Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Loạt Bài Về Hướng Đi Cho Nông Nghiệp Việt

Nguồn : Vững Đại Phát
 Bài 2:
Vì sao ngành nông nghiệp Úc lại phát triển thành công đến thế?
Tổng Hợp của Nhật Hạ – Theo Đại Kỷ Nguyên – 4 May 2015
Nước Úc được nhìn nhận là một quốc gia phát triển và nằm trong số các quốc gia thịnh vượng nhất trên thế giới, với nền kinh tế lớn đứng thứ 12 trên toàn thế giới.
Vào năm 2012, thu nhập bình quân đầu người của Úc đứng thứ năm thế giới. Nước Úc được thành lập vào ngày 01/01/1901 với tên đầy đủ tiếng Anh là Commonwealth of Australia, có nghĩa là khối thịnh vượng chung Úc. Ngay từ khi thành lập, Úc duy trì một hệ thống chính trị dân chủ tự do ổn định, bao gồm sáu bang và một số lãnh thổ với tổng dân số vào khoảng 23,1 triệu người.
Với lịch sử non trẻ chỉ hơn 100 năm, với hơn 100 dân tộc đa văn hóa, nước Úc giờ đã trở thành một đất nước giàu mạnh, xây dựng được một nơi có đời sống tốt nhất thế giới, xuất khẩu hầu hết các mặt hàng quan trọng kể cả dịch vụ giáo dục. Với mục tiêu ban đầu là tự đảm bảo nguồn lương thực cho người dân Úc, Chính phủ đã thực sự đầu tư vào việc phát triển ngành nông nghiệp Úc cho dù diện tích đất có thể canh tác được của Úc chỉ chiếm 1% tổng diện tích lục địa Úc (tổng diện tích Úc là 768 triệu héc ta) do chỉ có vùng ven biển là có lượng mưa tương đối tốt. Hiện nước Úc có 18 triệu héc ta trồng trọt và 28 triệu héc ta đồng cỏ trong đó chỉ có 4 triệu héc ta là thực sự có lượng nước đầy đủ.
Lực lượng lao động chính thức trong lĩnh vực nông nghiệp của Úc là 400.000 người, chiếm 4% lực lượng lao động của toàn nước Úc (vào khoảng 10 triệu người) nhưng nước Úc có chỉ số tự cung cao nhất thế giới (nông nghiệp Mỹ có kim ngạch xuất khẩu nông sản đứng đầu thế giới nhưng chỉ số tự cung tự cấp lại thấp hơn Úc), cụ thể là tính trung bình một nông dân Úc có thể nuôi 190 người. Sản phẩm nông nghiệp chính của Úc là lúa mì, lúa mạch, mía, hoa quả, gia súc, cừu, gia cầm.
Nền nông nghiệp Úc cung cấp nông sản đầy đủ cho thị trường nội địa và xuất khẩu 80% tổng sản lượng, thu nhập của mỗi người nông dân Úc lên đến 100.000 USD/ năm, cao hơn so với GDP bình quân đầu người của Úc (60.000 USD/năm).
Úc là một quốc gia có đất rộng người thưa, ít mưa, tình trạng khô hạn xảy ra thường xuyên, Úc không có một ngành nghề nào gọi là truyền thống, kể cả nông nghiệp – vốn là ngành nghề cổ xưa nhất của loài người. Cho nên có thể nói tất cả các cây, con và công nghệ sản xuất hiện đang sử dụng trong nông nghiệp Úc hiện nay đều có nguồn gốc nhập khẩu. Chính vì vậy, để phát huy tối đa hiệu quả của việc nhập khẩu trong việc phát triển nông nghiệp, Chính phủ Úc đã cho xây dựng các Trung tâm nghiên cứu để nhập khẩu giống và công nghệ, kiểm chứng, ứng dụng đại trà và thực hiện tiếp thu công nghệ. Để hỗ trợ hoạt động của các trung tâm này, Chính phủ Úc đã thành lập Hội đồng Nghiên cứu Úc nhằm xây dựng chiến lược và cung cấp kinh phí cho các công trình nghiên cứu khoa học. Hội đồng này đưa ra danh sách những hạng mục ưu tiên có lợi cho quốc gia và đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải lập dự án theo sát danh sách ưu tiên này nếu muốn nhận được tiền tài trợ cho việc nghiên cứu.
Đặc biệt hơn, đối với những lĩnh vực mà chính phủ xác định là thực sự cấp thiết đến sự phát triển của nền nông nghiệp, Chính phủ Úc thành lập các Trung tâm chuyên ngành hay còn gọi là Trung tâm ưu tú (Centre of Excellence) để nghiên cứu, cải thiện, ứng dụng và chuyển giao từ kiến thức công nghệ cho nông dân. Bộ Nông nghiệp Úc đã xây dựng 11 Trung tâm như vậy đều khắp trong bang, mỗi Trung tâm phụ trách một ngành hàng nông nghiệp đặc biệt trên một vùng sinh thái thích hợp để giải quyết dứt điểm những khó khăn của vùng đó.
Ví dụ như vùng lục địa Narrabri miền tây bắc Úc có khí hậu khô, nóng nên có Trung tâm chuyên về ngành bông vải và cải dầu, vùng miền bắc gần duyên hải vùng Armidale có khí hậu khô nhưng mát mẻ nên có trung tâm về ngành bò thịt, vùng miền trung duyên hải Gosford có khí hậu ôn hoà, gần Sydney nên có Trung tâm Tiếp thị và ngành Làm vườn nhà kính, vùng lục địa Yanco phía tây nam có khí hậu khô, nóng, nhiều ánh sáng nên có Trung tâm Lúa gạo và tưới tiêu.
Việc vận hành các trung tâm này đã giúp Bộ Nông nghiệp Úc giải quyết kịp thời các vấn đề theo từng loại nông sản. Các quy trình sản xuất tốt nhất trên thế giới được nhập vào Úc qua các trung tâm này, ví dụ như Quy trình chăm sóc rau quả tươi sạch dành cho việc sản xuất rau quả (được gọi là Fresh care), Quy trình sản xuất thịt tươi sống (được gọi là Cattle Care), Quy trình sản xuất ngũ cốc (được gọi là Grain Care), qua đó, Úc đã có được thương hiệu về an toàn vệ sinh thực phẩm, gia tăng sức cạnh tranh cho xuất khẩu.
Theo như số liệu của Cục Kinh tế, khoa học nông nghiệp và nguồn lợi Úc (Abarres), giá trị sản lượng nông nghiệp Úc đạt 43 tỷ đô la Mỹ, tương đương với 3% GDP vào năm 2013. Riêng về sản lượng lúa của bang New South Wales (là bang sản xuất 99% sản lượng lúa của Úc) từ tháng 04/2014 đến tháng 03/2015 đạt 894.000 tấn trên diện tích gieo cấy 90.000 héc ta, tương đương với năng suất là 9,89 tấn/héc ta (năng suất lúa của toàn Việt Nam đạt 6,6 tấn/héc ta vào năm 2014).
Nền nông nghiệp Úc được quản lý dưới hình thức nông trại, với khoảng 130.000 nông trại trên diện tích 46 triệu héc ta, trung bình một nông trại có diện tích 354 héc ta. Chính sách của chính phủ Úc là xây dựng một nền nông nghiệp vì nông dân, vậy nên Chính phủ giảm tối đã những điều luật, quy định bắt buộc đối với nông dân như các quy định về thuế hay hải quan, đồng thời đưa ra những chính sách hữu hiệu giúp đỡ nông dân ổn định trong sản xuất, tránh hiện tượng bỏ đất lên các thành phố lớn, đồng thời nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh.
Vào năm 1997, Úc thực hiện chương trình “Một nền nông nghiệp Úc tiên tiến” và hướng đến xuất khẩu với mục đích nâng cao thu nhập cho nông dân và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế cho nông dân. Đặc điểm nội bật của chương trình này như sau:
Hỗ trợ tài chính cho nông dân trong các chương trình giáo dục và đào tạo về kỹ năng quản lý tài nguyên thiên nhiên;
Hỗ trợ nông dân thay đổi ngành nghề cho hợp với thay đổi trong thực tế;
Hỗ trợ nông dân nâng cao kỹ năng về quản lý tài chính;
Tư vấn cho nông dân tình hình tài chính trong và ngoài nước;
Hỗ trợ tài chính cho nông dân về các dịch vụ tư vấn của chuyên gia, cũng như tổ chức các lớp tập huấn để nâng cao năng lực phát triển kỹ năng;
Cung cấp thông tin giúp nông dân nắm vững biến động thị trường trong và ngoài nước.
