực của báo chí, bởi nó không phải vụ việc lãng phí đầu tiên, cũng không phải vụ việc cuối cùng. Có điều cái chết dần dần của nó, đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm vào cuộc, làm rõ một loạt vấn đề: Năng lực thẩm định dự án, sự dễ dãi cho vay tiền của các ngân hàng, việc sử dụng công nghệ rẻ tiền của nước ngoài?…
Đặt vụ việc “vạn hại” này trong bối cảnh vấn nạn tham nhũng, lãng phí tiền chùa sống nhăn nhở, như là … chuyện thường ngày ở các ngành, các cấp, liệu có liên quan gì đến những con số nợ công của quốc gia, rất đáng giật mình?
Theo trang Truyenthongso.net.vn, ngày 05/5, nếu năm trước, 2014, mỗi người Việt gánh khoảng 896 USD nợ công, thì tới thời điểm sáng 04/5, số nợ công trên đầu người đã lên tới 979,77 USD (khoảng hơn 21 triệu đồng VN). Tiền nợ cứ tỷ lệ thuận với thời gian?
Trả lời báo Đất Việt ngày 19/5, GS.TS Đặng Đình Đào (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học KTQD HN) cho hay, theo quan điểm của Bộ Tài chính, nợ công của VN hiện nay không đáng lo ngại, hiện vẫn ở dưới mức cho phép là 65%. Tuy nhiên, đó là do quan niệm chưa thống nhất về nợ công. Bởi cách tính nợ công ở đây không bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ đọng xây dựng cơ bản. Nhưng cũng theo ông Đặng Đình Đào, cách tính nợ công đó chưa phản ánh đúng nguy cơ thực tế.
Trong điều kiện như vậy, VN vẫn tiếp tục đi vay thêm mà các khoản vay lại chủ yếu là để… trả nợ. Hơn nữa, trong cơ cấu, nợ ngắn hạn rất lớn, tốc độ tăng nợ lại nhanh hơn tốc độ tăng GDP, nên rõ ràng nợ công đe dọa an ninh tài chính quốc gia (!)
Liệu điều đó đã đủ sức cảnh báo các bộ, ngành, các cấp phải có giải pháp ngăn chặn hiện tượng lãng phí hiện nay?
Chắc chắn, chỉ có cơ chế quản lý công khai, minh bạch mới có thể kiểm soát được các khoản chi tiêu của các cơ quan công quyền, có khả năng hạn chế tình trạng quản lý lỏng lẻo, tạo điều kiện cho lãng phí- thất thoát- “cặp đôi bất trị” quay cuồng ở bất cứ lĩnh vực nào, ngành nào.
Mặt khác, Luật chi tiêu công mới đã được bổ sung. Nhưng thói quen giám sát và quản lý lỏng lẻo, khiến cho hiện tượng luật đi đằng luật, lãng phí đi đằng lãng phí vẫn ngựa quen đường cũ. Như vậy, cùng với văn bản luật, thì rút cục, hành động- siết chặt công tác giám sát và quản lý vẫn là điều kiện quyết định.
Đáng chú ý nhất vẫn là ý kiến của các chuyên gia khi cho rằng, có hai điều kiện quan trọng không kém, gắn bó nhau chặt chẽ: Đó là giảm bớt tới 1/3 số nhân sự của các bộ máy công quyền. Làm cho thu nhập của bộ máy này tăng lên 50%, và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chi tiêu công.
Liệu khi đó, đã hy vọng người Việt biết “cha chung vẫn khóc” chưa?
“Nhường vinh quang” cho con nhà nghèo?
Trong tuần, nổi lên về một hiện tượng lãng phí không kém lãng phí tiền chùa, phản chiếu xung quanh những trao đổi của các ĐBQH về dự thảo Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) Đó là lãng phí nguồn nhân lực.
Có rất nhiều những quy định còn bất cập, chưa hợp lý của dự thảo này về thời điểm đăng ký NVQS, thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ, quy định NVQS phổ thông.., nhưng có một vấn đề được dư luận XH ồn ào bàn tán. Đó là ý kiến của nhiều ĐBQH đặt câu hỏi vì sao, đối tượng nhập ngũ hiện nay vẫn chủ yếu là con em nông dân, đồng bào dân tộc. Đây cũng là hai loại đối tượng thiệt thòi nhất trong XH. Trong khi đó, con nhà giàu, con cán bộ, quan chức lại ít phải nhập ngũ?
Tại cuộc báo cáo, chỉnh lý dự thảo Luật NVQS (sửa đổi) trước Quốc hội chiều 21/5,đại biểu Nguyễn Bá Thuyền (Lâm Đồng) phải đặt câu hỏi: Nói NVQS là vinh quang, nhưng đối tượng nhập ngũ chủ yếu vẫn là con em nông dân, đồng bào dân tộc. Tại sao vẫn còn nhiều con em nhà giàu, con em cán bộ không “nhận”? Ông cũng nói thêm: “Vinh quang có lẽ chỉ thuộc về con em nông dân”.
Hóa ra, thành ngữ nước chảy chỗ trũng từ xa xưa đến thời hiện đại vẫn ứng nghiệm, với con nhà giàu, con sếp.
Còn khái niệm “vinh quang” trong trường hợp này, bản chất là những khó khăn, gian khổ, thiệt thòi, thua thiệt, mà con em nông dân luôn phải gánh.
Nhưng cái sự “nhận” vinh quang hay không “nhận” giờ đây cũng rất tế nhị, cho dù cùng là lực lượng quân ngũ bảo vệ chính quyền. Đó là khi ĐBQH Nguyễn Bá Thuyền so sánh: Vào ngành X. thì làm đơn, xét duyệt tranh nhau, còn đi nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ bắt buộc. Và ông không lý giải thêm.
Không lý giải tức là đã… lý giải!
Chia sẻ quan điểm này của ĐBQH Nguyễn Bá Thuyền, ĐBQH Nguyễn Hoài Phương (Tây Ninh) cũng cho rằng, ở đâu cũng vẫn còn nhiều dư luận về hiện tượng tiêu cực- trốn tránh không thực hiện Luật NVQS. Do đó, Điều 42 dự thảo luật cần bổ sung theo hướng: Công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ, được miễn gọi nhập ngũ phải được công khai tại trụ sở UBND cấp xã, trụ sở cơ quan, tổ chức nơi công dân công tác (VOV, ngày 21/5).
Những phát biểu thẳng thắn đó đã để lại dư vị buồn, nhưng đó là thực tế đời sống hôm nay.
Mỗi thời cuộc, mỗi thời đại đều có những thước đo riêng về thang giá trị. Có những thước đo hay. Lại cũng có những “thước đo” đậm đặc mùi vị kim tiền. Ví như con cái nhà giàu, con sếp, thước đo thời nay rất hấp dẫn: Đó là “1-2-3-4”. Có nghĩa là một vợ, hai con, ba lầu (nhà ba tầng), bốn bánh (xe con) (theo GDVN, ngày 25/5).
Chỉ con nhà nghèo, vẫn… rứa, theo công thức “3-3”- cơm ba bát, áo ba manh.
Đã có một thời, NVQS là trách nhiệm thiêng liêng của bất cứ người thanh niên nào, không phân biệt số phận giàu nghèo, con quan chức hay con thường dân. Tổ quốc gọi, họ sẵn sàng cầm súng lên đường làm tròn bổn phận. Chính vì thế, mà nước Việt mới có ngày nay, với chủ quyền, độc lập và tự do dân tộc. Chính vì thế, trong đội ngũ những người con ưu tú của dân tộc đã mãi mãi nằm lại với cát bụi, cỏ cây, có không ít con em các gia đình giàu có, khá giả, con em các vị cán bộ lãnh đạo, bên cạnh con em các gia đình nông dân, con nhà nghèo.
Trước Tổ quốc, lòng yêu nước, sự dấn thân và hy sinh máu xương của mọi công dân là bình đẳng.
Nhưng giờ đây, thời yên bình…
Không ai phủ nhận, mục đích xây dựng một XH dân giàu, nước mạnh, XH dân chủ công bằng, văn minh là điều tốt đẹp, mà nước Việt đang hướng tới. Nhưng hành trình phát triển của một XH, thoát thai từ phong kiến, chiến tranh, đói nghèo, từ những mò mẫm về lý luận mô hình XH, vẫn luôn có những bất cập, bởi tầm nhìn và tư duy hạn hẹp, xơ cứng.., vô tình vẫn luôn tồn tại những bất công không tránh khỏi. Sự bất công có thể nảy sinh ở bất cứ lĩnh vực nào.
Tỷ như trong quản lý, đặc quyền luôn gắn với đặc lợi.
Tỷ như trong kinh tế, kinh tế NN là chủ đạo.
Tỷ như trong giáo dục, hiện tượng trường chuyên lớp chọn.
Và nay, trong thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Có những bất công, phải tạm thời chấp nhận, như trong giáo dục. Trường chuyên lớp chọn vẫn là một giải pháp tình thế lâu dài, để tạo nguồn trò giỏi, hứa hẹn đội ngũ nhân lực cao trong tương lai.
Có những lĩnh vực, XH đang dần điều chỉnh, để có thể hướng tới hội nhập hiện đại, như trong kinh tế.
Có những lĩnh vực, cần được kiểm soát bằng một thiết chế giám sát, công khai và minh bạch.
Và có những lĩnh vực, phải được điều chính từ văn bản quy phạm pháp luật, mà Luật NVQS, là rất cụ thể, điển hình.
Bởi dù bất cứ ở thời đại nào, thời cuộc nào, dù chiến tranh hay xây dựng đất nước, sự ứng xử công bằng với mọi số phận công dân không chỉ hạn chế sự lãng phí nhân lực, mà còn chính là một thước đo văn minh, nhân bản của XH đó.
