Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

Kinh Tế và Chính Trị Xứ Lạ

Nguồn : Vững Đại Phát 
Kinh Tế và Chính Trị Xứ Lạ
Alan Phan
1 May 2015
Dù Mỹ không có ngày lễ vào 30/4 hay 1/5, các đối tác từ châu Á của tôi đều quay về nhà, cho tôi chút thảnh thơi bất ngờ từ hôm nay. Thật thú vị khi buổi sáng mùa xuân, nắng ấm lên, ngồi ăn sáng ở ban công, nhìn thiên nhiên rộng rãi bao dung quanh mình. Lá lại trổi xanh, những cánh hoa magnolia đã rụng hết, thay vào là những hàng cây phượng tím, bàng bạc ký ức về tình yêu học trò. Chỉ những khoảnh khắc khi tâm hồn có dịp chùng xuống, trong yên tĩnh, mới thấy đời đẹp đến thế nào.
Có lẽ các bạn BCA cũng đã nhiều lần tận hưởng những ân phúc “miễn phí” này, khi quyền lực, danh vọng, tài sản, ham muốn…đều tạm biến vào hư không, cho chúng ta “sống” thực với con người của mình.
Tuy vậy, hạnh phúc lúc nào cũng chóng qua. Quay về bàn làm việc, trả lời các Emails cần thiết, liếc qua những tin “xe cán chó” trên những trang mạng Mỹ, Việt….tự nhủ sao thiên hạ có nhiều thì giờ để quan tâm đến các rác rưởi này nhỉ? Rồi đọc những comments trên GNA, Facebook…đôi khi bật cười với những ấu trĩ của các ngài Dư Luận Viên. Hơi ngạc nhiên vì nghe nói nhà nước đang thiếu hụt ngân sách, không biết tiền đâu lại moi ra để gia tăng số lượng Dư Luận Viên? Trung Quốc có đạo binh hơn 400 ngàn chiến sĩ mạng, Việt Nam chắc cũng có hơn 50 ngàn? Đủ thành lập vài sư đoàn bảo vệ Trường Sa thay vì trả lương để các bạn trẻ này chém gió trên mạng?
Những phản hồi của các bạn này thường rất dễ đoán: copy và paste các khẩu hiệu, tuyên truyền…từ báo Nhân Dân nên không liên quan gì đến đề tài thảo luận; mỗi comments phải gồm vài chữ “phản động”; yêu nước là phải yêu đảng, yêu Trung Quốc; và lời khuyên thú vị là “ông già Alan” chỉ nên viết hay cho đăng những bài về kinh tế (theo họ, ở Việt Nam, chính trị và quyền lực hành xử rất độc lập với mọi diễn biến của xã hội…?).
Tôi nhớ có đọc một cuốn sách về nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản Trung Quốc, trong đó Mao Chủ Tịch có vài hướng dẫn cho ban Tuyên Giáo Trung Quốc, đại khái là các đồng chí phải luôn luôn kèm theo những ví dụ sống thực trong những tiểu luận về chính trị về kẻ thù. Không có chuyện thì cứ “bịa” ra, nói chung chung, đừng ghi rõ chi tiết hay thời điểm địa danh (không ai kiểm chứng được). Miễn là ví dụ phải kích động tâm lý quần chúng, gây xúc cảm cao độ. Lập đi lập lại liên tục năm này qua tháng nọ, mọi lời nói dối ngu xuẩn nhất cũng đều trở thành sự thực….
Thực ra, chắc Mao cũng chỉ học phương thức tuyên truyền từ Goebbels của Đức Quốc Xã; hay từ các đàn anh Liên Xô trước đó. Câu diễu nhạo thịnh hành thời đó là Liên Xô có 2 tờ báo : Pravda (Sự Thật) và Izvestia (Tin Tức). Pravda thì không bao giờ có tin tức và Izvestia thì không bao giờ có sự thật.
Ngoài ra, các bạn Dư Luận Viên còn phải hiểu tâm lý là ông già Alan cũng như các đối tượng đánh đấm của các bạn khá bướng bỉnh; luôn luôn làm ngược lại những lời khuyên hay khích tướng.
Nhưng thực ra, có nhiều lý do để tôi không muốn viết về kinh tế Việt Nam:
- Tôi hoàn toàn không tin vào những số liệu từ thống kê hay từ các tài liệu biên soạn (đúng ra là sáng tác) từ các bộ ngành hay doanh nghiệp công, tư. Phần lớn vận hành kinh tế toàn cầu hiện nay đều dựa trên “số liệu” và nếu một bác sĩ biết kết quả thử máu của bệnh nhân là ngụy tạo, thì ông không ngu dại gì để chẩn bệnh hay điều trị.
- Ngoài số liệu, các doanh nhân hay chuyên viên còn dựa dự đoán trên những quyết định của chính quyền và trên trào lưu thay đổi về nhu cầu của thị trường. Hai yếu tố cần: hệ thống chính trị phải “mở” và “kết” với sự tham gia của nhiều nhóm ảnh hưởng; và người tiêu dùng phải có đầy đủ phương tiện và khả năng để thay đổi nhu cầu. Đây là 2 yếu tố không có ớ Việt Nam.
- Mặc cho bao nhiêu tuyên cáo, khuyến nghị, bàn luận…về tái cấu trúc kinh tế (hay chính trị), cơ chế quyền lực và hệ thống ban phát bổng lộc cho phe nhóm…không bao giờ thay đổi; ngay cả sau thời “mở cửa” để cứu nguy. Tôi không tin là nền kinh tế chỉ huy có thể cạnh tranh trong môi trường tự do liên thông của thị trường toàn cầu. Và tôi không nghĩ là nhà cầm quyền muốn thay đổi điều gì trừ khi sự “sống còn” bị đe dọa.