Vào năm 2004, Chính phủ Úc đã thành lập một nhóm tư vấn xây dựng định hướng và chiến lược cho ngành nông nghiệp và thực phẩm, theo đó Chính phủ điều chỉnh các chính sách và đưa ra các giải pháp về:
Nâng cao khả năng đáp ứng của nông dân trước các yêu cầu mới của thị trường và chuỗi cung ứng;
Giúp nông dân nâng cao năng lực cạnh tranh;
Hỗ trợ nông dân về kỹ năng quản lý tài nguyên thiên nhiên;
Bảo đảm môi trường kinh doanh tốt nhất, thông thoáng nhất để các doanh nghiệp tự do hoạt động, tăng mạnh sức cạnh tranh
Xét về mặt bằng chung, nông dân Úc có trình độ giáo dục cao, khoảng 31% có bằng đại học hoặc cao đẳng (trung bình toàn quốc 52%). Các chính sách đầu tư vào nông dân Úc có thể tóm lại theo ba mục chính, đó là:
Nông dân Úc là chủ thể của nền nông nghiệp Úc, thể hiện trên thực tế đối với các chính sách này là việc một hộ nông dân Úc được cấp giấy phép sở hữu diện tích đất rất lớn chứ không phải được thuê lại đất của Nhà nước và Nhà nước sẽ xem xét lại tình trạng cho thuê đất sau một thời gian.
Nông dân Úc sản xuất theo chuỗi giá trị và phân phối theo chuỗi cung ứng, thể hiện ở điểm các mặt hàng nông nghiệp Úc được đóng gói bao bì đầy đủ với nhãn hiệu “made in Australia” có mặt trên toàn thế giới.
Nông dân Úc áp dụng hiệu quả các công nghệ hiện đại bao gồm các máy móc và kỹ thuật công nghệ hiện đại trong sản xuất nông nghiệp. Tại các cánh đồng rộng ngút tầm mắt, những mày cày, máy hái không cần người lái được sử dụng rộng rãi. Đồng thời, nông dân Úc biết cách dùng hệ thống vệ tinh để định vị đường cày cho máy cày qua các thiết bị điện toán tính toán chính xác.
Nói tóm lại, với các chính sách hữu hiệu của Chính phủ, Úc đã thành công không chỉ trong vấn đề tự cung tự cấp nguồn lương thực cho người dân trong nước mà còn xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang các nước trên toàn thế giới, nổi bật nhất là các sản phẩm gồm thịt bò, ngũ cốc, hoa quả, sữa và các sản phẩm thuộc sữa, rượu nho, lông cừu, bông vải, đường.
Mặc dù liên bang Úc mới được thành lập vào năm 1901, tính đến nay mới được 114 năm, nhưng Úc đã được tạp chí The Economist bình chọn đứng thứ 6 trên toàn thế giới về chỉ số chất lượng cuộc sống vào năm 2005, được Liên Hiệp Quốc xếp hạng ba về chỉ số phát triển con người vào năm 2007. Nước Úc còn nắm giữ một kỷ lục chưa có nước nào có, đó là hầu hết các thành phố lớn của Úc đều nằm trong “top 10” những thành phố có đời sống tốt nhất thế giới: Melbourne (hạng 2), Perth (hạng 4), Adelaide (hạng 7) và Sydney (hạng 9).
Nhật Hạ tổng hợp

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Sức Khỏe và Tâm Tịnh

Nguồn : Vững Đại Phát 
Sức Khỏe và Tâm Tịnh
Alan Phan
6 May 2015
Một người bạn chuyển gởi bài viết của một nhà sư về Đông Y Dược. Tác giả quả quyết rằng nguồn gốc của sức khỏe thực sự là “tâm tịnh”. Khi khí huyết không đầy đủ, kinh mạch không thông suốt thì bệnh tật phát sinh. Giận nhiều hại gan, dâm nhiều hại thận, ăn nhiều hại ruột, ưu tư hại bao tử, phẫn nộ hại tim, sầu muộn hại tinh thần. Tệ nhất là hận thù, ghen tị… mầm mống của ung thư, bứu hạch… Theo ông, nguyên lý căn bản của thiên nhiên là nếu còn bản chất tham , sân, si; con người không thể đạt được tâm tịnh. Và luật nhân quả rồi cũng thể hiện ngay trong đời mình.
Trên hết, tác giả còn nêu ra một nhu cầu cho sức khỏe là “phải vượt qua mọi nỗi sợ: sợ chết, sợ đau, sợ khổ, sợ mất mát, sợ thay đổi, sợ …vợ, sợ con, sợ nhân tình.. v.v…..
Bài viết không phải là một biện giải với nhiều bằng chứng khoa học; nhưng đọc xong, tôi thấy đồng cảm vô cùng trên nhiều bình diện, từ lý trí đến trực giác.
Ba năm nay, tôi liên miên bị bệnh tật lớn-nhỏ hành hạ, đủ loại, đủ kiểu. Chữa xong đám cháy này thì đám khác lại kêu gào. Nếu không có ý chí và kiên nhẫn học từ các thất bại 70 năm qua, có lẽ tôi đã mệt mỏi bỏ cuộc. Nhưng tất cả những rắc rối đó, có thể giải thích thật đơn giản: vì tâm mình chưa tịnh, chưa bình an? vì trong lòng vẫn còn nhiều độc tố của tham, sân, si?
Nói thì dễ, nhưng khi tôi trẻ hơn, với một tính xấu (?) luôn thích tìm tòi, thử nghiệm…để cố khám phá một chân trời nào mới lạ hơn, thì tâm tịnh là điều không tưởng. Tôi nghĩ nhiều bạn trẻ khác cũng chia sẻ vấn nạn này. Cho nên, nếu để tránh mọi bệnh tật với một tâm linh phải “hư không hóa”, có lẽ nhiều người đành phải “chọn” bệnh tật vậy?
Ngay cả trong tuổi già, dù mọi tham, sân si gần như đã biến mất, tâm tịnh vẫn là một trạng thái khó đạt. Lấp ló ở phòng đợi của “thiên đường”, tôi vẫn thấy mình không sao thoát tục được. Vẫn còn chút giận dữ khi nhìn cái ngu xuẩn, của mình hay của người thân yêu, đêm đêm vẫn chút buồn với những giấc mơ không đạt đến, và ngày ngày vẫn chút ghen tị với sức khỏe của những người đồng lứa tuổi. Dĩ nhiên, tôi hiểu đây là cái giá phải trả cho cái tính cầu toàn…nhưng thay đổi quán tính của 70 năm vẫn là thử thách quá lớn.
Tuy nhiên, ở một lăng kính khác, tôi nghĩ tâm tịnh cũng cần một chút “nhân tính” để cân bằng.
Đừng cảm xúc quá độ đễ phẫn nộ hủy hoại trái tim, để trầm cảm tàn phá bao tử, hay để hận thù tạo nên ung thư…nhưng một con người “hạnh phúc” vẫn cần biết hoan lạc với một bản nhạc tuyệt vời, vẫn buồn nhớ xa xôi khi trời đổ mưa rào hay vẫn ham muốn lan man khi thả hồn theo mộng? Đời sống dù ở lối đi chậm nhất vẫn cần hơi thở hay di chuyển.
Năm ngoái, có chút thì giờ, tôi bay lên Omaha, Nebraska dự đại hội thường niên của Berkshire Hathaway. Cái đinh của sự kiện luôn là sự xuất hiện của thần tượng Warren Buffett trước sự cổ võ nồng nhiệt của hơn 40 chục ngàn cổ đông hiện diện. Khi bước lên sân khấu, ngài Buffett, có Bill Gates lẽo đẽo theo sau, vẫy tay cười tươi với cả vận động trường. Theo truyền thống, ông quăng một tờ báo vào 1 căn nhà do công ty Clayton của ông xây mẫu, nó rơi khá xa cho thấy sức ném của ông già. Ông la lớn,” Hello and Welcome Again” về phía VIP section, cho thấy tiếng nói còn nhiều sinh lực.