Nước Việt có nổi những thước đo đó không, để góp phần xóa đi những bất công còn đang hiện hữu?
Kỳ Duyên

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Bài Toán Tỷ Giá = Giá Trị Thực Của Việt Nam Đồng?

Nguồn : Vững Đại Phát
Điều chỉnh tỷ giá và bài toán được – mất
Lê Thúy – TBKD – 3 June 2015
(GNA: Nếu 2011, tỷ lệ lạm phát 18.72% là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến kinh tế vĩ mô của Việt Nam, thì tỷ giá năm 2015 sẽ thử thách mọi kết luận về thực trạng)
Neo giữ tỷ giá có lợi cho ổn định vĩ mô, lạm phát và cân đối cán cân ngân sách… Nhưng bất lợi sẽ là nguy cơ đầu cơ chợ đen do trục lợi tỷ giá, giảm giá trị xuất khẩu, tăng nhập siêu và ngân sách không đủ thu.
- Việc neo giữ tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD đang tích lũy những bất ổn tiềm tàng, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến nông nghiệp, du lịch và những ngành xuất khẩu có thâm dụng lao động.
- Nếu VNĐ định giá cao 10%, khiến sản lượng ngành công nghiệp nhẹ thâm dụng lao động có thể giảm 7,65% và xuất khẩu giảm 11,64%.
- Từ nay đến cuối năm, room tăng tỷ giá sẽ không còn trong khi thị trường ngoại hối quốc tế đầy rẫy biến động, sẽ khiến thị trường tài chính năm 2016 có nhiều diễn biến khó lường.
“Đồng Nhân dân tệ (Trung Quốc), Yen (Nhật Bản) hay Euro (EU) đang phá giá rất mạnh so với trước, các nước đều thực hiện chính sách thả nổi đồng tiền của mình để có
lợi cho xuất khẩu và thực hiện các chính sách: tăng việc làm (Nhật Bản), thúc đẩy xuất khẩu (Trung Quốc), trả nợ công (một số nước EU), trong khi đó Việt Nam lại thực hiện chính sách neo giữ tỷ giá cứng 2%/năm…”, đó là quan điểm của TS. Lê Đăng Doanh về vấn đề tỷ giá được chia sẻ tại lễ Công bố Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam năm 2015 do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức ngày 28/5.
Tỷ giá lại thêm nóng!
Dựa trên báo cáo này, các chuyên gia của VEPR một lần nữa khẳng định: Việc neo giữ tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD đang tích lũy những bất ổn tiềm tàng, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến nông nghiệp, du lịch và những ngành xuất khẩu có thâm dụng lao động.
Theo đó, nhóm tác giả này khẳng định, việc chỉ điều chỉnh 2% tỷ giá trong năm nay của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong bối cảnh các đồng tiền mạnh thế giới đang phá giá mạnh khiến đồng tiền Việt Nam mất lợi thế cạnh tranh và chứa đựng nhiều rủi ro đối với nền kinh tế. Nhóm nghiên cứu khẳng định việc neo giữ tỷ giá đang là rủi ro vĩ mô cho nền kinh tế, trong đó đặc biệt là rủi ro về đầu cơ và trả nợ công.
Theo TS. Nguyễn Đức Thành – Viện trưởng VEPR: “Việc duy trì tỷ giá VNĐ/USD ổn định danh nghĩa như hiện nay, trong bối cảnh nhiều đồng tiền mạnh đã giảm giá trong năm 2014 sẽ khiến VNĐ ngày càng bị đánh giá cao, khiến bất lợi cho xuất khẩu. 5 ngành bị tác động tiêu cực từ VNĐ cao là: nông nghiệp, khai khoáng, chế biến nông nghiệp, công nghiệp nhẹ thâm dụng lao động và công nghiệp nặng. Hai ngành hưởng lợi từ VNĐ cao là công nghiệp chế tạo thâm dụng vốn và ngành dịch vụ”.
Bất ổn tiềm tàng
Bằng các mô hình kinh tế, nhóm tác giả báo cáo chỉ rõ những tác động của neo giữ tỷ giá, từ năm 2011 – 2014, VNĐ đang có xu hướng lên giá và đang được định giá cao từ 7 – 11%. Công nghiệp nhẹ thâm dụng lao động chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ việc tỷ giá thiếu sức cạnh tranh.
Nếu VNĐ định giá cao 10%, khiến sản lượng ngành này có thể giảm 7,65% và xuất khẩu giảm 11,64%. Kim ngạch nhập khẩu có thể tăng lên 33,17% nếu VNĐ được định giá cao hơn 10%. Trong khi đó, lượng khách du lịch quốc tế sang Việt Nam đang có xu hướng giảm.
Trước thực tại trên, thay mặt nhóm nghiên cứu, Ts. Thành kiến nghị: “Việt Nam cần có một lộ trình phù hợp để đạt được mức tỷ giá cạnh tranh hơn cho Việt Nam, tối thiểu ở mức giá cân bằng. Trong đó, bước đầu tiên cần phải để tỷ giá thực tiền đồng tiếp tục gia tăng và đòi hỏi mức điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa cần phải lớn hơn khoảng cách giữa lạm phát của Việt Nam và thế giới”.
Nên điều chỉnh thêm 1% tỷ giá?
Trên thực tế, từ đầu năm đến nay, đã hai lần NHNN điều chỉnh tỷ giá, một lần vào tháng 1/2015 và lần tiếp theo vào tháng 5/2015. Như vậy, với tuyên bố chỉ điểu chỉnh tối đa 2% tỷ giá năm nay, “room” cho điều chỉnh tỷ giá từ nay đến cuối năm đã cạn. Ngày 27/5, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng cho biết NHNN vẫn kiên định mục tiêu giữ biên độ điều chỉnh tỷ giá 2% trong năm nay.
Bình luận về vấn đề này, ở góc độ khác, chuyên gia tài chính, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng: việc neo tỷ giá cứng làm gia tăng nguy cơ “hai thị trường” tồn tại và nảy sinh các vấn đề cần quản lý. Một là thị trường chính thức liên ngân hàng và thị trường giao dịch tỷ giá hối đoái lậu ngoài “chợ đen” như những năm 2011, 2012. Neo giữ tỷ giá trong khi tỷ giá thực cao hơn sẽ phát sinh nhóm lợi ích, tổ chức đầu cơ mua ngoại tệ ngân hàng để bán ngoài thị trường tự do nhằm trục lợi, gây bất ổn vĩ mô đối với nền kinh tế và các khu vực DN.
“Theo tôi, NHNN nên điều chỉnh linh hoạt tỷ giá tăng thêm 1% từ nay đến cuối năm thay vì giữ cứng 2% như hiện nay. Từ nay đến cuối năm, room tăng tỷ giá sẽ không còn trong khi thị trường ngoại hối quốc tế đầy rẫy biến động, sẽ khiến thị trường tài chính năm 2016 có nhiều diễn biến khó lường”, ông Hiếu trăn trở.
Báo cáo thường niên Kinh tế năm 2015 cũng chỉ rõ những tác động của hội nhập đối với ngành ngân hàng, trong đó có hai khía cạnh là: những bất ổn vĩ mô nghiêm trọng do khả năng nội tại cũng như môi trường bên ngoài tác động.
Vì vậy, sẽ có hai kịch bản được đặt ra để đánh giá sức chịu đựng của các ngân hàng được xây dựng theo hai cách khác nhau. Kịch bản đầu tiên xây dựng mô hình VAR cho các biến số vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế như tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất cho vay và tỷ giá VND/USD; và mô hình ARIMA cho chỉ số VN-Index, để đưa ra dự báo và lựa chọn các sự kiện “đuôi” 1% trong hàm phân bố xác suất.
Kịch bản thứ hai quan sát chuỗi các biến vĩ mô trong giai đoạn quý I/1996 đến quý IV/2014 và lựa chọn những thời điểm các biến số vĩ mô này bất lợi nhất cho nền kinh tế. Từ hai kịch bản này, các tác giả tính toán hệ số an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng sau năm 2015, đồng thời ước tính chi phí tái cấp vốn cho toàn bộ hệ thống.
TS. Huỳnh Thế Du – Giảng viên Chương trình Giảng dạy Fulbright
Vấn đề nóng nhất lúc này là tỷ giá, chúng ta cần phải điều chỉnh tỷ giá linh hoạt theo thị trường bởi với đồng Việt Nam yếu sẽ có lợi cho xuất khẩu, tăng ngoại tệ và trả nợ quốc gia. Không nên bảo hiểm tỷ giá toàn bộ nền kinh tế như hiện nay bởi các đồng tiền mạnh trên thế giới đã giảm giá. Trong các thứ mạnh lên, mọi người đều đáng mừng, riêng sự mạnh lên của đồng tiền thì không. Đồng tiền của một quốc gia mạnh lên thì cạnh tranh với quốc tế bị ảnh hưởng, sức cạnh tranh của quốc gia bị ảnh hưởng nhiều.
TS. Nguyễn Đức Thành – Viện trưởng VEPR
Theo quan điểm của tôi, nhóm nghiên cứu đã có đề xuất từ nhiều năm trước là nên có điều chỉnh liên tục trong những năm qua bởi vì đó là thời kì lạm phát thấp thì việc ảnh hưởng của lạm phát do tỷ giá thay đổi cộng vào trong lạm phát đang thấp này thì đó không phải là vấn đề nghiêm trọng, nhưng rất tiếc là thời gian vừa qua, chúng ta cố gắng duy trì tạo ra dư địa về không gian chính sách vĩ mô nhiều hơn nên chưa điều chỉnh tỷ giá, vì vậy các nhà chính sách cần sử dụng không gian hạn hẹp như vậy. Khuyến nghị của chúng tôi nên điều chỉnh tỷ giá hàng năm một cách đều đặn, có khung về chênh lệch giữa VNĐ và USD, để chúng ta lấy lại tỷ giá thấp hơn cho tương lai.