- Hiện giờ, các doanh nghiệp FDI chiếm đến gần 70% của xuất khẩu cũng như tổng lượng sản xuất của Việt Nam. Sự lệ thuộc này sẽ gia tăng thêm khi các hiệp thương tự do (free trade agreements) như TPP, AFTA với Asean, EAEC với Nga, EU, Korean…bắt đầu thực hiện. Phần còn lại của miếng bánh, 30%, thì đã có các tư bản thân hữu và doanh nghiệp nhà nước chia nhau. Cho nên, phân khúc tư nhân sẽ nhỏ hẹp và co cụm không đáng kể trong bức tranh tổng thể. Nếu phân tích hướng đi của kinh tế Việt Nam, chúng ta sẽ có một kết quả chính xác hơn nếu nghiên khảo đào sâu vào khuynh hướng phát triển của FDI, hay tư bản đỏ hay doanh nghiệp nhà nước.
- Thực ra, nhiều đọc giả của GNA cũng không mấy quan tâm đến kinh tế hay chính trị vĩ mô. Những bài viết về kinh tế hấp dẫn với họ là những dự đoán về giá cả chứng khoán, bất động sản, vàng, cách kiếm tiền nhanh vả gọn nhất ….Tôi không phải là chuyên gia về các lĩnh vực này, nhất là sau khi đã mất tiền liên tục ở Việt Nam.
Trên 2 sàn chứng khoán, người kiếm tiền phải là “insider” và dĩ nhiên các đội lái tàu không đăng “quảng cáo”. Bất động sản thì nhiêu khê vì quá nhiều phân khúc và sản phẩm, trong đó yếu tố “địa phương” mang tầm quan trọng nhất. Tôi chỉ biết cảnh báo người mua hãy coi chừng các đồn thổi, đầu cơ và nợ cao…Nếu có khởi nghiệp, các bạn trẻ nên giới hạn mục tiêu ở Việt Nam rồi tìm cách nhân rộng “business model” ra các nước lân cận hay Âu, Mỹ, Úc.
&&&&&&
Nếu nói chuyện kinh tế không được thì phải lảm nhảm về đề tài gì nhỉ? Chuyện thú vị trong tuần rồi là một học sinh 11 tuổi ở Maryland đã sửa lưng TT Obama trong cuộc gặp tại lớp học của em. Trước các bạn học và mạng truyền thông quốc tế, chú bé Osman đã ngắt lời Obama vài lần và ông Obama phải gãi đầu,” có lẽ tôi nói hơi nhiều”. Trong 85 năm qua, tôi cũng rất mong đợi một cậu bé nào biết bảo các ông già “lãnh tụ”, hãy “shut up”.
Một anh bạn trong nhóm Newport Country Club ghé ngang mời đi ăn trưa. Gia tộc anh là người Mỹ đi trên thuyền Mayflower (nhóm tị nạn Âu khai phá Mỹ quốc). Giàu có, thuộc cánh bảo thủ đảng Cộng Hòa, ghét Obama. Trước khi đi, ông hí hửng,” Mày có đọc về chuyện ông TT Việt Nam vừa chửi Mỹ là dã man, phạm bao nhiêu tội ác ở Việt nam không? Việt Nam chỉ biết có Trung Quốc là ân nhân trong mọi tình huống? Đúng là một cái tát vào mặt Obama, vào cái pivot quay về châu Á của ông Tổng Thống và bọn liberals ngây thơ của đảng Dân Chủ. Tao đã nói, Mỹ chỉ nên làm ăn trực tiếp với Trung Quốc, 2 bên phải là đồng minh chiến lược về business. Tránh khiêu khích Trung Quốc và hãy để họ giải quyết các đàn em quanh xứ họ”.
Bữa ăn trưa bây giờ có thể hào hứng hơn vì tôi đang chuẩn bị một tranh luận với anh bạn này. Ít nhất nó sẽ không buồn tẻ như nói chuyện kinh tế Việt Nam với một doanh nhân tử tế.
Alan Phan

Nghề Bồi Bút

Nguồn : Vững Đại Phát 
Nghĩ về chuyện cầm bút và bồi bút
Tác Giả: VietTuSaiGon – RFA – 3 May 2015
Trong vài ngày trở lại đây, kể từ khi lễ kỉ niệm “40 năm giải phóng miền nam” bắt đầu rục rịch cho đến khi nó kết thúc, rồi sang ngày Báo Chí Thế Giới, báo chí ở Việt Nam xuất hiện khá nhiều nhân vật “gương mẫu”, tiêu biểu, từ các đồng chí cựu chiến binh xuất hiện trên truyền hình với những chuyện xuất thần cho đến các đồng chí xuất hiện trên báo, nếu không xuất thần thì cũng xuất chúng, nói chung là xuất…!
Câu chuyện đầu tiên phải nói đến đồng chí Lái, một cựu quân nhân Bắc Việt, từng có thành tích đang bị thương nhưng thấy địch tới, liền xé vải băng vết thương ngay tức thời và nhờ một đồng chí trinh sát kéo giùm khẩu 37mm Canon tới để tiếp tục chiến đấu.