Nhìn ông, tôi không còn cái ấn tượng ngưỡng mộ về thành tựu hay tài sản hay danh tiếng của ông như những năm trước khi tôi còn trẻ và đầy tham vọng. Tôi chỉ có chút ganh tị là sao ông già hơn tôi 15 tuổi mà ông có thể khỏe mạnh và yêu đời đến vậy? Cảm giác này cũng hiện hữu khi tôi gặp chủ nhân một quán cà phê ở Little Saigon. Ông đã 82 tuổi nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát trong công việc…với một cánh tay rắn chắc và một cơ bắp nổi cộm từ eo bụng. Đây là những lúc tôi thấy mình thấp kém hơn nhiều người khác.
Từ những khoảnh khắc này, tôi mới hiểu lòng tham là một phần của sự sống. Đó là khởi đầu của mọi thứ xấu xa nhất, cũng như êm đẹp nhất, tùy lựa chọn và tùy thời điểm. Tôi thấy mình không còn tham muốn chút gì về quyền lực, danh tiếng, tiền bạc hay nhục dục, nhưng trong cái tuổi 70, mình vẫn ham muốn một sức khỏe dồi dào, sung mãn. Nó cho phép ta tận hưởng những thú vui, dù đơn giản và nhỏ nhặt, nhưng lại là lẽ sống để “moving on”, ngày qua ngày.
Sau cùng, biện luận theo trái tim và trực giác khác với phân tích sâu xa của lý trí. Có thể tâm tịnh chỉ là một hình thái của placebo effect trong việc chữa trị bệnh. (Placebo effect là một hiện tượng tâm lý hay dùng trong các thử nghiệm y học. Một nhóm người nghĩ là mình được điều trị bằng dược phẩm vẫn có thể tìm thấy tác dụng tích cực, dù rằng thực sự họ chỉ đã dùng nước lạnh hay thuốc ảo, không có một chất trị liệu nào). Nếu tịnh tâm chỉ là một tác động tâm lý thì nguồn gốc của bệnh tật vẫn là hữu cơ?
Một anh bạn lớn hơn tôi 5 tuổi, hăng say công việc, đi về châu Á liên tục như một executive mới hơn 30 tuổi. Anh nói kết quả không thành vấn đề, nhưng nếu không có cái đam mê kinh doanh này, chỉ ngồi thiền nhìn biển núi như một tu sĩ, chắc anh chết sớm theo vợ. Anh chắc chắn rằng tâm tịnh chỉ làm anh rối thêm. Cuộc sống bận rộn, nhiêu khê, áp lực…lại là “perfect” với anh, một lựa chọn lạ ở tuổi 75. Có lẽ DNA của anh đã được cấu trúc theo định mệnh này?
Nhưng dù thế nào, tâm tịnh vẫn là yếu tố quan trọng trong việc phát triển con người toàn diện của mình. Tâm có tịnh, tầm nhìn mới thông suốt và môi trường chung quanh hiển thị rõ hơn con đường đang chọn. Tâm có tịnh, mới gạn lọc đầy đủ kiến thức thật khách quan, khoa học, không để mây mù của cảm xúc, thiên kiến, giáo điều…vẩn đục. Tâm có tịnh, tinh thần mới sáng suốt minh mẫn để nhận ra những cạm bẫy của quyền lực tha hóa, ngụy trang dưới những chiêu bài tốt lành. Tâm có tịnh, sự hòa nhập vào Vũ Trụ mới thực sự được khơi dậy để biết định vị cho số phận nhỏ bé của kiếp người.
Tôi đành an ủi mình với câu nói về “tĩnh lặng” của Robert Kennedy,” Đôi khi chúng ta mong ước được sống ở một thế giới bình lặng hơn, nhưng không được. Nếu thời đại chúng ta có nhiều khó khăn và phức tạp; nó cũng chứa đựng nhiều thử thách và cơ hội”. (All of us might wish at times that we lived in a more tranquil world, but we don’t. And if our times are difficult and perplexing, so are they challenging and filled with opportunity).
Alan Phan

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

Nụ Cười Việt

Nguồn : Vững Đại Phát 
Phía sau nụ cười
Tác Giả: Tuấn Khanh – Blog TK – 6 May 2015
Rất nhiều người lý giải chuyện đoàn cán bộ của Hội Chữ Thập Đỏ ở Nepal bị phản ứng dữ dội, do một người trong đoàn đã chụp ảnh, trỏ vào đống đổ nát sau động đất và cười. Hành động đó bị nhiều người Việt Nam chỉ trích dữ dội coi là “không nhân văn”, “vô nhân đạo”… tuy nhiên, thật ra vẫn có nhiều cách giải thích để thấy rằng nụ cười đó không phải là tội.
Ngay trong 9gag.com, một trang web hài hước có hàng triệu người xem, công chúng cũng không màng đến nụ cười của chị cán bộ, mà chỉ cười chuyện khi vô số những khách du lịch không chuyên môn cứu hộ cùng người dân Nepal ra sức giải nạn, thì những nhà thiết kế giải nạn chuyên nghiệp đã lên máy bay về nước lập tức.
Nụ cười của chị cán bộ không có tội. Nụ cười đó là một nét đặc trưng của người Việt xã hội chủ nghĩa hôm nay vẫn luôn cười ngô nghê trước mọi chuyện. Nụ cười đó có thể là cách trần tình về sự may mắn của chính chị ta, sau khi thoát nạn trước cảnh tượng quá đáng sợ. Nụ cười của người Việt qua mấy mươi năm, dường như đã không còn là biểu cảm cụ thể, mà chỉ là cách giới thiệu cho một sự tồn tại đơn giản. Giống như không ít quan chức vẫn cười khi nói về sự liêm khiết của họ, mai thì đã nghe khám phá họ đang tham nhũng. Trong những video ghi lại cảnh CSGT nhận tiền không biên nhận trên xa lộ vẫn mĩm cười, trong khi nạn nhân nhăn nhó. Thậm chí, ở trước tòa, công an viên bị tố cáo dùng nhục hình đánh chết công dân ở Phú Yên, vẫn cười rất tươi.
Thật ra, ẩn sâu sau tất cả những lời giận dữ về nụ cười hay cái chỉ tay của chị cán bộ ấy, có lẽ chỉ là một phần của tảng băng ngầm chất chứa rất nhiều điều khác. Chuyện đoàn công tác Hội Chữ Thập Đỏ đi “công vụ bí mật” nhằm học hỏi cách ứng phó thiên tai đó, làm không ít người liên tưởng đến vô số các đoàn “công tác” nhân danh từ việc tham quan học hỏi chăn nuôi cho đến học tổ chức quốc gia… nhưng phần lớn là sử dụng tiền ngân sách Nhà nước, tiền đóng thuế của nhân dân như những chuyến du lịch nhàn nhã và “bí mật” cho “công vụ” của mình. Hầu hết các cuộc công du đó chưa chứng minh được đã bồi đắp gì cho quốc gia, mà chỉ thấy người dân còng lưng ra để lấp vào chỗ trống thâm hụt.
Một quốc gia nghèo khó như Việt Nam, với nợ công nợ vào khoảng 60,3% GDP của cả nước nhưng chuyện cung cấp tiền “công tác” nước ngoài của giới cán bộ lại hào phóng không tưởng nổi. Năm 2012, Việt Nam có 3.780 đoàn của bộ, ngành đi nước ngoài, mà theo tính toán thì như vậy, trung bình một ngày có 6 đoàn lên máy bay. Năm 2013, cũng có đến 3.200 đoàn. Hầu hết các đoàn đều có “bí mật công vụ” không khác gì với đoàn của Hội Chữ Thập Đỏ. “Bí mật” vì danh sách tất cả các đoàn đi nước ngoài này chưa bao giờ được minh bạch công bố với dân chúng, để được kiểm soát một cách hợp lý.
Có lẽ chưa tìm hiểu được hết, nhưng không khéo thì sẽ có lúc người dân tìm thấy có những đoàn đi công tác ở Mỹ hay nhiều nước Châu Âu chỉ nhằm nghiên cứu xây hệ thống nhà vệ sinh công cộng đô thị hoặc sơn màu xe bus cho hợp thị hiếu người Việt. Dĩ nhiên chuyện nhà vệ sinh vẫn là công vụ, và rất bí mật.