TS. Lê Đăng Doanh – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM)
Việc neo giữ tỷ giá như hiện nay sẽ có nhiều rủi ro cho kinh tế vĩ mô trong trung và dài hạn như: rủi ro đầu cơ, gia tăng nhập siêu, thất thu cho ngân sách và chi tiêu của khách du lịch quốc tế tăng lên do giá đồng Việt Nam đắt. Các nước linh hoạt điều chỉnh tỷ giá là do dự trữ ngoại hối của họ bằng đồng USD dồi dào như Trung Quốc, Nhật Bản… nên điều chỉnh tỷ giá đối với họ không gây nhiều tác động đối với kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, ở Việt Nam, các yếu tố này không cho phép nên NHNN vẫn phải sử dụng các biện pháp cứng để điều tiết thị trường. Đây là một việc cực chẳng đã và không thể tránh khỏi những tác động ngược.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

Khi Dư Luận Viên Mỹ Mở Miệng….

Nước Mỹ Vĩ Đại
Tác Giả: Nguyễn Quốc Khải – VOA – 2 June 2015
(GNA: Ông già Alan sang Mỹ học từ 1963 nhưng không chắc đã hùng hồn thuyết phục và có lòng tin son sắt vào mẫu quốc như bạn Khải này. Nghiên khảo cẩn thận đề tài; nói có sách mách có chứng. Đề nghị Mr. Khải sang Việt Nam mở một khóa học dậy các DLV Việt đường lối tuyên truyền hiện đại; vì chỉ lập đi lập lại khẩu hiệu từ báo Nhân Dân, đọc buồn ngủ quá)
Nhờ phim ảnh và sách báo, từ nhỏ tôi đã nghĩ là Hoa Kỳ là một nước vĩ đại. Không đầy hai thế kỷ từ ngày lập quốc, Hoa Kỳ đã trở thành một cường quốc số một của thế giới sau Đệ Nhất Thế Chiến. Vào đầu thập niên 70, sau nhiều cam go, xin được học bổng của Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế (U.S. Agency for International Development viết tắt là USAID) tôi được đặt chân đến Hoa Kỳ, một cơ hội cho tôi lần mò tìm hiểu làm thế nào Hoa Kỳ lại hùng mạnh đến như vậy.
Cơ quan USAID đề nghị ba trường đại học cho tôi tự ý chọn: Ohio State University, Louisana State Unversity, và University of Florida. Tôi sợ lạnh nên lựa đại học của vùng nắng ấm Florida. Khi tôi nhập học, trường cho tôi ở chung với ba sinh viên Hoa Kỳ trong một phòng lớn có hai phòng ngủ và một phòngkhách và bếp nối liền nhau ở tầng 9 trong một cao ốc 12 tầng.
Không đầy một tháng, tôi được tin cơ quan Quản Trị Hàng Không và Không Gian Quốc Gia (National Aeronautics and Space Administration viết tắt là NASA) báo tin về ngày phóng phòng thí nghiệm không gian (skylab) vào quỹ đạo trái đất. Tôi muốn chứng kiến một chương trình vĩ đại của nước Mỹ. Rất tiếc rằng cửa sổ phòng của chúng tôi hướng về phía bắc, trong khi đó Cape Canaveral, nơi phóng hỏa tiễn lại ở về hướng nam. Cho dù ở cùng hướng, tôi cũng không nhìn thấy hỏa tiễn phóng lên, vì hai nơi cách xa nhau 170 dặm.
Những thứ vĩ đại của nước Mỹ người ta thường nghĩ đến là những tòa nhà chọc trời ở New York, hệ thống xa lộ chằng chịt bao trùm khắp nước Mỹ, chương trình Apollo đưa con người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng, phi thuyền con thoi, số giải thưởng Nobel dành cho những nhà bác học Hoa Kỳ, lợi tức đầu người trung bình của người dân Hoa Kỳ và những trường đại học nổi tiếng. Theo điều nghiên của Đại Học Jaotong tại Thượng Hải, trong 20 trường đại học tốt nhất thế giới, 17 trường là của Hoa Kỳ. [1]
Kể từ ngày tới Mỹ du học đến nay, tôi đã ở liên tục trên đất nước này trên 40 năm, nhiều hơn cả thời gian ở Việt Nam. Thời gian này dài đủ để buộc tôi phải hiểu thêm về quốc gia trẻ trung và hùng mạnh này. Vai trò đại cường quốc mà nước Mỹ đạt được không phải là nhờ nước Mỹ rộng lớn, trải dài từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương. Thật vậy, Liên Bang Nga lớn gấp bội so với Hoa Kỳ. Trung Quốc và Canada có một diện tích xấp xỉ với Hoa Kỳ. Brazil và Úc cũng không thua Hoa Kỳ về diện tích bao nhiêu.
Nước Mỹ vĩ đại cũng không phải vì dân số đông. Thật vậy, Trung Quốc và Ấn Độ có dân số lớn gấp trên dưới bốn lần so với dân số của Hoa Kỳ nhưng tổng sản phẩm nội địa trung bình đầu người của Trung Quốc và Ấn Độ thua xa Hoa Kỳ. Singapore, Na Uy, và Thụy Sĩ có lợi tức đầu người trung bình hơn cả Hoa Kỳ mặc dù ba nước này rất nhỏ về cả diện tích lẫn dân số.
Nước Mỹ làm được những thứ vĩ đại chính là nhờ vào những điều rất tầm thường nhưng vô cùng quan trọng, nhiều quốc gia như Việt Nam không có được vì gánh nặng văn hóa chậm tiến đè nặng trên vai trên cổ của họ cùng với một mớ giáo điều lỗi thời.
Tôi đến nước Mỹ lần đầu tiên vào mùa xuân 1970 trong một chương trình huấn luyên quân nhu và du sát trong 4 tháng. Thỉnh thoảng chúng tôi được cho đi thăm thú một vài danh lam thắng cảnh của nước Mỹ bằng xe buýt. Mỗi khi gần đến các đoạn đường có đường xe lửa chạy ngang, ông tài xế cho ngừng xe lại, mở hết các cửa xe ra, rồi mới vượt qua đường sắt, mặc dù ở ngay giữa đồng không mông quạnh, không thấy một bóng dáng xe cộ nào cả. Ngày nay, thỉnh thoảng lái xe ban đêm khoảng một hai giờ sáng, tôi vẫn thấy người ta chịu khó chờ đèn xanh chứ không vượt đèn đỏ, mặc dù đường xá vắng tanh. Tinh thần kỷ luật của dân Mỹ nói chung rất cao là một trong những yếu tố làm cho nước Mỹ hùng mạnh. Dân Mỹ tôn trọng kỷ luật một phần vì luật pháp ở Hoa Kỳ rất nghiêm minh. Luật do chính người dân làm ra qua những người đại diện của họ trong chính quyền hoặc các cơ quan lập pháp.
Tôi làm việc nhiều năm tại Washington-DC. Thỉnh thoảng tôi đi bộ đến National Geographic Society (NGS) vào giờ trưa để xem triển lãm, tìm kiếm bản đồ, và sách báo về địa dư. Trong một thời gian rất lâu tôi vẫn tưởng NGS là một cơ quan của chính phủ, vì tầm vóc của cơ quan này về phương tiện cũng như hoạt động rất lớn, nhưng thật ra đây là một hội tư nhân bất vụ lợi, thành lập từ năm 1888, chuyên nghiên cứu về địa dư, khảo cổ, khoa học tự nhiên, và bảo vệ môi trường. NGS có 700 triệu độc giả mỗi tháng. Những ấn phẩm được in bằng 40 ngôn ngữ khác nhau. Ngân sách hàng năm vào khoảng $500 triệu.
NGS là một trong hơn 1.5 triệu tổ chức phi chính phủ (non-governmental organization viết tắt là NGO) tại Hoa Kỳ.[2] Những tổ chức này đóng những vai trò tích cực trong việc soạn thảo luật, hoạch định chánh sách của chính phủ, ảnh hưởng đến mọi tầng lớp của xã hội. Hoạt động của những tổ chức này bao gồm các vấn đề như nhân quyền, lao động, môi trường, phát triển, sức khỏe, kế hoạch gia đình, từ thiện, bảo vệ súc vật, bảo vệ các nhóm thiểu số, v.v. Một số tổ chức không cung cấp dịch vụ, mà chỉ nhắm vận động hành lang để bênh vực quyền lợi của nhóm người mà tổ chức đại diện. NGO đóng một vai trò vô cùng quan trọng giúp cho Hoa Kỳ hùng mạnh.
Tôi có một người bạn già tri kỷ ở cùng tiểu bang Virginia. Anh ta có một người con học rất khá ở bậc trung học, nên University of Virginia (UVA) cho học bổng toàn phần 4 năm. Theo xếp hạng của U.S. News & World Report, UVA đứng thứ 23 trên toàn nước Mỹ nhưng đứng đầu về chương trình kỹ sư bậc cử nhân, hạng nhì so với các trường đại học công, và hạng 6 về ngành kinh doanh. Nhưng đứa con của anh bạn tôi từ chối học bổng này và chọn University of Pennsylvania, một trong tám trường Ivy League nổi tiếng, xếp hạng thứ 8 trong tổng số các trường đại học ở Mỹ. Khi học xong bậc cử nhân, đứa con của bạn tôi được cả năm trường đại học giỏi nhất nước Mỹ nhận vào học.