Cái hay ở chỗ loại súng này phải được một tổ tám người nam và mười đến mười hai nữ thanh niên xung phong vừa hè vừa kéo theo từng nhịp mới có thể di chuyển được bởi nó có trọng lượng trên 2000kg khi đứng không và có thể lên đến trên 2500kg khi mang cơ số đạn bên mình nó. Vậy mà một đồng chí trinh sát đã nhanh chóng kéo bốn khẩu lại vị trí chiến đẩu để đồng chí Lái cho “nổ”. Kết quả là có mấy tên địch nữa đi toi!
Chuyện này khá buồn cười bởi nó không thể có thật, người ta nổ đến mức một ông lính Cộng sản có thể ngang với thần thánh, trong phút chốc làm Phù Đổng Thiên Vương. Nhưng thời đại bây giờ không phải như ngày xưa mà khó tìm kiếm thông tin để đọc, để biết về đặc điểm cũng như tính năng của loại vũ khí tương đối cũ hoặc phổ biến nào đó như 37mm Cannon. Vậy mà anh nhà báo tác giả bài viết vẫn hồn nhiên viết bài, gửi đăng và người biên tập, đặc biệt là đồng chí tổng biên tập vốn dĩ có thói quen săm soi từng chữ cũng hồn nhiên cho đăng. Bài hot mà!
Kết quả là câu chuyện chém gió này gây trò cười cho không ít người và một lần nữa nó làm nhiều người cảm thấy buồn, thậm chí tổn thương bởi sự trung thực đã biến mất (chí ít là) trong người cầm bút (này). Bởi vô hình trung, một cách hết sức tự nhiên, một lần nữa, khái niệm bồi bút lại được nhắc đến, nó cho thấy người cầm bút không những cẩu thả, thiếu lòng tự trọng mà còn thiếu cả những kiến thức rất cơ bản trước khi xây dựng một câu chuyện (dù là chuyện để tô son, trét phấn).
Đương nhiên, trong cái buồn cũng có cái vui, bởi lẽ, qua đó, độc giả một lần nữa xác tín về những gì họ hoài nghi, nhìn thấy ở giới cầm bút nhà nước, họ không còn phải phân vân hay lưỡng lự trong chuyện có nên chọn thông tin báo chí nhà nước để làm tiêu điểm truyền thống troing cuộc sống hằng ngày hay không? Và nhiều người chắc chắn đã có câu trả lời dứt khoát, tránh tình trạng nấn ná, lưỡng lự. Đó cũng là cái hay.
Câu chuyện thứ hai, cũng là chuyện nâng bi cho nhân vật, nhưng có khác câu chuyện thứ nhất. Ở câu chuyện thứ hai, nói về một viên công an ở thành phố Đà Nẵng trong đêm sau lễ hội bắn pháo bông, anh đã cúi xuống nhặt rác bỏ vào bao tải giúp người phu quét đường. Và bài báo này xem đây là hành vi đẹp, hết lời ca ngợi viên công an này.
Mới đọc qua cũng thấy rằng xã hội Việt Nam lộn xộn cỡ nào và cách định nghĩa cũng như hiểu về chức năng công việc của một nhà báo như tác giả bài báo này bị cụt cỡ nào. Bởi chức năng cơ bản của một công an không phải là đi nhặt rác. Đương nhiên việc này cũng không thừa nếu như anh ta thực hiện chức năng của mình đầy đủ và nếu thấy thừa thời gian, anh có thể giúp người khác, đó là chuyện rất bình thường, giống như hàng triệu con người khác đang giúp đỡ nhau trong xã hội, chẳng có gì đáng bàn.
Nhưng ở đây, có hai vấn đề, thử hỏi, công an Việt nam có bao giờ làm đúng và đủ chức năng bảo vệ an ninh cho nhân dân? Nếu không muốn nói là họ từng đánh chết người, từng cưỡng chế nhân dân và từng “thấy là hốt liền” những người biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm lãnh hải Việt Nam.
Hơn nữa, nếu là chuyện bình thường thì có gì đáng nói? Sao lại phải ca ngợi như thế? Phải chăng bài báo này muốn lột trần sự xấu tệ của ngành công an và xem hành vì của viên công an trên là một sự bất thường, là tiêu biểu hay gì gì đó?
Khả năng thứ hai là lột trần cái xấu có vẻ như không xãy ra. Nhưng khả năng viết bài để ca ngợi “công an nhân dân” là chắn chắn có. Trong khi đó, một nhà báo, khi ca ngợi một vấn đề gì đó, trước nhất phải coi lại bản chất cũng như sứ mệnh và chức năng của đối tượng. Khi mà ngay trong chức năng, sứ mệnh của bản thân chưa bao giờ trọn vẹn lại đi diễn trò để được ca ngợi là chuyện quá tệ, không đáng bàn, thậm chí đáng khinh.
Ngược lại, nếu như đối tượng đã làm xong chức năng, sứ mệnh của bản thân và muốn chia sẻ thời gian rảnh rỗi của bản thân bằng cách giúp một ai đó thì cũng là chuyện bình thường. Trừ khi xã hội đó không bình thường, cách định nghĩa xã hội của người chứng kiến sự việc cũng không bình thường thì cái nhìn của người ta trở nên bất thường và bất kì việc cỏn con nào cũng xé cho to.
Và hơn hết, khi xã hội quá hiếm chuyện tốt, hiếm nghĩa cử hay hành vi tốt, một chuyện cỏn con cũng mang ra ca ngợi, nhào nặn nó thành một hành vi tiêu biểu hoặc một hiện tượng có tầm vóc thì rõ ràng là xã hội đó bất ổn. Và kẻ ca ngợi, thần thánh hóa nó quá thiển cận, nếu không muốn nói là đánh mất lòng tự trọng cũng như khả năng nhận định giá trị con người thông qua chức năng và sứ mệnh của công việc ở một người cầm bút.