Một chi tiết khác trong sự kiện đoàn Hội Chữ Thập Đỏ bị chỉ trích, qua vụ động đất ở Nepal, là chuyện chị cán bộ Hội khi bị áp lực dư luận đã nhờ đến luật sư để bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích cá nhân của mình.
Đây là một điều đáng mừng, vì theo lẽ thường, những cán bộ trong quá trình công vụ và bí mật của mình, vẫn nhờ cơ quan công an “vào cuộc”, như một thói quen lâu ngày ở xã hội không coi trọng giá trị ngành tư pháp. Ý thức về tư hữu và những “quyền” con người đầy tính hội nhập với thế giới tư bản, đang giới thiệu cho thấy rằng trước khi bày tỏ được về những khả năng chuyên môn, giới cán bộ có cơ hội đi tắt đón đầu đã có thêm ít nhiều kinh nghiệm về cách bảo vệ mình, nhân danh luật pháp.
Chắc chắn, trong sự tức giận của đám đông mà người ta đang thấy mỗi ngày về chuyện Hội Chữ Thập Đỏ, vẫn có người vừa kể chuyện vừa cười. Như vậy đó, nụ cười không có tội. Nụ cười giờ đây chỉ là động tác trung gian đứng giữa 2 thế giới mộng và thật. Nụ cười mà chúng ta đang thấy trong xã hội đôi khi mở ra để giới thiệu những điều sâu thẳm khác, hoặc khép lại như tấm màn nhung kịp lúc của một sân khấu thô bỉ.
Trong L’homme qui rit (Người cười) của Victor Hugo, có những người được chọn để rạch miệng như đang cười, nhằm mua vui cho triều đình. Ngay cả khi họ khóc, cũng ngỡ như họ đang cười ra nước mắt. Sau khi triều đình sụp đổ, họ luôn phải mặc áo choàng cao cổ để tránh bị hiểu lầm là đang cười vào đời sống nghèo khó và hỗn loạn bấy giờ.
Cũng như những người ngồi vỉa hè, quanh ly cà phê và kể chuyện Nepal, kể chuyện chị cán bộ, trên những khuôn mặt nhân dân rất biểu trưng đó vẫn có những nụ cười, nhưng tôi nhìn rất lâu mà vẫn không dám chắc liệu đó có phải là nụ cười thật sự hay không nữa.
Tuấn Khanh

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Nguỵ biện

Nguồn : Vững Đại Phát 
Nguỵ biện
Tác Giả: Nguyễn Văn Tuấn – 3 May 2015
Cách đây trên 10 năm tôi căn cứ vào những gì mình học qua và có viết một bài khá dài để liệt kê những nguỵ biện phổ biến ở người Việt. Bài đó được phổ biến rất nhiều qua từng ấy năm. Nhưng hôm qua, nhân một cái note nhỏ về “Chứng từ của tội lỗi” (tôi không dùng chữ “tội ác”), tôi mới thấy thói nguỵ biện vẫn còn tồn tại trong khá nhiều bạn đọc.
Tôi thấy một nguỵ biện phổ biến nhất là đánh tráo vấn đề. Tiếng Anh gọi là distraction. Có nhiều thói trong nhóm nguỵ biện này, nhưng một số thói phổ biến tôi thấy trong thực tế là:
Thứ nhất là thói nguỵ biện có tên mà tiếng Anh gọi là “red herring”, hiểu theo nghĩa đánh tráo vấn đề. Chữ “red herring” có nguồn gốc từ thế kỉ 19 khi những người thợ săn dùng mùi cá để đánh lạc hướng và huấn luyện chó săn. Câu chuyện là cây búa được dùng cho việc giết người, người dùng nó là người của chính quyền đương thời, và việc sử dụng công cụ này được chính chính quyền xác định trên giấy trắng mực đen. Cây búa là một chứng từ nói lên tính man rợ trong thời chiến của phe chính quyền. Người đọc có suy tư phải suy nghĩ, tìm hiểu, lí giải vấn đề, và giúp người khác hiểu sâu thêm.
Nhưng có người lại đánh tráo vấn đề bằng cách cho rằng phía VNCH cũng ác ôn không kém. Nhưng đối tượng chính ở đây là chứng từ tội lỗi ngày xưa của phía chính quyền hiện hành, chứ không phải là VNCH. Bằng cách lái vấn đề sang VNCH, người ta, hoặc cố ý hoặc vô ý, đánh tráo từ một vấn đề A sang vấn đề B. Hệ quả của sự đánh tráo như thế là làm cho người khác, nếu không tinh ý và tập trung, sẽ bị lẫn lộn vấn đề. Từ lẫn lộn dẫn đến việc bàn luận chẳng đi đến đâu, và cuối cùng chỉ là những lời qua tiếng lại một cách vô nghĩa. Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua những tội ác của VNCH, nhưng ở đây không phải là chủ đề đó, nên đánh tráo sang nó là rất không có ích.
Một loại nguỵ biện khác là tấn công cá nhân. Tiếng Anh gọi là ad hominem. Thật ra, thói nguỵ biện này rất ư phổ biến trong báo chí Việt Nam. Thay vì bàn luận về vấn đề thì người ngụy biện đem người đặt vấn đề ra chửi bới cá nhân. Ví dụ về thói này thì rất rất nhiều, nhưng tôi nghĩ biểu nhất là sự việc chung quanh ông Cù Huy Hà Vũ. Ông Hà Vũ là người bất đồng chính kiến với chính quyền, ông kêu gọi hợp – hoà giải dân tộc, ông kêu gọi dân chủ, ông nêu những vấn đề “dân oan”, v.v. Nhưng thay vì đối thoại với ông, thì những người trong chính quyền (và báo chí) bơi móc đời tư cá nhân của ông, và những tranh chấp trong gia đình ông. Người ta có lẽ muốn chứng minh rằng ông Hà Vũ đời thường cá nhân là tệ thế thì những gì ông ấy nói là không đáng để nghe. (Nói như thế thì đời tư các lãnh đạo từ ông Lê Duẩn đến ông Clinton, ông nào cũng có vấn đề đời tư cá nhân cả, thì không tin họ sao?) Không phân biệt được cá nhân và quan điểm của cá nhân là dễ dẫn đến bàn luận chẳng đi đến đâu.
Tuy nhiên, thói tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất thấp kém nhưng lại rất lợi hại. Lợi hại là vì công chúng thích những chuyện đời tư cá nhân hơn là động não suy nghĩ chuyện lớn. Hệ quả của ad hominem cũng là đánh tráo vấn đề: chuyển đối tượng bàn luận sang chuyện cá nhân.
Một thói nguỵ biện hay được đem ra sử dụng là ví von bất xứng (false analogy). Thông thường, đây là thói nguỵ biện so sánh một sự việc đang bàn với một sự việc khác, nhưng các yếu tố trong so sánh không tương đồng với nhau. Tiêu biểu cho thói ngụy biện này là cách nói “nếu xem gói thuốc nổ trong bánh là khủng bố, thì việc bỏ bom cũng là khủng bố”. Nhưng hai sự việc rất khác nhau. Việc giả cái bánh để giết người là hành động lén lút ám sát, còn việc bỏ bom là hành động được tuyên bố trong một cuộc chiến. Không thể so sánh và đánh đồng hai sự việc như nhau được. Tương tự, cây búa và cây súng khác nhau xa về ý nghĩa trong chiến tranh, nhưng có người nói dùng súng để bắn chết người trong chiến tranh là ok thì dùng búa cũng ok. Nhưng cây búa không phải là công cụ để tự vệ trong chiến tranh, không phải là “conventional war”, mà nếu dùng nó để giết người trong chiến tranh thì phải xem đó là tội phạm. Không thể đánh đồng cây búa và cây súng được. Chiến tranh cũng có luật chơi của nó.