Ở Hoa Kỳ, sinh viên giỏi có nhiều cơ hội lựa chọn trường tốt. Các trường dành sinh viên giỏi. Các công ty và các cơ quan chính phủ đôi khi đến tận các trường nổi tiếng để tuyển sinh viên giỏi tốt nghiệp. Hệ thống ganh đua và lựa chọn như vậy đã giúp đưa nhiều người tài năng vào những chức vụ lãnh đạo trong mọi lãnh vực. Chính vì vậy mà nước Mỹ tiến mạnh, không một quốc gia trên thế giới hiện nay có thể bắt kịp.
Theo bảng xếp hạng hàng năm của Viện Quốc Phát Triển Quản Trị (International Institute of Management Development, viết tắt là IMD) tại Lausanne, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ đứng đầu trong danh sách những nước có khả năng cạnh tranh cao nhất thế giới, tiếp theo là Thụy Sĩ, Hồng Kông, Thụy Điển, và Singapore. Đức đứng hạng 9. Trung Quốc và Nga lần lượt đứng hạng 21 và 42 trong số 60 quốc gia IMD nghiên cứu.
Một trong những lý do khiến Hoa Kỳ có khả năng cạnh tranh cao là do năng suất lao động của Hoa Kỳ cao. Năng suất lao động được đo lường bằng tỉ lệ tổng sản lượng nội địa trên tổng số giờ làm việc. Theo thống kê 2012 của Tổ Chức Hợp Tác Kinh Tế và Phát Triển (Organization for Economic Cooperation & Development, viết tắt là OECD), Hoa Kỳ xếp hạng thứ tư sau Na Uy, Luxembourg, và Ireland. Nga đứng hạng 36, trên Mexico trong số 37 nước thành viên trong tổ chức OECD. [3]
Một trong những khổ tâm trong thời gian học tại Việt Nam là lối học từ chương. Khi chuẩn bị thi tú tài, học trò phải thuộc lòng cùng một lúc nhiều môn học khác nhau đã học suốt năm. Vì học theo sách vở và rất ít thực hành nên nhiều khi thuộc như con vẹt mà không hiểu và do đó thi xong là quên. Lối giáo dục này tiếng Mỹ gọi là “drill-and-kill teaching” hiện vẫn còn áp dụng ở Trung Quốc và Việt Nam cộng thêm giáo điều xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh. Một trong những điều may mắn khi được học ở nước Mỹ là chương trình theo lối tín chỉ. Thi xong môn nào vừa học trong ba hay sáu tháng là có điểm môn đó. Thường thường học mới có nửa khóa là đã phải thi giữa khóa. Các bài thi đòi hỏi sinh viên phải suy nghĩ chứ không phải thuộc lòng.
Sinh viên sợ nhất là thi mở sách (open book exam hay take-home exam) vì phải dùng sự xét đoán rất nhiều, thường áp dụng cho sinh viên cao học. Lối học thuộc lòng làm thui chột óc sáng tạo. Khi thỉnh giảng tại School of Advanced International Studies của Johns Hopkins University, tôi thường cho sinh viên chọn một cuốn sách trong danh sách sách cần đọc và thường chỉ đòi sinh viên trả lời bốn câu hỏi: (1) Tác giả muốn nói gì?; (2) Những điểm đồng ý và tại sao; (3) Những điểm không đồng ý và tại sao? và (4) Kết luận.
Sáng tạo và khả năng cạnh tranh liên quan trực tiếp với nhau. Theo GS Richard Florida, University of Toronto, không ai rõ sự phồn thịnh, một phép lạ ở Hoa Kỳ trong hơn một thế kỷ vừa qua, thực sự do những nguyên nhân nào. Tuy nhiên theo ông, sự thành công của Hoa Kỳ là do một nhân tố then chốt là việc đón nhận những ý kiến mới. Ý kiến không từ trên trời rơi xuống mà đến từ con người. Tất cả những tiện nghi và những phát minh làm gia tăng năng suất như iPod và GPS đều do con người tạo ra. Khối nhân lực sáng tạo 38 triệu người của Hoa Kỳ bao gồm những khoa học gia, kỹ sư, kiến trúc sư, nhà giáo dục, nghệ sĩ, nhạc sĩ, và những người giúp vui. Nhiệm vụ của họ là tạo ra những sáng kiến, kỹ thuật mới, hoặc là nội dung mới.[4] Để khuyến khích sức sáng tạo, luật pháp Hoa Kỳ tuyệt đối bảo vệ các phát minh và bản quyền, kể cả một tấm hình vừa được máy ảnh thu vào hay một bản nhạc vừa được sáng tác.
Nhờ vào chính sách di dân rộng rãi, Hoa Kỳ đã thu nhận nhiều nhân tài từ những nước khác, đặc biệt từ Âu Châu khi nhiều người trốn tránh chế độ Phát xít và Cộng sản trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai và Chiến tranh lạnh. Nhà Vật lý và Triết gia Albert Einstein, từng mang nhiều quốc tịch khác nhau: Wurttenberg, Thụy Sĩ, Áo, và Đức. Trong một chuyến viếng thăm nước Mỹ vào năm 1933, là một người theo đạo Do Thái, ông quyết định không trở lại Đức khi Adolf Hitler lên làm tổng thống để trốn tránh chế độ Nazi. Albert Einstein trở thành công dân Mỹ vào năm 1940.
Kỹ sư Không gian gốc Đức Wernher von Braun định cư tại Hoa Kỳ sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt ở Âu châu. Khoa học gia Điện toán gốc Nga Sergey Mikhaylovich Brin di dân đến Mỹ vào năm 1979 khi mới 6 tuổi. Gần 20 năm sau, ông cùng với bạn học cũ Larry Page ở Stanford University thành lập công ty Google. Kỹ sư Điện gốc Ấn Độ Sabeer Bhatia du học ở Mỹ từ năm 1988, đồng sáng lập Hotmail cùng với đồng nghiệp Jack Smith vào năm 1996 với 369 triệu người sử dụng, xếp hạng hai sau Google. [5]
Kinh tế Hoa Kỳ phát triển qua ba thời đại. Trước nhất là thời đại nông nghiệp. Kế tiếp là thời đại kỹ nghệ hóa. Trong ba hay bốn thập niên vừa qua, Hoa Kỳ đã bước vào thời đại sáng tạo. Trong 10 năm gần đây có những dấu hiệu chứng tỏ sức sáng tạo của Hoa Kỳ gặp nguy cơ đi xuống. Thật vậy, theo sự nghiên cứu của GS Richard Florida, tỉ lệ của khối nhân lực sáng tạo trên tổng số nhân công của Hoa Kỳ đứng hạng thứ 11 sau mười nước như Ireland, Bỉ, Úc, Hà Lan, New Zealand, Estonia, Anh, Canada, Phần Lan, và Iceland. Theo tạp chí Business Week, trong số 25 công ty công nghiệp cao, chỉ có sáu công ty đặt cơ sở tại Hoa Kỳ trong khi đó 14 công ty đặt tại Á Châu.
Về công ăn việc làm người ta thường nói đến nạn thất nghiệp và công việc chuyển ra nước ngoài. Nhưng theo GS Florida vấn đề quan trọng hơn là tình trạng thiếu tài năng sáng tạo. Kinh tế gia Lawrence Summers, cựu Viện trưởng Harvard University và kinh tế gia Edward Montgomery, cựu Thứ trưởng Lao động, cho rằng vấn đề thiếu tài năng sáng tạo khó tránh khỏi. Hoa Kỳ cần phải cạnh tranh với những nước phát triển khác để thu hút và trọng dụng nhân tài bằng chương trình di dân và chiếu khán rộng rãi. Trong khoảng 24 năm gần đây, kể từ 1990 đến 2013, Hoa Kỳ đã nhận 24.2 triệu di dân hợp pháp, trung bình mỗi năm là khoảng 1 triệu người.[6]
Gần đây nhân dân Mỹ phàn nàn rất nhiều về tình trạng đảng phái cấu xé nhau tàn tệ tại Quốc hội. Một trong những hậu quả đã xẩy ra là việc chánh phủ đã buộc phải đóng cửa 16 ngày trong năm 2013. Một cường quốc lãnh đạo mà đã để xẩy ra tình trạng như vậy không thể không mất uy tín và lòng tin cậy của thế giới. Một việc kéo dài từ vài năm nay chưa giải quyết được là chương trình y tế “Patient Protection and Affordable Care Act” (PPACA) gọi tắt là Obamacare do sự xung khắc về quyền lợi mà hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đại diện. Tuy nhiên đây là chuyện nội bộ của nước Mỹ.
Tồi tệ hơn là chương trình ngoại thương Hợp tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership, viết tắt là TPP) liên quan đến 11 nước khác đã kéo dài nhiều năm. TPP đã không kết thúc được vào năm vừa qua như mong muốn. 2015 có thể là năm dứt điểm vì tình trạng căng thẳng ở Biển Đông và sự cạnh tranh của Trung Quốc và Nga qua việc thành lập Ngân hàng Đầu tư Hạ tầng Cơ sở Á Châu (Asian Infrastructure Investment Bank viết tắt là AIIB) và Liên hiệp Kinh tế Âu Á (Eurasian Economic Union, viết tắt là EAEU). Tuy nhiên Hoa Kỳ đang vấp phải khó khăn nội bộ. Vấn đề lao động gây chia rẽ ngay trong Đảng Dân Chủ, giữa phe hành pháp và lập pháp và đàng sau là những công đoàn lao động của Hoa Kỳ.