Điều này chỉ chứng minh rằng báo chí nhà nước vốn quen ca ngợi của Việt Nam hiện tại đã trở nên trơ trẽn và không còn khả năng căn bản nhất của báo chí là ghi chép thực tại, nhìn nhận và đánh giá thực tại bằng một cách nào đó khách quan nhất.
Ngày Báo Chí Quốc Tế, tự dưng thấy báo chí Việt Nam vừa có chút gì đó khôi hài, lại vừa có điều gì đó thật khó nói, chí ít là cũng khó nói về giá trị, phẩm cách của người cầm bút nhà nước trong hiện tại. Thật đáng buồn và khôi hài!
VietTuSaiGon

Bướm Việt Trong Đêm Mã Lai

Nguồn : Vững Đại Phát 
Những cánh bướm đêm dập dìu trong bóng tối
Mặc Lâm, phóng sự từ Malaysia – RFA – 2 May 2015
Nếu người Việt hải ngoại tự hào với con phố Bolsa nơi có Little Saigon mà họ gọi một cách thân thương là Sài Gòn nhỏ thì khách du lịch từ Việt Nam sang Singapore có thể ghé quán Little Việt Nam nằm trên đại lộ Guillemard gần với con lộ Geylang để thưởng thức các món thuần Việt, hay xa hơn, tại Kuala Lumpur, một quán Little Việt Nam khác nằm trên đường Jalan Alor sẽ làm người xa nhà ngạc nhiên vì ở thành phố mà món ăn do người Hoa làm chủ nhưng một quán ăn nhỏ bé Việt Nam lại có thể đông đúc như vậy.
Một bài toán không lời giải
Singapore và Malaysia không những chỉ có nhà hàng mang tên Little Việt Nam mà nó còn những thứ Việt Nam khác đang sinh hoạt tại hai quốc gia này. Sự nhộn nhịp khi đêm xuống của một cộng đồng các cô gái từ các nước trong đó nhiều nhất là Việt Nam sang bán dâm đang là một bài toán không lời giải cho các tổ chức quan tâm về vấn đề buôn người trên khắp thế giới.
Singapore cũng giống như Thái Lan, cho phép thành lập các khu đèn đỏ hoạt động dưới sự kiểm soát trong một chừng mực nào đó của chính phủ. Khu Keong Saik trước đây và Geylang hay Joo Chiat bây giờ được vận hành bởi những hội kín của người Hoa. Giống như các hoạt động mãi dâm bất hợp pháp, dù hợp pháp chăng đi nữa thì nguồn hàng mới vẫn cần tìm kiếm, dụ dỗ có khi lừa bịp để cung cấp cho khách làng chơi. Việt Nam đã có sẵn đường giây lâu đời của các má mì người Việt lẫn Hoa hoạt động mà hơn một lần báo chí Việt Nam khui ra là xuất phát từ Trung Quốc.
Những cô gái Việt sang Singapore phần lớn đi một mình được sự hướng dẫn bằng điện thoại từ Geylang. Chấp nhận ra đi cô sẽ được ứng trước một số tiền tương đương 1.000 đô la Mỹ và sau đó mỗi tháng cộng với tiền lời 20% khiến cô khó mà trả hết số nợ ngày một tăng cao này. Ở Singapore các cô còn phải cạnh tranh với các cô gái đến từ nhiều nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka ngay cả với Campuchia nữa nên thu nhập không thể đủ để thanh toán các khoản chi tiêu trong đó có món nợ của các má mì đàn ông lẫn đàn bà, đa số là người Tàu nói tiếng Việt.
Khác với Singapore, chỉ cần băng qua biên giới thì thành phố Johor Bahru của Malaysia sẽ chào đón các cô gái Việt với nhiều cơ hội thành công hơn.
Johor Bahru có không ít tụ điểm về đêm và mặc dù là một quốc gia Hồi giáo trên 60% tín đồ, Malaysia tỏ ra khoan dung hơn Indonesia và các quốc gia hồi giáo khác.
Điểm đặc biệt mà người ta có thể nhận ra không cần bàn cãi đó là phụ nữ của quốc gia này không bán dâm trong tất cả các khu vực ăn chơi. Phụ nữ Mã ra phố trong trang phục phương Tây lẫn trong những khăn choàng của Hồi giáo. Những chiếc hijab choàng đầu sặc sỡ làm cho đất nước này xinh xắn hơn so với những bộ trang phục màu đen lạnh lùng và khép kín.
Bộ luật Sharia của Hồi giáo Malaysia không bao giờ tha thứ cho việc mua bán dâm. Đây là tội ác và báng bổ thần thánh có thể bị ném đá đến chết hay ít nhất cũng phạt roi cho tới tàn tật cả đời
Công việc mà người phụ nữ Malaysia cho là đáng xấu hổ này lại là nguồn khai thác cho các cô gái Việt. Nếu so với Singapore thì Malaysia là chốn thiên đàng cho nghề mãi dâm mặc dù lâu lâu cũng có một vụ càn quét của cảnh sát Mã. Cách đây ít lâu vào đêm 19 tháng 12 năm 2014 quán The Zone ở đường Ibrahim Sultan, thành phố Johor Bahru cảnh sát đã bắt giữ một số gái Việt nhưng các cô lại xuất hiện vài ngày sau đó và ánh đèn của The Zone tiếp tục nhấp nháy trở lại.