Thói nguỵ biện hay thấy ở người Việt là thói mà tiếng Anh gọi là ignorance – tức là thiếu thông tin (hay có người dịch là “dốt”). Một số đông các bạn trẻ trong nước bị tuyên truyền và nhồi sọ quá lâu, nên họ không phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Đến thời điểm này mà vẫn đem những Lê Văn Tám, những tay không kéo máy bay trực thăng, những “lê máy chém khắp nơi”, v.v. là rất đáng trách. Đó không phải là những sự thật, mà chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và giả dối. Mà, những sự kiện giả dối thì không thể dùng trong bàn luận nghiêm chỉnh được.
Tôi thấy thỉnh thoảng có thói nguỵ biện đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua cách nói “Nếu VNCH thắng thì tình hình cũng thế”, và hàm ý là “tình hình tồi tệ hiện nay là chấp nhận được”. Thói nguỵ biện này phạm phải 2 cái sai lầm. Thứ nhất là sự việc đã không xảy ra, và cách nói chỉ là giả thuyết. Thứ hai, cách nói đó giả định rằng chế độ VNCH là chuẩn mực, một điều rất khó kiểm chứng trong thực tế. Tuy nhiên, cách nói như thế là rất thấp, vì nó là kiểu đánh vào … không khí (vì sự việc không xảy ra).
Điều đáng tiếc là những nguỵ biện như thế vẫn xảy ra hàng ngày trong thế giới mạng. Chẳng những thế mà còn xảy ra ở nhiều quan chức cao cấp. Có những nguỵ biện rất hài hước như IQ và đường sắt cao tốc, như số báo chí và đài truyền hình là tự do báo chí, như học tập cải tạo là thể hiện lòng nhân ái, vân vân và vân vân.
Nguỵ biện là hệ quả của sự lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta phải sử dụng những gì sẵn có. Những gì sẵn có là khẩu hiệu nhan nhãn từ mấy chục năm nay. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy sinh viên (và những người lười suy nghĩ) thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ thì họ cho ngay cái nhận xét “phản động”. Thấy ai nói về hành động tàn ác trong chiến tranh, họ nghĩ ngay đến “phía bên kia cũng ác ôn”. Dùng phía bên kia để biện minh cho sự ác ôn của mình là khó thuyết phục, nhưng nó làm cho họ cảm thấy an lòng. Họ chỉ thốt cái chữ đó ra theo quán tính, chứ chưa chắc họ biết cái nghĩa thật của chữ đó là gì.
Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Loạt Bài Về Hướng Đi Cho Nông Nghiệp

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bài 1:
Vì sao ngành nông nghiệp Mỹ đứng hàng đầu thế giới?
Tổng Hợp của Nhật Hạ – Theo Đại Kỷ Nguyên – 4 May 2015
Nước Mỹ có ngành nông nghiệp tân tiến, hiện đại nhất thế giới. Lao động nông nghiệp chiếm khoảng 1% trong tổng dân số 322 triệu người. Nếu tính dưới góc độ lực lượng lao động thì lao động ngành nông nghiệp của Mỹ chỉ chiếm 0,7% tổng số lực lượng lao động của toàn nước Mỹ tính đến thời điểm năm 2014 (với 155.421.000 người).
Diện tích nước Mỹ là 9,161,923 km2, trong đó diện tích đất có thể canh tác được chiếm 18,1%. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tháng 02/2014, Mỹ có 2,109,363 tổng số nông trại, trung bình mỗi trại có diện tích 174 héc ta.
Năm 2012, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp đạt 394.6 tỷ đô la Mỹ, tăng 33% so với năm 2007, trong đó giá trị các sản phẩm trồng trọt là 219.6 tỷ đô la, giá trị sản phẩm chăn nuôi đạt 171.7 tỷ đô la.
Xuất nhập khẩu nông sản, Mỹ là nước dẫn đầu thế giới, ước tính chiếm 18% thị phần thương mại nông sản của toàn cầu.Từ năm 1960 đến năm 2014, Mỹ luôn thặng dư về thương mai các sản phẩm nông nghiệp, ví dụ như xuất khẩu nông sản năm năm 2014 ước tính đạt 149.5 tỷ đô la, chiếm hơn 10% tổng số kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng và thặng dư mậu dịch nông nghiệp lên đến hơn 38.5 tỷ đô la Mỹ.
Dưới đây là một số lý do giải thích vì sao nước Mỹ có một tỷ lệ nông dân rất nhỏ so với tổng lực lượng lao động, mà lại có một nền nông nghiệp lớn mạnh như vậy.
1- Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của chính phủ
Các chính sách ủng hộ việc phát triển nông nghiệp của chính phủ Mỹ đã làm nên sự thành công của ngành nông nghiệp Mỹ. Ngay từ thời kỳ đầu, Chính phủ đã ban hành luật đất đai vào năm 1862 quy định phát không đất đai cho những người đến sống và làm việc trên các mảnh đất trống tại miền Tây nước Mỹ, tạo điều kiện cho một số nông dân được định cư, lập nghiệp dễ dàng.
Vào năm 1914, Quốc hội Mỹ đã lập ra cơ quan Dịch vụ phát triển nông nghiệp, cơ quan này tuyển dụng đội ngũ cán bộ để cố vấn cho các hộ nông dân từ bước sử dụng phân bón cho đến các khâu sau của quy trình sản xuất nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp đảm nhiệm tiến hành các nghiên cứu mới, cho ra đời những loại phân bón làm tăng sản lượng hạt, các loại giống lai cho cây trồng khoẻ hơn, các phương pháp chữa trị nhằm bảo vệ và cứu chữa cây trồng vật nuôi chống được bệnh tật, và nhiều phương pháp khác kiểm soát các loài vật gây hại.
Vào năm 1929, tổng thống Herbert Hoover thành lập ban nông nghiệp liên bang nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế cho nông dân. Năm 1933, Tổng thống Franklin D. Roosevelt cho phép thực hiện một hệ thống trợ giá cho nông dân một mức giá gần bằng giá lúc thị trường ở điều kiện ổn định bình thường. Đồng thời, trong khoảng thời gian từ 1933 đến 1996, chính phủ cho nông dân vay tiền canh tác, nông dân có quyền trả nợ theo giá quy định trong hợp đồng. Cụ thể là vào những thời điểm sản xuất dư thừa, nông dân bán sản phẩm cho chính phủ, còn vào lúc giá nông phẩm cao, nông dân có quyền bán sản phẩm cho các công ty kinh doanh lương thực để tăng lợi tức.
)Ngoài ra, chính phủ còn đề ra chính sách bảo tồn, dưỡng đất dự trữ. Sự can thiệp với quy mô lớn vào ngành nông nghiệp Mỹ được kéo dài cho đến tận cuối những năm 1990. Sau đó, chính sách trợ giá nông nghiệp chỉ duy trì ở mức thấp, chính phủ tập trung vào chương trình dự trữ chiến lược, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, để phục vụ hiệu quả cho ngành nông nghiệp Mỹ.
Hiện nay, chính phủ đang chú trọng đến xuất khẩu nông sản, và đặc biệt quan tâm đến tính vững bền của lực lượng lao động nông nghiệp. Thượng viện vừa thông qua dự luật di dân nhằm mục đích bảo đảm có đủ số công nhân cần thiết cho nền nông nghiệp, đặc biệt là vào mùa gặt hái, chăn nuôi gia súc, và sản xuất nông phẩm cần thiết cho xuất khẩu. Đạo luật này cũng mở đường cho những người làm việc trong ngành nông nghiệp Mỹ mà chưa có giấy tờ hợp lệ được phép nhập cư vào Mỹ.
Chính nhờ các chính sách hỗ trợ một cách hiệu quả này đã mang lại cho ngành nông nghiệp Mỹ một kết quả tốt đẹp như ngày hôm nay.
2. Tính tự chủ và sáng kiến của nông dân
Xét trên giác độ lịch sử, nông dân Mỹ được nhìn nhận với tính tự chủ rất cao, cần cù, sáng tạo, kiên nhẫn và đầy nhiệt huyết. Và thời kỳ đầu, những người nông dân này đến Mỹ với bàn tay trắng, tự làm việc trên những mảnh đất không có giấy tờ sở hữu. Năm 1790 nông dân Mỹ chiếm 90% dân số. Số lượng nông dân giảm liên tiếp qua thời gian, đến năm 1920, nông dân Mỹ chiếm 30.8% tổng dân số, đến năm 1960, họ chiếm 8,3% tổng dân số và đến thời điểm năm 2014, ước tính số lượng nông dân Mỹ thực sự hoạt động trên đồng ruộng chỉ chiếm khoảng 1% trong tổng số toàn dân Mỹ.