Tôi tin trên đây là những khó khăn ngắn hạn và tạm thời. Thật vậy, truyền thông thương mại và truyền thông xã hội dân sự đã lên án gắt gao tình trạng ngưng trệ tại Washington. Một xã hội cởi mở với tự do báo chí và tự do bầy tỏ như xã hội Hoa Kỳ sẽ giúp cho Hoa Kỳ tự sửa đổi như đối với nạn kỳ thị chủng tộc và nam nữ bất bình đẳng. Cạnh tranh và hợp tác là truyền thống tạo nên sức mạnh tại quốc gia này.
Ngay sau khi chính thức thất cử trong cuộc tranh cử tổng thống vào năm 2008, TNS John McCain tuyên bố TNS Barack Obama là tổng thống của tôi và kêu gọi mọi công dân Hoa Kỳ chúc mừng TNS Obama và ủng hộ vị tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ. Ông cũng nói rằng lần đầu tiên trong lịch sử một công dân Hoa Kỳ gốc Phi châu được bầu làm tổng thống. Đây là một niềm hãnh diện lớn lao và là một bằng chứng rõ ràng rằng Hoa Kỳ đã tiến một bước rất xa về vấn đề kỳ thị chủng tộc. TNS McCain nói tiếp rằng TNS Obama và ông đã tranh luận về những khác biệt, nhưng TNS Obama đã thắng. Chắc chắn rằng những khác biệt đó vẫn còn, nhưng ông hứa rằng ông sẽ giúp TNS Obama trong quyền hạn của mình để đối phó với những thử thách trước mặt.[7]
Một thế kỷ rưỡi trước đây, Hoa Kỳ đã để lại một gương sáng cho nhân loại về tinh thần mã thượng của dân tộc Hoa Kỳ.[8] Cuộc nội chiến kéo dài bốn năm, ba tuần và sáu ngày chấm dứt vào 9-4-1865 (theo Tuyên ngôn là 9-5-1865). Tướng Robert E. Lee của quân miền Nam nhận đầu hàng với đại diện quân miền Bắc là Tướng Ulysses S. Grant tại Appomattox Court House, Virginia, qua một nghi thức giản dị nhưng trang nghiêm. Quân lính miền Nam được tự do trở về nguyên quán và không ai bị trừng phạt hay bị tù đầy. Binh sĩ tử trận được chôn chung trong cùng một nghĩa trang, ngoại trừ thân nhân muốn mang thi hài chôn cất ở nơi khác. Theo lệnh của Tướng Grant, quân miền Bắc không được ăn mừng chiến thắng. Sau này Tướng Lee trở thành viện trưởng của một đại học nay gọi là Washington and Lee University tại Lexington, Virginia. Ông chống lại toan tính tổ chức nổi loạn tiếp tục chống lại chánh phủ liên bang, ủng hộ việc giúp cựu quân nhân miền Nam hội nhập vào xã hội Hoa Kỳ, và kiến thiết lại đất nước.
Gần đây hơn, sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, Hoa Kỳ đã không hề chủ trương chém giết những kẻ thua trận mà trái lại còn giúp các nước đồng minh và cả các nước cựu thù xây dựng lại những đổ vỡ. Hoa Kỳ chi khoảng $13 tỉ (tương đương với $120 tì theo thời giá bây giờ) qua Chương trình Phục hồi Âu Châu (European Recovery Program, viết tắt là ERP) hay còn gọi là Kế hoạch Marshall, theo tên của Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ George Marshall. Tướng Douglas MacArthur, Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương, chỉ huy lực lượng chiếm đóng Nhật Bản từ 1945-1951, đã giúp nước này soạn thảo hiến pháp mới, loại bỏ quyền tư lệnh tối cao của Hoàng đế Nhật Bản, cải tổ nước Nhật thành một nước dân chủ, thực hiện chương trình cải cách ruộng đất. Ngày nay, dân Nhật coi MacArthur là một trong những người có công lớn trong việc tái thiết nước Nhật. [9]
Sau hết nhưng không kém phần quan trọng là lòng yêu chuộng tự do của nhân dân Hoa Kỳ. Tự do giúp con người phát triển năng khiếu và sáng kiến. Tự do giúp sự thông tin được nhanh chóng, đa chiều và trung thực hơn, giúp mọi người bầy tỏ lập trường dễ dàng và như vậy dễ tìm được chân lý. Tự do, trái ngược với sự bưng bít, giúp xã hội cởi mở, hạn chế được những sai trái và tội phạm.
Tự do tất nhiên đưa đến dân chủ. Phần lớn các nước dân chủ đều là những nước giầu có. Kinh tế gia đoạt giải Nobel người Ấn Độ Amartya Sen nghiên cứu về nạn nghèo đói và dân chủ đã đưa ra một lời tuyên bố nổi tiếng: “Không bao giờ có một nạn đói nào đáng kể xẩy ra ở một nước độc lập, dân chủ và có tự do báo chí.” [10] Nạn đói chỉ xẩy ra ở những độc tài hay bị chiếm đóng.
Tương tự như vậy, tham nhũng thường lan rộng ở những nước thiếu dân chủ. Hậu quả của tham nhũng là không đạt được sự chọn lựa tốt nhất gia, tăng phí tổn, làm hại đến sự sáng tạo, và nuôi dưỡng tội phạm. Những bằng chứng cụ thể từ những cuộc nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy rằng tham nhũng làm giảm đầu tư (nội địa cũng như nước ngoài), giảm phát triển, giới hạn giao thương, làm sai lệch chi phí quốc gia, làm suy yếu hệ thống tài chánh, và củng cố nền kinh tế đen (underground economy). Quan trọng hơn cả là tham nhũng làm tăng sự nghèo nàn và chênh lệch lợi tức. [11] Tham nhũng và tình trạng phe đảng, con ông cháu cha (cronyism) tại Trung Quốc và Nga sẽ tiếp tục nhận chìm những nhân tài và khả năng cạnh tranh của hai nước này. [12]
Trong bảng xếp hạng về mức độ tham nhũng tại 177 quốc gia trên thế giới vào năm 2014 do Transparency International thiết lập, đứng đầu danh sách (trong sạch nhất) là Đan Mạch, kế đến là New Zealand, Phần Lan, Thụy Điển và Na Uy. Hoa Kỳ đứng hạng thứ 17. Trung Quốc:100. Việt Nam: 119. Nga: 136. [13] Hoa Kỳ có thể cố gắng hơn để cải tiến hơn nữa về lãnh vực này.
Môi trường tự do dân chủ và một nền văn hóa siêu việt đã giúp cho nền kinh tế Hoa Kỳ phát triển như hiện nay với lợi tức đầu người tính theo mãi lực quân bình vào năm 2013 là $53,042, xếp hạng sau bẩy nước mà phần đông là những nước sản xuất dầu: Qatar, Kuwait, Singapore, Brunei, Na Uy, Thụy Sĩ, và Saudi Arabia. Hoa Kỳ bỏ xa Nga ($25,248) và Trung Quốc ($11,906). [14]
GS Jonathan Adelman thuộc University of Denver viết: “Một câu châm ngôn chính trị xưa nói rằng ‘Anh không thể đánh bại một ai nếu người đó không có đối thủ.’ Ngay bây giờ không có một nước nào hiện ra ở chân trời sẽ bắt kịp hoặc là thử thách Hoa Kỳ một cách nghiêm chỉnh trong thời hạn một hay hai thập niên sắp tới.”15]
Sau khi viết bài nhận định này gần xong, dựa trên những dữ kiện vừa phân tách, tôi có khuynh hướng đồng ý với nhận định của GS Adelman. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục là một đại cường quốc về kinh tế cũng như về quân sự không bị thử thách trong một tương lai có thể thấy được. Nga và Trung Quốc còn khá lâu mới có thể là đối thủ cân xứng với Hoa Kỳ. Thay đổi một thể chế chính trị cần vài năm. Cải tổ một nền văn hóa cần vài thế hệ cho đến vài thế kỷ để trở thành một nước vĩ đại.
Chú thích:
[1] Jonathan Adelman, “Why the U.S. Remains the World’s Unchallenged Superpower,” Forbes, November 24, 2013.
[2] Wikipedia, “Non-government Organization,” May 28, 2015.
[3] Theo thống kê của tổ chức OECD, Labor – Productivity Levels in the total economy, May 27, 2015.
[4] Richard Florida, “America’s Looming Creativity Crisis,” Harvard Business Review, October 2004.
[5] Như trên.
[6] Wikipedia, “Immigration to the U.S.”, May 28, 2015.
[7] John McCain, “McCain’s Concession Speech,” The New York Time, November 4, 2015.
[8] Vũ Ngọc Tấn, “Tinh Thần Mã Thượng Trong Nội Chiến Mỹ,” Việt Luận, 12-2011.
[9] Wikipedia, “Marshall Plan”, May 28, 2015.
[10] Amartya Sen and Amartya K. Sen, “Poverty and Famines – an Essay on Entitlement and Deprivation”, Oxford University Press, London, 1983.
[11] The World Bank, “The Economic and Social Consequences of Corruption in Transition Countries.”
[12] Susan Adams, “The World’s Most Competitive Countries,” Forbes, May 30, 2013.
[13] Transparency International, “Corruption Perceptions Index 2014,” 2014.
[14] Theo số thống kê của World Bank.
[15] Như chú thích (1).
Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
Ông Nguyễn Quốc Khải nguyên là tham vấn và chuyên viên nghiên cứu kinh tế tại Ngân Hàng Thế Giới. Ông cũng từng làm tham vấn cho Đài Á Châu Tự Do và là giáo sư thỉnh giảng (professorial lecturer) tại Johns Hopkins University.

Nhậu và Nói Phét Vẫn “Hạnh Phúc” Hơn Đọc Sách?