Từ Johor Bahru, 184 cây số về hướng Nam là thành phố cổ kính Malacca. Nơi đây ban ngày du khách không thấy hình dạng nào của sự ăn chơi nhưng khi màn đêm buông xuống thì những tụ điểm lên đèn và trong những quán bar đó toàn những cô gái Việt Nam ngồi rót bia cho khách với một thứ ngôn ngữ duy nhất là tiếng Hoa.
Khách làng chơi tại Malacca hầu hết du lịch tour từ nhiều nước của cộng đồng nói tiếng Hoa như Đài Loan, Macau, Hongkong, Singapore và dĩ nhiên nhiều nhất vẫn là Trung Quốc đại lục. Tất cả những quốc gia nói tiếng Hoa ấy được các cô gái Việt gọi chung là người Tàu hay tiếng Tàu và khi giao tiếp với họ chỉ cần học vài tiếng phổ thông là đủ.
Chấp nhận hoàn cảnh
Giống như hầu hết các quán Bar nổi tiếng khác của Malaysia, tại Malacca tiếp viên được chia 20 Ringgit (tiền Mã) khi khui được 5 chai bia cho khách với giá bán 25 Ringgit một chai, tương đương với 7 đô la Mỹ. Mỗi đêm nếu may mắn có nhiều khách tiền khui bia có thể lên tới 50 đô la đó là chưa kể tiền bo khi ngồi với khách.
Tuy nhiên hiếm khi cô gái nào chịu ngồi với khách mà không rủ rê họ để bán dâm. Nếu có nhan sắc và giỏi tiếng Tàu thì có thể ngồi với khách nhưng thiếu hai yếu tố này thì con đường duy nhất kiếm tiền là phải bán thân. Không ít người trong các cô gái ấy là công nhân xuất khẩu lao động, họ đến từ khắp nơi trên đất nước Việt Nam chứ không riêng gì gái miền Tây như định kiến của báo chí trong nước. Do việc làm không đủ họ bỏ trốn ra ngoài làm chui và con đường mãi dâm đến với họ không phải là khó khăn dưới sự săn đuổi của những cô gái giống như họ nhưng bây giờ đã trở thành mối lái do tuổi tác hay bệnh tật.
Một cô gái kể lại hoàn cảnh khó khăn khi đi lao động tại Malaysia, từ Ayer Hiltam cách Malacca 40 cây số cô nói:
“Nói chung là theo hoàn cảnh nào phải chấp nhận. Gia đình khó khăn thì bên này phải chịu khó làm kiếm tiền giúp gia đình. Chồng cháu bị tai nạn ở chân không đi làm được cháu phải sang đây làm. Cháu ký hai năm nhưng hơn năm thì công ty không có việc nên lên đây làm chui. Làm có tiền rời mới tính sau này nhờ các anh này làm giấy tờ rồi về.”
Không phải ai cũng chịu đựng như cô Lam, một cô gái khác gốc gác Thanh Hóa cho biết con đường mà cô theo từ khi sang Malaysia 2 năm về trước:
“Nhà em ngoài Bắc thì làm lúa làm rẫy, trồng mía trồng trà làm ruộng. Lần đầu tiên thì con bạn hồi đó đi làm công nhân nhưng hồi đó lương thấp thấy bạn đi về nhiều tiền nên ham. Nó nói cho số điện thoại bên đây rồi tự ra sân bay, vé thì nó đặt giúm cứ tự ra sân bay tự đi. Cũng sợ lắm nhưng kệ, đi tới đâu thì điện thoại dẫn tới đấy. Thấy người ta nói chuyện giống như bên Việt Nam xem phim mà không có phiên dịch, chẳng hiểu gì hết cứ lắc lắc không thôi.”
Từ Malacca cách thủ đô Kuala Lumpur 145 cây số là ngôi tháp đôi nổi tiếng Petronas Twin Tower. Dọc bên hông ngôi tháp đôi này là đường Jalan P. Ramlee nơi có hai tụ điểm cũng nổi tiếng không kém ngôi tháp Petronas đó là câu lạc bộ Beach và Thai Club, hai quán bar có chiêu đãi viên toàn người Việt Nam.
Beach nổi tiếng đến nỗi bất cứ xe taxi nào tại Kuala Lumpur cũng đều phải biết. Dáng vẻ sang trọng chứa bên trong hàng trăm cô gái Việt mỗi đêm đã làm cho Beach có tên tuổi so với các nơi ăn chơi về đêm khác của Kuala Lumpur. 80% khách vào đây là người Tàu còn lại là Tây và hiếm lắm mới có vài người đàn ông bản xứ. Những cô gái trẻ từ 18 tới 25 lượn lờ trong quán và sẵn lòng chia sẻ tiếng cười của mình với khách mặc dù trước đó họ có bị chủ nợ đòi hay một cú phone xin tiền từ nhà gọi sang báo tin người thân trong gia đình mang trọng bệnh
Các cô không hẳn là trẻ hết, trong đó cũng có người mà tuổi tác đã làm cho khách phải kín đáo nhăn mặt. Trang là một cô gái như thế mặc dù tuổi chưa quá 35 nhưng sự lo âu đã nằm trọn trên đuôi mắt. Nói với chúng tôi trước chai bia sắp cạn Trang kể:
“Có bà chị kêu em qua nấu ăn cho đào, phụ nấu ăn cho nhà bả. Qua nấu ăn thời gian thì kinh tế bả khó khăn bả nói thôi giờ nghĩ nấu ăn đi vì đào nó ăn tự túc hết rồi, vậy thì thôi giờ em đi làm luôn đi. Ba tháng sau học tiếng, ráng học. Nói chung còn thiếu bả 3.000 giờ ráng làm để trả.”