Những người nông dân này thực hiện vận hành các nông trại nhỏ và vừa được của chính gia đình họ, hay họ thành lập nên những công ty do chính họ làm chủ, chiếm tới 95% tổng diện tích đất nông nghiệp được canh tác, 5% còn lại thuộc về các tập đoàn lớn làm chủ
Nông dân Mỹ sử dụng máy móc rất thành thạo, có trình độ hiểu biết cao về nông nghiệp và kinh tế, nhiều người có bằng đại học. Họ chú trọng vào việc cải thiện kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi gia súc dẫn đến sản lượng nông nghiệp tăng mạnh. Hình ảnh người nông dân Mỹ ngày nay là hình ảnh của người công nhân nông nghiệp. Họ hay mặc quần jean, áo carô màu, sống trong những khu vực đầy đủ tiện nghi.Thu nhập của người làm nghề nông ở Mỹ khá cao, mức lương trung bình hiện nay của một công nhân nông nghiệp Mỹ là 61.000 đô la/năm. Tính trên hộ gia đình thì thu nhập trung bình của một gia đình nông dân năm 1960 là 4.654 đô la, đến năm 2012 thì thu nhập trung bình là 108.814 đô la, tăng 23,38 lần trong thời gian 52 năm.
3. Áp dụng phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong sản xuất nông nghiệp
Nước Mỹ đặc biệt nhấn mạnh đến việc cơ giới hóa các phương tiện canh tác, sử dụng máy móc thay thế cho sức người và sức súc vật. Chi phí máy móc chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng chi phí đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Việc cơ giới hóa máy móc không chỉ đơn thuần là tăng số lượng máy móc trên cánh đồng mà còn chú ý đến thực hiện kết hợp các tính năng để tạo ra các máy liên hoàn, kết hợp máy kéo với máy cày, máy gieo trồng, máy gặt. Hay các sáng kiến về các loại máy móc có thể canh tác được ở những vùng đất cứng mà sức người khó có thể làm được. Hầu như mọi hoạt đông trong sản xuất nông nghiệp đều thực hiện bằng máy móc, từ làm đất, gieo trồng, bón phân, tưới tiêu đến gặt hái. Nông dân còn dùng máy bay để phun thuốc trừ sâu, dùng máy điện toán đề theo dõi kết quả thu hoạch. Ngày nay, không có gì lạ khi nhìn thấy những người nông dân lái máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và rất đắt tiền.
Vào đầu thế kỷ 20, phải có 4 nông dân mới sản xuất nông phẩm đủ nuôi cho 10 người, ngày nay, một nông dân Mỹ có thể cung cấp đủ lương thực nuôi 100 người Mỹ và 32 người đang sống tại các nước trên thế giới.
Với diện tích đất canh tác rộng lớn nên việc áp dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong sản xuất nông nghiệp đã khiến cho năng suất lao động tăng mạnh. Bên cạnh đó, mặc dù có những đợt lũ lụt và hạn hán nhưng nhìn chung lượng nước mưa tương đối đấy đủ, nước sông và nước ngầm cho phép tưới tiêu tại các tiểu bang thiếu nước. Vùng đất phía Tây thuộc miền Trung nước Mỹ có đất đai canh tác màu mỡ. Chính vì vậy khi đến Mỹ, người ta thường thấy những cánh đồng ngô, đậu nành, lúa mì, cam, cánh đồng cỏ, rộng mênh mông, xanh tươi, bát ngát.
Với những lý do trên, ngành nông nghiệp Mỹ đã đạt được những thành tựu to lớn, thực sự đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Mỹ, với các loại thực phẩm dồi dào với giá rẻ, tạo thêm công ăn, việc làm cho các ngành chế biến, sản xuất máy móc, và đặc biệt dịch vụ xuất khẩu nông phẩm đi khắp các nước trên thế giới.
4. Bài học cho chúng ta
Nhìn lại ngành nông nghiệp Việt Nam, cho đến thời điểm này, năng suất lao động trong ngành nông nghiệp của Việt Nam luôn thấp nhất trong nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thấp và không thể bắt kịp được năng suất lao động của các nước này kể từ năm 2005. Trong khi đó, năng suất lao động của ngành nông nghiệp lại đang có xu hướng chững lại, hiện chỉ bằng 1/3 so với năng suất chung của cả nước. Theo thông tin từ Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), giá trị gia tăng nông nghiệp trên mỗi lao động của Việt Nam năm 2011 đạt chưa tới 400 USD/người, thấp hơn cả Lào và Campuchia. Mặc dù nông nghiệp cũng là lĩnh vực duy nhất của Việt Nam luôn có xuất siêu trong nền kinh tế. Trong vòng gần 3 thập niên, nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng đều đặn, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới với các sản phẩm như gạo, tiêu, điều, sắn, chè, cao su.
Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là tăng trưởng nông nghiệp và năng suất có xu hướng chững lại, tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nông nghiệp giảm dần từ mức bình quân 4,5% giai đoạn 1995-2000 xuống 3,8% giai đoạn 2000-2005 và chỉ còn 3,4% giai đoạn 2006-2012.
Chính vì vậy, để có được những bước đột phá cho ngành nông nghiệp Việt Nam, có lẽ cần có những chính sách sát hữu hiệu giúp đỡ người nông dân một cách toàn diện hơn nữa. Có như vậy ngành nông nghiệp Việt Nam mới có thể phát triển bền vững.
Nhật Hạ tổng hợp

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Saigon : Cái tên của ngày ….?

Nguồn : Vững Đại Phát 
Saigon : Cái tên của ngày hôm qua
Tác Giả: Phúc Tiến – Người Đô Thị – 4 May 2015
(GNA: Bài viết “khen” Saigon của báo lề đảng?)
Không biết từ bao giờ, trong phòng lưu niệm trên tầng chót của tháp Eiffel – Paris, đã có tên “Sài Gòn” trên bảng tên khoảng cách từ đây đến những thành phố lớn trên thế giới. Trong khi đó, tại đài thiên văn Greenwich, London – nằm ngay trên kinh tuyến gốc số 0, tên “Sài Gòn” được khắc trên bảng tọa độ các đô thị tiêu biểu cho các múi giờ. Tọa độ Sài Gòn là kinh tuyến Đông 106 độ – 43 phút.
Sau năm 1975, nhiều bản đồ thế giới xuất bản ở nước ngoài có ghi tên địa điểm Ho Chi Minh city với hàng chữ chú thích: “formerly Saigon“ (nguyên là Sài Gòn). Thế nhưng, trong mắt nhiều người Việt và nước ngoài, tên Sài Gòn không chỉ là địa danh, không chỉ là hoài niệm xa vắng mà cao hơn nữa từ lâu rồi, đó còn là một địa chỉ quốc tế, một icon – biểu tượng – đầy sức sống kỳ lạ của Việt Nam qua nhiều thế kỷ thương đau.