Nỗi buồn “người Việt ít đọc sách”
Tác Giả: Song Chi – RFA – 31 May 2015
Người Na Uy thích đọc crime
Thường xuyên dạo qua các cửa hàng sách ở Oslo hoặc ghé Thư viện lớn Deichmanske ở khu trung tâm thành phố để mượn sách, đĩa DVD phim, âm nhạc, tôi nhận thấy sách thuộc thể loại crime fiction-tiểu thuyết trinh thám, điều tra vụ án các loại, chiếm khá nhiều trên các kệ. Từ những tác giả thuộc hàng best seller của thế giới: James Patterson, Harlen Coben, Lee Child, John Grisham, Mo Hayder, John LeCarre…cho tới các tác giả Bắc Âu: Jo Nesbø, Liza Marklund, Camilla Läckberg, Hakan Nesser…Đi trên xe bus, metro, xe điện…nếu thấy một người Na Uy nào đó đang đọc sách thì chín trong mười trường hợp là một cuốn thể loại crime.
Không chỉ được dịch, đọc nhiều mà về mặt sáng tác, các quốc gia Scandinavia Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy cũng khá mạnh về hai thể loại crime và sách cho thiếu nhi. VN cũng đã có dịch một số tác giả của họ như nhà văn Thụy Điển Henning Mankell với loạt truyện về thanh tra Kurt Wallander (“Chậm một bước”, “Tường lửa”, “Bầy chó Riga”), nhà văn Thụy Điển Stig Larsson với bộ ba tiểu thuyết Millenium (Thiên niên kỷ) “Cô gái có hình xăm rồng,” “Cô gái đùa với lửa”, “Cô gái chọc tổ ong bầu” (trong đó “Cô gái có hình xăm rồng” đã được quay thành phim nhưng bản của Mỹ với 2 diễn viên chính Daniel Craig, Rooney Mara có vẻ nhiều người biết hơn bản phim ra đời trước của Thụy Điển), hay loạt sách thiếu nhi của nhà văn nữ Thụy Điển Astrid Lindgren với “Pippi tất dài” “Mio con trai ta”, “Karlsson trên mái nhà”…
Nếu ai đó chỉ đọc những cuốn crime mà chưa từng ghé thăm hoặc sinh sống ở các quốc gia Bắc Âu thì cứ ngỡ như mấy xứ này toàn tội phạm giết người máu lạnh các kiểu hay những vụ án động trời. Trong khi ngược lại đời sống ở các quốc gia Bắc Âu phải nói là quá bình yên. Những năm gần đây khi những vụ tấn công khủng bố từ các nhóm Hồi giáo cực đoan trên thế giới xảy ra ngày càng nhiều trong lúc tình trạng người nhập cư từ các quốc gia Hồi giáo Trung Đông, Bắc Phi gia tăng khá nhanh tại các nước Bắc Âu, chính phủ và người dân cũng có phần lo ngại; và thực tế cũng đã có vài vụ xảy ra (mới đây nhất là 2 vụ xả súng có tính chất khủng bố ở Copenhagen, Đan Mạch ngày 15.2 làm ít nhất 7 người thương vong). Nhưng nhìn chung xã hội của các quốc gia Bắc Âu vẫn khá là êm đềm.
Chợt nghĩ, phải chăng chính vì đời sống quá bình yên nên người ta lại thích đọc crime để tìm cảm giác mạnh, kích thích đầu óc? Chứ còn ở VN thể loại crime đâu có phát triển quá mạnh như vậy. Là bởi vì hàng ngày chỉ cần giở tờ báo ra, bật TV lên, hoặc đi ra đường…cũng có thể đọc, xem, hoặc chứng kiến bao nhiêu vụ cướp, giết, hiếp, với mức độ tàn nhẫn, dã man, kể cả các cách thức tẩy xóa dấu vết, phi tang xác chết…nào có thua kém gì trong sách, trong phim? Ngày nào cũng nghe, cũng thấy, ngán đến tận cổ, cần gì phải tìm đọc ở đâu nữa?
Người Việt ít đọc sách nói chung
Ở VN bây giờ, riêng giới trẻ, học sinh cấp 2 cấp ba, sinh viên, thì đã rõ loại sách được phần đông các em đọc nhiều mấy năm gần đây là tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc hay văn học mạng với những cuốn tiểu thuyết tình cảm dễ đọc, đầu tiên xuất hiện trên mạng sau đó được in thành sách. Khác hơn, các bạn trẻ có thể lựa chọn những cuốn sách được biết đến nhiều hoặc đã được chuyển thể thành phim như “Trò chơi sinh tử” (“The hunger’s game”), “Harry Potter”, (“The “Chúa tể những chiếc nhẫn” Lord of the Rings”).. hay loạt sách “Hạt giống tâm hồn”.
Còn các lứa tuổi khác, các thành phần khác trong xã hội thì thú thật không rõ mọi người đọc sách gì nhiều. Hình như chưa có ai làm một cuộc khảo sát về vấn đề này và nếu có, người viết bài này cũng không được biết. Nhưng có một thực tế đáng buồn là người VN ít đọc sách, kết luận này được rút ra từ… năm 2013, do Bộ Văn hóa-Thông tin và Du lịch công bố nhân Ngày hội Sách và Văn hóa đọc tháng 4.2013.
“Theo thống kê hàng năm dựa trên báo cáo của các thư viện gửi về Bộ, người Việt đọc trung bình 0,8 cuốn sách/người/năm (tức là chưa được 1 cuốn sách). Tỉ lệ sách bình quân đầu người tại các thư viện công cộng là 0,38 cuốn” (“Giật mình! người Việt không đọc nổi 1 cuốn sách/năm” VietnamNet).
Và nếu gõ google cụm từ “người Việt ít đọc sách” sẽ cho ra hàng loạt bài viết về vấn đề này và về số liệu này. Chẳng hạn, bài viết trên báo VietnamNet “Cả năm không đọc nổi cuốn sách, tri thức ở đâu?” cho biết: “Không thiếu những cuốn sách quý chở tư tưởng hiện đại và tư duy mới về Việt Nam, được dịch thuật một cách kì công. Nhưng câu chuyện về vỏn vẹn 500 bản in cho mỗi đầu sách quý này, tính trên số lượng 88 triệu dân – tức là chỉ có xấp xỉ 0,00057% dân số tiếp cận – quả là một con số giật mình.”
Và người viết bài này tin rằng cho đến hôm nay, tình trạng trên cũng chưa có gì cải thiện, nên nếu có nói đến vấn đề này cũng không có gì là cũ cả. Ví dụ, một bài báo mới đây trên báo Người Lao Động, tháng 4.2015 có tựa đề: “Ham uống rượu, lười đọc sách”: “Mỗi năm, một người Việt Nam đọc chưa đến 1 cuốn sách nhưng cả nước chi đến 3 tỉ USD tiền mua bia. Ham uống rượu, bia, lười đọc sách là “đặc sản” của nhiều người dân ta.”
Lý do của việc lười đọc sách ở nhiều người VN, báo chí cũng đã ít nhiều đề cập đến. Nhìn chung ở VN chưa xây dựng được một nền văn hóa đọc đúng nghĩa. Thói quen đọc sách của con người thường phải được hình thành từ khi còn nhỏ, từ nhả trường, thông qua các thầy cô giáo trực tiếp dạy dỗ các em, và gia đình, thông qua các bậc phụ huynh.
Nếu ngay từ khi ở nhà trẻ, mẫu giáo cho đến tiểu học, trung học, các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh đọc sách cho trẻ nghe hàng ngày, khuyến khích trẻ đọc sách, lớn hơn một chút thì cùng đọc với con, hay ít nhất tìm mua sách hay về cho con đọc…thì sẽ tạo thành thói quen ham đọc sách trong các em và ngược lại.
Thực tế, học sinh VN phải chịu một chương trình học quá nặng nề trong suốt những năm tiểu học rồi trung học. Ở các thành phố lớn, hầu hết các em ngoài việc học ở trường còn phải dành thì giờ đi học thêm, về đến nhà buổi tối phải làm bài tập ở trường và nơi học thêm, ngày thứ bảy, chủ nhật rồi mùa hè cũng phải đi học, còn thì giờ đâu mà đọc sách ngoài sách giáo khoa? Ở nông thôn hay vùng sâu vùng xa, các em ngoài lúc đến trường còn phải phụ gia đình làm ruộng làm vườn, hoặc làm thêm đủ thứ công việc khác để mưu sinh, nên cũng chẳng có thì giờ đọc sách.
Đa số các bậc phụ huynh bây giờ đều quá bận bịu với việc kiếm tiền nên chính họ còn không có thì giờ đọc sách và cũng không cảm thấy nhu cầu đọc sách (chỉ trừ một thiểu số làm những công việc có liên quan đến chữ nghĩa, văn hóa, văn chương…hoặc có niềm đam mê đọc sách) thì làm sao khuyến khích được con? Có thể kể ra rất nhiều ví dụ về việc nhiều gia đình sẵn sàng bỏ tiền mua cho con những thứ vô cùng đắt tiền từ iPhone, trò chơi điện tử… cho tới xe gắn máy, khi đi chơi thì dẫn con vào những khu vui chơi giải trí, khu chơi game…nhưng ít khi dẫn con vào hiệu sách, thư viện hoặc mua cho con quà tặng là những cuốn sách hay. Có những gia đình khác thì lại sợ con đọc sách mất thì giờ, nên “lệnh” cho con là phải ưu tiên việc học và học trước cái đã.
Tôi có một ví dụ cụ thể về chuyện này.