Sau một hồi chạy quanh đâu đó, Trang trở lại bàn và kể nhiều hơn về gia đình cô tại Long An, trong đó động cơ thúc đẩy cô sang Malaysia chính là chồng mình do đã liên tục sách nhiễu tình dục đối với người vợ đã quá kiệt sức sau những giờ làm việc tất bật, Trang kể:
“Bây giờ nói chung em không biết may giày nhưng mà cách xếp giày thì em biết hết rồi, giày Nike đó chuyên nghiệp về giày Nike. Cứ 6 giờ là có mặt và ngày nào cũng tăng ca bắt buộc phải tăng ca tới 7 giờ sau 7 giờ ngày em tăng ca thì nhà em gần nhà mấy chị hàng bông, trước khi làm Nike nhà em bán hàng bông mà, sau giờ đó thì em chở ra chợ em sang rồi 7 giờ tới 8 giờ em về tới nhà. Cơm nước giặt đồ quay qua quay lại tắm rửa con cái ngủ hết thì em lặt ớt. Lặt ớt tới 11-12 giờ khuya ngủ được một miếng tới 3 giờ em dậy đi bán rồi.
Nói chung là nó đòi quan hệ. Thật sự thì quá mỏi mệt luôn ngày nào cũng như ngày nấy làm sao chịu nỗi? Em mới nói một tuần em chỉ cho quan hệ một lần vợ chồng ai cũng vậy không có ai quan hệ nhiều, phụ nữ mà.”
Đối diện xéo góc với Beach là Thai Club, có lẽ do một người Thái làm chủ. Phong cách Thái lộ rõ khi bên hông của quán bar này là một chiếc miếu thờ Phật bốn mặt mà trước khi vào quán các cô gái Việt ghé vào thắp nhang thành kính cầu xin cho buôn may bán đắt. Sát với Thái Club là quán bán thức ăn Việt Nam có tên Tiệm Cà Phê Việt Nam. Ngôi quán nhỏ nhắn có nhân viên người Việt rất dễ thương trải lòng mọi chuyện xảy ra tại đây để khách thấy được bức tranh tổng thể cuộc sống của hàng ngàn cô gái Việt đang bơi lội trong chiếc ao nhỏ bé mang tên Kuala Lumpur để bán thân xứ người.
Từ con đường Jalan P. Ramlee đến một con đường nhỏ khác có tên Jalan Alor không bao xa các cô gái thường ghé một quán Việt Nam ở đó để ăn uống, tán gẫu trước và sau khi làm việc tại Beach hay Thai Club. Quán nhỏ, bán nhiều thức ăn Việt và khách chủ yếu là công nhân xuất khẩu lao động hay những cánh bướm đêm của Việt Nam. Người ta có thể thưởng thức một tô phở nóng đặc trưng Hà Nội hay bánh hỏi heo quay đặc sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chủ quán có vẻ biết khai thác tâm lý người xa quê khi không quên một món mà không người miền Nam nào lại không biết đó là bánh mì Việt Nam.
Trước cửa quán là chiếc xe bánh mì đầy thịt ba rọi, xíu mại, thịt nướng cùng rau chua khiến hình ảnh một Sài Gòn trong lòng bùng dậy ấm áp xoa dịu chút gì đó trăn trở và chen lẫn hối hận của các cô gái tha phương
Họ như những cánh bướm đêm, sặc sỡ và lười biếng từ ăn nói tới đi đứng, chuyện trò. Có lẽ họ quá mỏi mệt khi phải đối phó với nhiều thứ bên cạnh việc hằng đêm phải làm chuyện mà không người đàn bà nào muốn. Những khuôn mặt của nhiều vùng quê Việt Nam từ Cà Mau đến Thanh Hóa, Lạng Sơn…tại đây họ không còn phân biệt vùng miền mà chính yếu sự phân loại ấy nằm ở trong ruột những cuốn hộ chiếu mang giòng chữ Hộ chiếu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các con dấu ở phi trường hay cửa khẩu của Malaysia sẽ nói lên người cầm nó trong tình trạng nào, hợp pháp hay bất hợp pháp trước pháp luật của Malaysia.
Nghị định khung miễn thị thực Visa trong khối ASEAN được ký từ năm 2006 cho phép thời gian lưu trú của công dân các nước trong khối ASEAN không quá 14 ngày đối với Brunei và Myanmar, không quá 21 ngày đối với Philippines, không quá 30 ngày đối với Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Thái Lan Việt Nam và Singapore.
Ba mươi ngày nhập cảnh vào các nước Đông nam á là khoảng thời gian mà ASEAN tính tới nhằm ngăn chặn tệ nạn lao động chui qua con đường du lịch. Thời gian ít ỏi không cho phép người nước khác mua vé máy bay trở về nhà rồi tiếp tục sang làm việc với một lần nhập cảnh mới. Tuy nhiên sự tính toán này tỏ ra không hiệu quả đối với lao động xuất khẩu của Việt Nam và lại càng không thể áp dụng với các cô gái hành nghề mãi dâm đang tràn ngập đất nước Malaysia.
Cầm trên tay cuốn hộ chiếu chưa một lần đóng dấu không ít các cô gái Việt Nam bây giờ mới biết sự quan trọng của những trang giấy trắng tinh này. Từ Việt Nam có cô nhờ luôn công ty môi giới làm sẵn hộ chiếu cho mình, khi lên máy bay cuốn hộ chiếu ấy do người đại diện công ty cầm giữ, bước xuống phi trường về tới chỗ làm việc họ cũng không có cơ hội nhìn thấy nó vì chủ nhân giữ lại để tránh việc họ trốn ra ngoài làm chui.