Poster quảng bá du lich Sài Gòn những năm 1970 của hãng máy bay Air Vietnam
Mở cửa 200 năm trước
Tôi tìm thấy tên Sài Gòn được người Anh viết là “Sai-gong” trong quyển A voyage to Cochinchina in the years 1792-1793 của John Barrow, in năm 1806, cách đây 209 năm! Có lẽ đây là quyển sách xưa nhất bằng tiếng Anh viết về Việt Nam và cũng là quyển sách nước ngoài xưa nhất nhắc đến tên Sài Gòn. Tác giả quyển sách là một nhà nghiên cứu Anh đã từ Batavia (Jakarta-Indonesia) cập bến Sài Gòn vào thời kỳ Nguyễn Ánh đang xây dựng kinh thành Gia Định trở thành hậu cứ lớn để tiến công Tây Sơn. John Barrow ghi nhận “Sai-gong” là nơi nhà vua xứ Đàng Trong đóng đô, hơn nữa còn là thương cảng nhộn nhịp tàu bè đến mua bán, nhất là xuất khẩu gạo. Mặc dầu còn mới mẻ nhưng Sài Gòn đã thay thế được Hội An và Quy Nhơn – hai cảng thị trở nên tiêu điều vì chiến tranh, để mở cửa Đàng Trong ra với bên ngoài. Rất đáng kể, Sài Gòn còn có xưởng đóng tàu theo kiểu Tây dương (châu Âu) và có quân cảng – hậu cứ của hải quân nhà Nguyễn. Khi tác giả có mặt tại “Sai-gong”, tại cảng đã có 7 thương thuyền của Bồ Đào Nha, một chiến hạm Pháp thuộc đội quân của Giám mục Bá Đa Lộc – người hỗ trợ Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn và nhiều thương thuyền khác. Chính chiến hạm Pháp đã đưa Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh đi cầu viện vua Napoleon đệ tam…
Và rồi, hơn 50 năm sau cuộc gặp gỡ Việt-Pháp đó, éo le thay, thực dân Pháp đã đến xâm lược Việt Nam vào năm 1858. Không hạ được Đà Nẵng để tiến chiếm kinh đô Huế, quân Pháp chuyển qua đánh Sài Gòn. Quân nhà Nguyễn gắng sức nhưng rồi thành Gia Định thất thủ ngày 17.2.1859. Cuộc chiếm đóng của người Pháp ở Sài Gòn và đất Nam kỳ sau đó không dễ dàng. Sau bốn năm bình định, đến ngày 15.6.1865, chính quyền Pháp mới chính thức ban hành sắc lệnh lập ra “Ville de Saigon ” – thành phố Sài Gòn. Từ đó, Sài Gòn chuyển qua một quỹ đạo văn minh mới.
Công nghiệp hóa sớm nhất
Người Pháp đã đem văn minh phương Tây đến Sài Gòn trộn với chất phương Đông sẵn có của nó để tạo ra một Sài Gòn mới mẻ và độc đáo. Rất thuận lợi, Sài Gòn đi vào công nghiệp hóa cùng thời những phát minh kỳ vĩ của loài người: xe lửa, máy bay, đèn điện, đường dây thép, điện ảnh… Sau 30 năm xây dựng, người Pháp đã cải biến Sài Gòn thành đô thị hiện đại đầu tiên ở Việt Nam sánh vai cùng nhiều đô thị châu Á đã phát triển trước đó như Singapore, Penang, Hồng Kông, Thượng Hải, Tokyo. Cho đến đầu thế kỷ 20, Sài Gòn đã có được hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và hoàn chỉnh: bưu điện, nhà máy điện, nhà máy nước, công nghiệp đóng tàu, đường nhựa, đường xe lửa, bến cảng và sân bay… Chính nhờ kinh nghiệm xây dựng Sài Gòn và ngay cả phương tiện và nhân lực của Sài Gòn mà người Pháp đã xây dựng tiếp “Hanoi ville”, “Tourane ville” (Đà Nẵng) và một loạt thành phố khác vẫn tồn tại ở Việt Nam.
Nhà hàng và phố xá mang tên Sài Gòn đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới: Paris, London, Sydney… Trong ảnh: “Sài Gòn nhỏ” tại California – Hoa Kỳ
Thời cơ và số phận đã bắt Sài Gòn đi trước trong công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Những nhà máy, công ty, chợ đầu mối, thương xá, ngân hàng, hãng xe đò, xe lửa đầu tiên của Việt Nam đều ra đời từ Sài Gòn. Cũng từ đây, hình thành nên những nghề nghiệp mới: thợ thuyền, kỹ sư, doanh nhân và ngay cả những ngành nghề mới: nhật trình (báo chí), tiểu thuyết, nhà in, nhà sách… Ngay cả về giáo dục, từ Sài Gòn đã “khai sinh” việc giảng dạy chữ quốc ngữ trong trường học và sử dụng chữ quốc ngữ trong công sở và báo chí. Cũng từ Sài Gòn, đã hình thành hệ thống tiểu học – trung học, trường dạy nghề, trường sư phạm, trường cấp tỉnh, trường cấp miền (chỉ riêng đại học, người Pháp mới lập ra trước nhất ở Hà Nội để tạo ra một đối trọng mạnh mẽ với nền giáo dục Nho học lâu đời).
Dòng sông ra biển lớn
Sông Sài Gòn là dòng sông lớn, dễ dàng ngược xuôi ra biển. Vựa lúa Nam bộ và hàng hóa cả nước theo sông Sài Gòn ra với thế giới. Những tuyến đường viễn dương lần lượt ra đời: Sài Gòn-Singapore-Marseille, Sài Gòn-Hongkong-Thượng Hải-Yokohama và xa hơn nữa đến San Francisco và New York. Chẳng mấy chốc, có thêm đường hàng không Sài Gòn-Paris nối châu Âu, Sài Gòn-Hongkong nối với Đông Bắc Á và Mỹ. Những tuyến đường biển đường không, báo chí và viễn thông xuất phát từ Sài Gòn đã mở rộng chân trời, mở rộng tầm nhìn không chỉ cho người Sài Gòn mà còn cho người Việt Nam, người Đông Dương ra với năm châu. Đầu thế kỷ 20, một thế hệ thanh niên mới được các sĩ phu yêu nước nhóm lửa đã mau chóng từ Sài Gòn “xuất dương”, tìm đến những đất nước tiên tiến cả Đông lẫn Tây để học hỏi, kiếm sống và khám phá những tư tưởng cách mạng.
Sài Gòn đã và đang có những giá trị quốc gia và quốc tế không thay thế được. Hãy yêu Sài Gòn hơn nữa, đừng để Sài Gòn bị lãng quên và sa chân vào những tai ương trên những con đường phát triển đô thị thiếu tầm nhìn.
Cho đến trước 1945, Sài Gòn đã rõ nét là một trung tâm giao thương và hàng hải nhộn nhịp, một trung tâm công nghiệp lớn, nhất là sơ chế nông sản, có vị trí quan trọng. Nói như ngôn ngữ bây giờ, Sài Gòn là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng từ Á sang Âu và từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Sài Gòn còn là một thành phố mang phong vị Á-Âu, với gần 500 ngàn dân đến từ tứ xứ và nhiều châu lục. Sài Gòn là “thủ đô kinh tế” của Đông Dương, nơi có dinh Toàn quyền, có các tòa lãnh sự và thương vụ của các cường quốc Anh, Mỹ, Nhật và nhiều nước khác. Khi chiến tranh Thái Bình Dương xảy ra năm 1941, người Nhật đã đặt đại bản doanh tại Sài Gòn để điều hành cuộc chiến Đông Nam Á. Sài Gòn đã hứng bom không quân Mỹ nhưng may mắn không bị nhiều tàn phá. Những diễn biến chiến tranh khốc liệt hơn 30 năm sau đó càng làm thế giới biết đến tên Sài Gòn không chỉ liên quan vận mệnh kinh tế mà còn là vận mệnh chính trị của cả Đông Dương và khu vực.
Yêu kiều giữa chiến tranh
Năm 1948, chính quyền Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại và Pháp dựng lên, đặt thủ đô ở Sài Gòn. Lần đầu tiên trong lịch sử, Sài Gòn trở thành trung tâm đầu não về cả hành chính và quân sự cả nước cho một bên trong cuộc chiến. Kế đến năm 1955, Sài Gòn lại tiếp tục làm thủ đô cho miền đất từ vĩ tuyến 17 trở vào của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Trong nửa đầu thập niên 1950, phố xá Sài Gòn bắt đầu có biến đổi một ít so với thời kỳ trước 1945. Nhiều công sở trung ương, công sở ngoại giao, nhiều phố phường thương mại mọc lên. Sài Gòn bắt đầu có cấp quận. Người các tỉnh đổ về tỵ nạn chiến tranh và kiếm sống gia tăng làm thành phố từ 500 ngàn dân tăng lên gấp đôi, gấp ba. Nhiều khu ổ chuột, định cư tạm bợ ra đời: Bàn Cờ, Vườn Chuối, quận 4… Những con kênh lớn như kênh Tàu Hũ bị nhà dân lấn chiếm hai bên bờ. Thành phố phát triển trong chiến tranh, không giữ được quy hoạch cũ, mau chóng xộc xệch.