Khi rời nước ra đi, một trong những nuối tiếc lớn nhất của tôi là bỏ lại tủ sách hàng ngàn cuốn, trong đó ngoài sách triết học, sách về điện ảnh và công việc làm phim, phần lớn còn lại là tác phẩm văn học của những tác giả lớn trong và ngoài nước. Lúc ấy một phần không có thì giờ và cũng không muốn, nên tôi không bán mà để lại toàn bộ cho người chị họ là họ hàng gần nhất ở Sài gòn và bảo cái gì không thích thì cứ bán, còn thì để cho các cháu cũng đang lứa tuổi học sinh đọc.
Nhưng người chị họ, vốn chẳng quan tâm mấy đến sách, thấy nhiều sách quá sợ chật nhà bèn kêu ve chai vô cân ký bán đến hai phần ba, còn lại cất vào những thùng carton dự tính cho hai đứa trẻ đọc, nhưng không cho đọc ngay vì còn phải đi học, và hứa là mùa hè sẽ cho phép đọc sách. Cất mãi cất mãi đến khi nhớ giở ra thì mấy thùng sách bị mọt mối ăn ruỗng gần hết.
Nghe xong tôi không còn biết nói sao. Đúng là số phận những cuốn sách rơi vào tay người không biết đọc sách là như vậy đấy. Nhưng cái tâm lý không cho con đọc sách vì sợ mất thì giờ, ưu tiên học trước đã, có lẽ không phải hiếm ở VN bây giờ. Mặc dù tôi đã nói với người chị họ cho con đọc sách, nhất là những quyển sách hay đã được chọn lọc còn có lợi hơn gấp bao nhiêu lần so với một phần không nhỏ kiến thức chết, vô bổ mà nhà trường xã hội chủ nghĩa VN đang nhồi nhét vào đầu các em hàng ngày.
Nhiều người cứ đổ thừa tại xã hội bây giờ thay đổi, nhịp sống nhanh vội, cộng thêm có nhiều phương tiện giải trí hấp dẫn như trò chơi điện tử, truyền hình, phim ảnh, internet…nên người ta lười đọc sách. Nói như thế là chưa đúng. Các nước phát triển ở châu Âu, Mỹ, Úc, hay Nhật Bản, sách vẫn có một vị trí không thể thay thế và con người vẫn đọc sách bên cạnh những thú vui giải trí khác.
Nếu bạn đi du lịch qua một số quốc gia phương Tây, luôn luôn có thể bắt gặp hình ảnh người dân tại các quốc gia này cắm cúi với một quyển sách trong lúc đang chờ xe bus hoặc đang ngồi trên xe bus, metro, xe điện, trong quán café, thậm chí những lúc ngồi chờ đến lượt vào phòng khám bác sĩ, chờ con học xong…nghĩa là mọi lúc. Những hình ảnh này rất hiếm thấy ở VN, cùng lắm là người Việt ngồi đọc báo.
Mặt khác, nhiều người Việt chúng ta bây giờ có những suy nghĩ rất lạ lùng. Như coi thường sách. Có người, tự nhận mình cũng thuộc loại trí thức, còn ra mặt khinh thường sách, coi kiến thức sách vở không quan trọng bằng kiến thức học được từ trong cuộc sống.
Có những người khác thì lại coi thường sách văn học và thể loại fiction nói chung, chỉ đọc chính trị hoặc sách cần thiết cho chuyên môn nghề nghiệp của mình. Trong số người Việt tham gia facebook và có quan tâm đến tình hình chính trị xã hội, có thể thấy kiến thức, sự hiểu biết, nhận thức về tình hình chính trị xã hội trong ngoài nước của nhiều người rất sâu sắc. Nhưng khi nói về văn hóa nghệ thuật, văn học thì lại bộc lộ những lổ hổng rất lớn. Chính từ sự coi thường nói trên.
Tất cả những suy nghĩ như thế đều là sai lầm. Kiến thức thực tế từ cuộc sống và kiến thức sách vở đều quan trọng, bổ sung cho nhau, không nên lệch lạc bên nào.
Và cho dù bạn làm nghề gì, doanh nhân, kỹ sư bác sĩ hay đang “âm mưu” làm nhà chính trị trong tương lai, đọc văn học, đọc các loại sách bổ sung kiến thức về văn hóa nghệ thuật không hề có hại gì mà chỉ có lợi. Những tác phẩm văn học giá trị của những tác giả lớn trên thế giới thường chứa đựng tính tư tưởng nhân văn cao, kiến thức xã hội mênh mông, cái nhìn sắc sảo, sâu sắc, giúp chúng ta hiểu thêm về con người, nhất là thế giới nội tâm phong phú của con người.
Đọc sách, nhất là những loại sách nghiên cứu, khoa học, triết học hay những tác phẩm văn học có giá trị, đều buộc con người phải động não suy nghĩ để hiểu, so với việc tiếp thu nghe-nhìn thụ động như khi xem TV, truyền hình. Một xã hội ít đọc sách là một xã hội dân trí thấp. Tất cả những hành vi kém văn minh, đáng buồn vẫn nhan nhản xảy ra hàng ngày, từ chen lấn xô đẩy khi xếp hảng, hôi của khi một ai đó bị tai nạn, vặt hoa cướp hoa trong hội hoa xuân, trèo rào vào tắm hồ bơi miễn phí sau đó chọc ghẹo, sàm sỡ, quấy rối tình dục các cô gái đang bơi xung quanh…cho tới những tội ác cướp giết hiếp xảy ra như cơm bữa…Có nguyên nhân do đời sống khó khăn, do con người không còn lòng tin vào luật pháp, vào chính phủ hay sự công bẳng của xã hội…Và có nguyên nhân do dân trí còn thấp.
Nếu con người phải sống trong một xã hội độc tài, bưng bít thông tin với một nền giáo dục lạc hậu, phản động, còn báo chí truyền thông phần lớn nếu không nặng tính tuyên truyền thì lại có xu hướng “lá cải”, thiếu tính nhân bản, chỉ khuyến khích con người chạy theo những giá trị vật chất như tiền bạc, xe hơi, nhà lầu, quần áo đồ dùng hàng hiệu, trưng ra hàng ngày những mẫu người được khao khát như đại gia, các cô hoa hậu á hậu chỉ cần có sắc đẹp, không cần phải lao động vất vả hay học nhiều cũng kiếm được khối tiền, sống trên nhung lụa… Trong một xã hội như vậy, con người càng rất nên đọc sách-và nếu có được ít nhất một ngoại ngữ thì quá tốt, để đọc được nhiều sách hay hơn gấp nhiều lần- để tự thoát khỏi cái đáy giếng, cái vũng lầy VN.
Con đường đi đến tự do dân chủ cho VN cũng đồng thời phải đi cùng với việc nâng cao dân trí mà kiến thức sách vở là một phần không thể thiếu.
Song Chi

Lào “sạch” hơn Việt Nam?

Ấn tượng nhà vệ sinh ở Lào
Theo: Nguyễn Văn Mỹ – Tuổi Trẻ – 28 May 2015
Tôi vừa cùng một đoàn cán bộ hưu trí tham gia hành trình xuyên Đông Dương cả tuần lễ và thấy thật ấn tượng với nhà vệ sinh ở Lào, chỗ nào cũng khá tươm tất.
Lần đầu xuyên Lào, trong đoàn nhiều người ngạc nhiên. Cứ tưởng nước họ nghèo hơn mình nên lạc hậu. Mà họ nghèo hơn mình thật. Không thấy các cao ốc, dinh thự, trụ sở hoành tráng. Đường hẹp nhưng ít xe nên tha hồ chạy. Các thị xã ở Lào xe hơi nhiều hơn xe gắn máy nhưng không nghe tiếng còi xe. Cuộc sống bình lặng, hiếu hòa, chậm rãi…
Tôi đến Lào nhiều lần nhưng ba năm nay mới trở lại. Có quá nhiều bất ngờ. Người Việt mở nhà hàng ăn uống rất thành công ở Vientiane như nhà hàng Đồng Xanh (chủ nhân người Đồng Tháp) và nhà hàng Hoàng Kim (chủ nhân người Hà Nội) có nhiều món ngon và lúc nào cũng tấp nập khách. Dao Coffee của doanh nhân Đào Hương (Việt kiều Lào) là đặc sản rất được du khách ưa chuộng.
Tuy nhiên ấn tượng nhất của chuyến đi với đoàn là nhà vệ sinh ở Lào, chỗ nào cũng khá tươm tất, có nơi chưa đẹp nhưng sạch sẽ. Du khách chẳng sợ nạn “khủng bố tinh thần” vì thiếu chỗ giải quyết đầu ra trầm kha như Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh phía Bắc.
Sau khi khám phá động Tam Chang, đoàn ghé ăn trưa tại nhà hàng Manichan ở Vang Veng. Nhà hàng thoáng đãng, trang trí bắt mắt, không có máy lạnh mà trời thì nóng.
Chủ nhân nhà hàng giải thích: “Nếu gắn máy lạnh phải xử lý mùi thức ăn rất cực. Hương vị các món ăn sẽ không còn nguyên chất nên khó mà thưởng thức món ngon trọn vẹn”.
Nhà vệ sinh bên ngoài xinh xắn, cạnh cây nhãn cổ thụ, có sẵn mấy ghế bành nhỏ để khách ngồi hóng mát và đọc báo sau khi đi vệ sinh. Vào nhà vệ sinh giữa trưa mà mát rượi, phảng phất mùi trầm như ở khách sạn 5 sao. Thì ra nhà vệ sinh gắn máy lạnh.
Mấy bồn tiểu nam đều có nến thơm lung linh khử mùi. Trên mỗi bồn cầu đều có lọ hoa mẫu đơn nhỏ lịch lãm. Mẫu đơn còn gọi là bông trang, loại hoa dễ trồng, có nhiều ở Lào và các nước Asean. Giật mình vì ý tưởng sáng tạo bất ngờ mà ít tốn kém của chủ nhân.