Con đường của một cuốn hộ chiếu theo chân công dân Việt còn lắm gian nan nữa nếu chủ nhân của nó có ý định trốn lại Malaysia để làm việc bất kể tình trạng di dân bất hợp pháp của mình.
Sự liều lĩnh ấy dù sao tồn tại được cũng nhờ vào các mánh khóe cộng với sự tiếp tay của các nhân viên chính phủ của hai nước cấp và chấp nhận hộ chiếu Việt Nam. Các cô gái hành nghề mãi dâm trên toàn đất nước Malaysia có cùng một cách để ở lại cho dù tấm hộ chiếu của họ thuộc loại nào. Có ba loại hộ chiếu cùng xuất hiện tại đây: Hộ chiếu chết, hộ chiếu chốt và hộ chiếu trắng.
Hộ chiếu chết là hộ chiếu đã hết hạn từ lâu nhưng chủ nhân của nó không buồn ngó ngàng gì tới cho đến khi có ý định trở về Việt Nam thì tính sau. Hộ chiếu “chốt” là khi hết hạn người cầm nó quay về Thái Lan, sau đó nhập cảnh lại vào Malaysia để có con dấu thị thực mới. Hộ hiếu trắng là người cầm nó quay hẳn về Việt Nam làm một cuốn hộ chiếu mới để quay lại Mã.
Cô gái đến từ Thanh Hóa tên Thuần cho biết cách mà một người muốn vào lại Malaysia qua việc đi chốt, tức là đi đóng dấu tại cửa khẩu Malaysia và Thái Lan:
“Đi chốt (hay chốp) là cứ một tháng đi một lần. Thí dụ như mùng bốn tháng trước mùng bốn tháng này là một tháng nhưng phải đi trước khoảng 27-28 chứ không để tới mùng bốn. Hai bảy hai tám ra bến xe mua vé đi Thái. Từ Malacca sang tới Thái Lan sáng hôm sau qua khỏi cửa khẩu của Mã xong rồi vô Thái nhập cảnh trong Thái đi chốt là qua Thái xong nhập cảnh vô Mã Lai lại thì tốn ít tiền chứ vể Việt Nam qua lại rất khó. Ba tháng mới về nhà về Việt Nam một lần. Bên này đi chốt sang Thái thì ba lần phải về Việt Nam xong quay sang bằng hộ chiếu mới. Về Việt Nam đổi passport mới xong lại quay sang đi chốt tiếp.”
Nếu hộ chiếu quá cũ thì đi chốt sẽ bị từ chối và có thể vào tù. Có hai cách để tránh tình trạng đi chốt liên tục mỗi tháng. Cách thứ nhất đóng dấu nhập cảnh giả, cách thứ hai quay về việt Nam làm hộ chiếu mới hay hộ chiếu trắng.
Cách thứ nhất có rất nhiều người theo vì ít tốn kém hơn nữa cảnh sát Mã có hỏi thì cũng không biết được con dấu giả hay thật ngoại trừ nhân viên của sở di trú dưới tên tắt là ZELA.
Theo cô Thuận thì cô chọn cách thứ hai vì chỉ với một số tiền vừa phải là có thể an tâm quay lại Malaysia mà không sợ pháp luật gõ cửa:
“Mình không muốn bản cũ nên đổi cái mới. Ra Hà Nội đổi thì có hai trăm ngàn nhưng mà lâu và lằng nhằng lắm. Môi giới thì nhanh cho tiền chúng nó là xong. Làm đổi mới chỉ trong ngày lấy thì một triệu ba. Nếu ba ngày lấy thì 600 ngàn còn nửa tháng mới lấy thì 200 ngàn.”
Không có tiền như các cô gái sống về đêm, công nhân xuất khẩu lao động mỗi khi muốn trở về Việt Nam thì cách duy nhất là nhờ môi giới với đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia, một công nhân người Phú Thọ cho biết:
“Thì chúng cháu phải nhờ môi giới ở đây để đưa lên Đại sứ quán người ta làm thù tục giấy tờ cho bọn cháu về. Có nghĩa là trả tiền người ta lo cho mình về chắc cũng tầm 2 nghìn hay 2 nghìn mốt gì đó. Hai nghìn đó thì bọn cháu phải làm việc trong 3 tháng.”
Vài ngày trước, hôm thứ ba ngày 21 tháng 4 năm 2015 một cuộc hội thảo mang tên Xây dựng chương trình hành động phòng chống mua bán người giai đoạn 2016-2020 do Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm của Chính phủ tổ chức tại TP.HCM cho biết mỗi năm có 5.000 phụ nữ sang Singapore và Malaysia hành nghể mãi dâm. Con số này thật ra đã bớt xuống nếu so với thống kê của Cơ quan di trú Malaysia cho biết có ít nhất 18 ngàn người hành nghề mãi dâm trong đó gái Việt Nam là hơn 8 ngàn người.
Đầu năm nay một quán bar tại vùng Sitiawan bị cơ quan ZELA ập vào bắt giữ hơn 40 cô gái Việt nhưng chỉ sáng hôm sau hầu hết các cô đều được chủ nhân chuộc ra và diễn tiến này lập lại sau đó hai tháng đối với hai câu lạc bộ Beach và Thai Club tại Kuala Lumpur.
Luật Malaysia quy định nếu bị phát hiện nhập cảnh và ở quá thời hạn người cầm hộ chiếu sẽ bị giam giữ hai tháng sau đó trục xuất về nơi xuất phát. Tuy nhiên ít có người bị giam hay trục xuất vì đa số đã được lót tay để cho qua và tiếp tục ở lại hành nghề.