Từ 1955 đến 1965, Sài Gòn có mười năm yên bình để phục hồi lại vẻ yêu kiều trước chiến tranh. Song sau đó, mười năm kế tiếp từ lúc có những xáo trộn chính trị dồn dập, quân Mỹ đổ vào, cường độ chiến tranh gia tăng khốc liệt thì Sài Gòn bước qua một giai đoạn phát triển gấp gáp. Sài Gòn trở nên một thành phố có đủ sự lãng mạn, cái đẹp vốn có từ thời thuộc địa Pháp đến những dấu ấn mới tự do theo kiểu Mỹ. Cùng lúc đó, Sài Gòn lại phải mang vào những tác động thô bạo và tàn bạo của chiến tranh. Song cũng chính vào thời kỳ phát triển với nhiều mâu thuẫn như thế, Sài Gòn vẫn được thế giới biết đến như một thành phố có sức sống đa dạng, mạnh mẽ, năng động. Tất cả các hoạt động và thành tựu kinh tế, văn hóa, giáo dục, giao lưu quốc tế của Sài Gòn, nhất là con người Sài Gòn, phong cách Sài Gòn có được từ 1865-1975, đã trở thành một tài sản quý giá không thể thiếu, một dấu ấn không thể bác bỏ khi lịch sử sang trang.
Sài Gòn với vốn liếng lịch sử hơn 100 năm đi ra biển lớn, hơn 100 năm đấu tranh và xây dựng đã trở thành một cái tên tự hào chung cho cả nước. Sài Gòn còn là một cái tên quốc tế đã thành danh, một thương hiệu được tin cậy trong và ngoài nước. Những thế hệ Việt Nam đương đại và sau này có hiểu biết được bề dày độc đáo của Sài Gòn mới có thể yêu Sài Gòn sâu hơn nữa. Và không thể không đồng thuận với những thế hệ trước về việc giữ gìn và tôn vinh những giá trị đẹp của Sài Gòn, từ những hàng cây cho đến những kiến trúc và cảnh quan độc đáo, từ những con người cá tính và đóng góp phong phú, từ những ý tưởng và cách nghĩ, cách làm phóng khoáng. Sài Gòn đã và đang có những giá trị quốc gia và quốc tế không thay thế được. Hãy yêu Sài Gòn hơn nữa, đừng để Sài Gòn bị lãng quên và sa chân vào những tai ương trên những con đường phát triển đô thị thiếu tầm nhìn. Đừng để Sài Gòn trở thành một đô thị vắng tên trên bản đồ thế giới!

Bill Nguyễn, triệu phú IT gốc Việt

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bill Nguyễn, triệu phú gốc Việt đi lên từ hai bàn tay trắng
Theo Tô Đức – Zing News – 3 May 2015
Xuất thân nghèo khó khi sinh ra trong một gia đình lao động nhập cư vào Mỹ, Bill Nguyen đã tự hứa khi lớn lên sẽ không bao giờ để bản thân phải sống khổ thêm một lần nào nữa
Trở thành triệu phú nhờ biết cách tiêu tiền của người khác
Năm 1992 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong cuộc đời Bill Nguyen. Chàng trai trẻ đến từ Houston, khi đó 21 tuổi, bắt đầu hành trình trở thành triệu phú khi đảm nhiệm vai trò điều hành tại Forefront. Forefront là công ty phần mềm mà chỉ 6 năm sau đã có giá trị lên tới gần 150 triệu USD.
Tiếp tục con đường, gặt hái thành công trong vai trò điều hành 2 công ty khác là Freeloader và Support.com, song chỉ tới khi thành lập Onebox năm 1999, tên tuổi của Bill mới thực sự được biết tới rộng rãi. Đó cũng là lần đầu tiên, Bill sáng lập một và làm chủ một công ty của riêng mình, theo ghi nhận từ FastCompany.
Onebox được thành lập một cách tình cờ. Bắt nguồn từ ý tưởng “gửi fax qua mạng Internet”, Bill tìm đến các công ty đầu tư mạo hiểm để tìm nguồn vốn thực hiện kế hoạch. Onebox đã trở thành một “cú nổ” lớn vào thời điểm đó, khi trang web này giúp các tổ chức, cá nhân gửi các bản fax ảo một cách dễ dàng.
Chỉ sau 18 tháng, Bill bán Onebox với giá 850 triệu USD. Trước đó, tổng số tiền Bill huy động được để gây dựng Onebox chỉ vẻn vẹn 60 triệu USD. Đây cũng là thương vụ thành công nhất của Bill cho tới thời điểm này.
“Có thể ví Bill như một chiếc máy bay. Anh ta biết cách cất cánh một công ty, và cũng biết khi nào nên hạ cánh”, một nhà đầu tư từng làm việc với Bill nhận xét. Thương vụ Onebox đã giúp tên tuổi chàng trai này nổi tiếng và được các nhà đầu tư chú ý.
Sau đó, mặc dù không thực sự thành công với Lala và đặc biệt là ColorLabs, Bill Nguyen vẫn được biết tới như một cái tên mà các nhà đầu tư “không mảy may nghi ngờ”. Thương vụ Lala với số vốn huy động 35 triệu USD, mặc dù không được coi là thành công, vẫn mang về 80 triệu USD khi được Apple mua lại vào năm 2009.
Không muốn lớn lên trong cảnh nghèo khó
Bill không thực sự có mối quan hệ êm ả với cha mẹ mình, những người vốn là dân nhập cư vào Mỹ. Lớn lên trong gia đình những người có thu nhập thấp, sự nghèo khó từ nhỏ đã luôn ám ảnh Bill.
“Tôi lớn lên với suy nghĩ sẽ không để mình tiếp tục có cuộc sống thiếu thốn. Tôi trăn trở và suy nghĩ rất nhiều”, Bill hồi tưởng về thời thơ ấu. 16 tuổi, anh đã chuyển ra ngoài sống tự lập và bắt đầu tham gia những công việc kinh doanh nhỏ đầu tiên.
Năm 16 tuổi, anh kiếm được những khoản lớn đầu tiên với công việc bán hàng, mà cụ thể là xe hơi cũ. Số tiền kiếm được từ công việc này đủ cho chàng trai trẻ trang trải tiền nhà, học phí, và, thậm chí mua được một chiếc Porsche.
Thời gian học đại học, Bill đồng thời đảm nhiệm công việc phân tích tài chính cho American Express, công ty hiện nắm giữ 24% lượng giao dịch tín dụng tại Mỹ. Bỏ học giữa chừng, song 3 năm kinh nghiệm làm việc trong ngành tài chính đã giúp anh biết mình phải làm gì để có thể thành công trong tương lai.
“Bill có khả năng thuyết phục người khác tin vào những gì anh ta nói, cũng như sẵn sàng bỏ tiền ra để mua chúng. Anh ta là nhà thương thuyết giỏi nhất tôi từng biết”, Ross Bott, cựu CEO của Onebox nói. Chính khả năng này đã giúp Bill thành công trong rất nhiều dự án sau này của mình, khi anh thuyết phục được các nhà đầu tư bỏ tiền túi ra để hỗ trợ.
Trăn trở khi chưa thể trở thành tỷ phú
“Luôn tràn đầy năng lượng” là cụm từ người ta thường sử dụng để nói về Bill. Người đàn ông nhỏ con với cân nặng chỉ trên dưới 61 kg này có thể thức xuyên đêm làm việc. Và ngay sáng hôm sau, anh đã cầm vợt chơi bóng bàn với nhân viên. Đã 44 tuổi, song Bill vẫn tràn đầy năng lượng như một chàng trai 20.
Sự hăng hái, năng động của Bill đã thuyết phục được các sinh viên da màu khi họ bầu chàng trai này vào vị trí chủ tịch của hiệp hội sinh viên gốc Phi khi còn học đại học. Bill không có chút liên quan nào về nguồn gốc với lục địa đen, và điều này càng khẳng định sự đặc biệt của triệu phú này.
Điều trăn trở lớn nhất đối với Bill lúc này, là việc chưa thể trở thành tỷ phú. “Đúng là điều đó làm tôi suy nghĩ rất nhiều”, triệu phú này nói trong một bài phỏng vấn với FastCompany. “Tôi có khả năng chịu đựng gian khổ giỏi hơn bất kỳ ai khác, và sẽ tồn tại lâu hơn, bởi vì tôi có thể”