Mới hay chưa giàu vẫn có thể sạch. Cha ông mình từng dạy “Đói cho sạch, rách cho thơm”. Cái chính là nhận thức, là văn hóa. Tôi càng hiểu vì sao là đất nước nghèo nhưng mỗi khi ra khỏi nước người Lào đều ăn mặc tươm tất, sạch sẽ để “thiên hạ khỏi cười chê”.
Ở nước ta, những chuyện nhỏ như nhà vệ sinh mà mấy chục năm chưa dứt điểm được thì nói chi chuyện lớn. Lại còn chuyện “tự sướng” với số liệu điều tra mức độ hài lòng của khách quốc tế vừa được Tổng cục Du lịch công bố: 94,09% tốt và cực tốt, chỉ 0,22% kém. Đẹp hơn cả mơ!
Cứ tô hồng kiểu đó thì vị trí “đứng đầu tốp cuối Asean” cũng đang bị lung lay chứ đừng nói tăng tốc. Xét theo hiệu quả, du lịch Việt Nam kém xa Lào và Campuchia. Dân số Lào 7 triệu người, đón 3,5 triệu khách quốc tế năm 2014. Campuchia dân số 15 triệu người, đón 4,5 triệu khách. Còn Việt Nam hơn 91 triệu dân chỉ đón được 7,9 triệu khách.
Du lịch Việt Nam muốn phát triển tốt xin hãy làm cuộc cách mạng, bắt đầu từ việc nhỏ mà nhà vệ sinh phải là một trong những ưu tiên số 1. Mong lắm thay!

Khi cái ác nắm quyền

Khi cái ác nắm quyền
Tác Giả: VietTuSaiGon – RFA – 1 June 2015
Cái ác muôn đời vẫn len lõi giữa tâm hồn và chờ lúc sự lương thiện chểnh mãn, nó sẽ ngoi dậy, đạp đỗ lương thiện để nắm lấy quyền bính, chi phối sự sống. Đó là cái ác mai phục trong mỗi tâm hồn, nói xa hơn một chút, trong xã hội, đặc biệt là chế độ chính trị chi phối xã hội đó, khi cái ác nổi lên, nắm lấy quyền bính, cũng là lúc xã hội rơi vào cơn hồn trầm, lương tri bị tùng xẻo, ý hướng làm người bị đạp đổ và bất kì những hành vi liên quan đến nhân phẩm, tình người đều trở nên xa lạ, lạc lỏng… Bài học trong hàng triệu bài học đau lòng về chuyện cái ác nắm quyền mới vừa xãy ra cách đây chưa đầy một tuần và tái hiện ở một câu chuyện khác đã diễn ra đúng 52 ngày.
Đó là chuyện hai em nữ sinh trung học phổ thông đã phải bỏ học, đi làm thuê và kết cục là uống thuốc tự tử chỉ vì người ta đã đánh tráo giữa công lý và cái ác. Cũng như câu chuyện cậu bé học sinh trung học bị nhốt 52 ngày ở nhà giam vì tòa án quyền buộc tội cậu ta cho bằng được trong khi cậu không hề có tội.
Ở câu chuyện thứ nhất, hai em nữ sinh vì nhà quá nghèo, đã bỏ học, rủ nhau lên thị xã làm thuê giúp gia đình, trên đường đi, hai em bị cảnh sát giao thông thổi, tạm giữ xe gắn máy (mà hai em mượn của hàng xóm để đi xin việc) và viết giấy phạt với mức 2,5 triệu đồng. Vì nhà quá nghèo, lại bị khủng hoảng bởi mức tiền phạt, hai cô gái đã cố gắng làm lụng kiếm tiền nộp phạt nhưng mọi chuyện bế tắc, họ rủ nhau ra rẫy uống thuốc tự tử. Trước khi uống, họ đã để lại lá thư với nội dung xin lỗi người thân vì đã bất hiếu.
Kết cục, một cô không qua khỏi, một cô đang trong tình trạng nguy kịch. Nhưng đáng sợ nhất là bà nội của cô đã chết nói với báo chí: “Uống thuốc vào, cha mẹ nó cũng phải tốn tiền chạy chữa, mất còn nhiều hơn khoản tiền nợ, hai đứa nó dại quá!”. Cái câu nói tưởng chừng như vô tâm và có chút gì đó độc địa khi so sánh khoản tiền nộp phạt với khoản tiền chạy chữa, cứu lấy sinh mạng đứa cháu của người bà, nếu ngẫm, sẽ thấy đau đớn khó mà nói cho trọn.
Cũng bởi cái nghèo, người bà đã rơi vào một khủng hoảng tâm lý khác, vừa đau đớn vì mất đứa cháu, vừa đau đớn vì đã tốn khoản tiền chạy chữa cho cháu, không thành công, mất cháu nhưng khoản tiền đóng phạt 2,5 triệu cho công an giao thông để lấy chiếc xe trả cho hàng xóm vẫn phải đóng. Mọi sự khủng hoảng, khốn cùng đã bật thành câu nói hết sức phũ phàng và đau đớn của người bà. Do đâu mà nên cớ sự như vậy? Do quá nghèo? Do sự lạc hậu? Do sự lãnh cảm cũng như tính vòi vĩnh của công an giao thông? Nếu như có tiền, hai em bé kia có cần mượn xe để đi? Và nếu có tiền, biết lót tay, hai cô gái có phải dẫn đến kết thúc bi thảm như vậy? Dường như do mọi yếu tố đã đặt trong câu hỏi tạo ra kết cục trên!
Nhưng do đâu mà có mọi tình huống đó? Câu hỏi này vô hình trung dẫn đến câu chuyện thứ hai, chuyện về cậu bé học sinh trung học phổ thông, trên đường đi học về đã bị một người lớn tuổi ngã xe vào xe của cậu tại ngã tư. Thấy người lớn nằm bất động, cậu đã gọi xe taxi đến đưa đi cấp cứu. Và kết cục của câu chuyện, cậu bị công an thi hành án đưa xe chở tù nhân đến tận trường, bắt bỏ vào xe, nhốt tù. Mãi đến 52 ngày sau, khi người ta trưng ra đủ các bằng chứng vô tội của cậu bé, chứng minh người bị ngã xe do tai biến, đột quị, sự đụng chạm vào cậu chỉ là chuyện ngẫu nhiên thì tòa án mới làm động tác “xin lại hồ sơ giám định y tế bởi nó đã thất lạc”!
Cách làm việc hết sức ầu ơ của tòa án trước mạng người đã chết và tương lai người còn sống cho thấy vấn đề nhân tính đã khủng hoảng trầm trọng. Và có một điều lạ là tại sao Sở Y tế gửi công văn giám định y tế đến tòa án, khi nhận, đương nhiên phải có người ký nhận và bàn giao cho người có quyền hạn để từ đó lấy làm cơ sở mà thẩm định, kết luận. Nhưng công văn bị mất và mọi chuyện vẫn cứ “y án”, cậu học sinh vẫn bị nhốt tù trong sự ấm ức?
Điều này không cần bàn thêm về vấn đề hồ sơ, công văn có liên quan đến vụ án, bởi tòa án Việt Nam thì miễn bàn về chuyện này và ai cũng thừa biết bản chất của nó. Cũng như không cần bàn thêm về những phi vụ mờ ám đằng sau phiên tòa, có thể là gia đình người bị chết đi đêm với quan tòa, cũng có thể vì thương con, gia đình cậu bé đã đi đêm với ngành công an để bằng mọi giá lấy chứng cứ hoặc là công bằng (nếu cậu bé không có tội) hoặc là đổi trắng thay đen. Nhưng nếu có chăng như vậy, nó cần được bạch hóa tại tòa. Đằng này một cơ quan thực thi công lý lại làm những chuyện hết sức phi lý là do đâu?
Câu hỏi này cũng nhắc người ta nghĩ đến hàng chục ngàn sinh viên đại học luật tốt nghiệp xong phải vác đơn đi xin xỏ, nịnh nọt các quan tòa để được nhận vào làm việc. Và đương nhiên những trí thức (mặc dù rất hỏng trong quá trình đào tạo đại học xã hội chủ nghĩa nhưng vẫn tốt hơn nhiều các quan tòa) này phải vào làm thuộc cấp của các quan tòa không biết gì về luật, không có năng lực, thậm chí học chuyên tu từ cấp hai cho đến đại học, đầu óc đặc sệt mưu toan tham nhũng, móc ngoặc, bòn rút, hối lộ nhưng lại không có tri thức tác nghiệp cũng như không có phẩm hạnh tương ứng cúa chức vụ đang nắm.
Và với một hệ thống như vậy, chắc chắn đó sẽ là nơi dung dưỡng của tội lỗi, sự áp phe, ép chế và tội ác. Bởi nó được sinh ra từ một hệ thống tội ác, giả đối và lấp liếm và cố chấp.
Nhưng cũng may, khi được hỏi nếu lần sau gặp lại một lần nữa trường hợp người ta ngã giữa đường, cậu có còn giúp đỡ. Cậu bé vẫn thản nhiên trả lời: Vẫn cứ giúp đỡ như thường! Câu nói của câu bé và hệ thống ứng xử của bộ máy cầm quyền như một bài toán mà ở đó, đáp án của nó là phải loại bỏ những thứ đã hết xài được để thay thế bằng cái mới giàu nhân cảm và vị tha hơn, không thối nát và không ích kỉ, nhỏ nhen như đang thấy. Chỉ có như thế mới hy vọng đất nước này tiến bộ, quật cường!