Chính phủ cũng không thể truy tố chủ nhân các quán bar về tội buôn người cho dù chỉ cần bằng chứng họ cho mượn tiền và buộc phải làm việc cho họ là đủ cấu thành tội phạm. Lý do là không một cô gái Việt nào dám nói ra sự thật vì sợ trả thù và cũng sợ hết đường làm ăn. Hơn nữa đối với các nạn nhân thì việc má mì cho mượn tiền xuất phát từ lòng tốt và truyền thống người Việt không nên lấy oán trả ơn.
Những ký sinh sống bám vào mồ hôi của các cô gái Việt dưới nhiều hình thức: cho thuê nhà, cho vay lấy lãi, môi giới hộ chiếu, môi giới bán dâm…tất cả đều là dạng buôn người nhưng nếu tìm người chứng thì không ai dám đứng ra vì hệ thống dày dặc của bang hội người Hoa.
Đã từng có vụ giết người được cảnh sát cho là bịt miệng nhân chứng xảy ra và hình ảnh cô gái Việt Nam nằm chết sóng xoài trong một quán bar đã khiến hầu hết các cô gái Việt chết khiếp.
Mạng lưới mafia hay đường dây buôn người tại Mã chưa bao giờ bị phát hiện mặc dù liên tục bị cảnh sát theo dõi. Giống như hầu hết các tổ chức buôn người trên thế giới, những đồng tiền hối lộ luôn là đồng tiền khôn và sự thật hiển nhiên không một quốc gia Đông nam á nào lại từ chối việc được hối lộ.
Nhưng có lẽ sức mạnh đồng tiền mới chính là lý do khiến các cô im lặng. Thu nhập một đêm tại Beach hay Thai Club có thể từ 1 tới 2 trăm đô la Mỹ đã vây hãm thân thể họ trong vòng tròn son phấn. Cho tới khi son phấn phai nhạt thì con đường trở thành má mì dẫn dắt các cô gái khác lại tiếp tục làm cho vòng tròn sinh sản của những cánh bướm đêm sang một chu kỳ khác.
Bốn mươi năm đã qua kể từ ngày Văn Cao sáng tác bài Mùa Xuân đầu tiên, người Việt những tưởng cái mùa xuân đáng ao ước ấy sẽ vĩnh viễn trở về trên đất nước Việt Nam. Có đâu 40 năm đã qua mà mùa xuân chỉ xuất hiện về đêm, qua những cánh bướm tả tơi nơi thành phố xa lạ và không hề được thông cảm cho nhịp đập của những đôi cánh ấy.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Thời Gian và Sức Khoẻ Hay Quyền Lực và Tiêu Thụ?

Nguồn : Vững Đại Phát
Thời Gian và Sức Khoẻ Hay Quyền Lực và Tiêu Thụ?
Alan Phan
26 Jan 2015
Nước và không khí, hai yếu tố tối cần cho mọi đời sống, đã trở thành những đống rác toàn cầu – Water and air, the two essential fluids on which all life depends, have become global garbage cans – Jacques Yves Cousteau)
Theo Bloomberg, Tổng Thống Obama có thể mất 6 giờ trong tuổi thọ của ông chỉ vì ông đã viếng thăm New Delhi (Ấn Độ) trong 3 ngày qua. Số lượng PM2.5 (những phân tử nguy hại từ không khí) mà ông hít thở tính ra sẽ giảm tuổi thọ của một người bình thường khoảng 2 giờ mỗi ngày, tương đương với việc hút liên tục 8 điếu thuốc lá, theo cách tính của nhà thống kê David Spiegelhalter của Đại Học Cambridge.
Thực ra, trong thời gian công du của ông Obama, không khí Delhi tương đối tốt hơn thường nhật. Chỉ số PM2.5 chỉ ở mức 76 đến 84 micrograms/mét khối. Chỉ số ô nhiễm trung bình của thủ đô Delhi là 153 micrograms.
Theo chuyên gia Pháp, Jacques Moussafir, tại Việt Nam, cụ thể hai khu vực ô nhiễm nhất là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, chỉ số trong ngày lúc nào cũng ở mức 152-156. Còn vào giờ giao thông cao điểm phải lên tới gần 200 điểm.
Cuối tuần qua, tôi phải cặm cụi làm tính lại cho các số liệu tài chánh trong năm 2014 để khai thuế lợi tức cá nhân cho IRS (sở thuế Mỹ). Lịch du hành của tôi gồm 116 ngày ở Việt Nam: nếu tính theo Spiegelhalter và Moussafir, thì ngoài số tiền thua lỗ tại Việt Nam, tôi cũng đã mất thêm 6 giờ mỗi ngày hay 29 ngày trong năm. Với sổ tuổi 69 này, cái nào quan trọng hơn: thời gian hay tiền bạc?
Nói chuyện dân chủ hay tự do ở Việt Nam là điều cấm kỵ với nhà nước; nhưng chắc các quan chức và con cháu họ cũng phải quan tâm đến sức khoẻ và môi trường? Đây là một đề tài cần được thảo luận sâu rộng và những đòi hỏi hành động thực thi vì đó là một nhu cầu tối thiết yếu của mọi người dân.
Alan Phan
http://www.bloomberg.com/…/mr-president-world-s-worst-air-i…
Dali Lama GREAT QUOTE.INBOX)19745
Ô Nhiễm Không Khí : Kẻ Sát Nhân Thầm Lặng
Tổng hợp của Đặng Thiên Yến Nhi – 14 June 2014 – Đời sống pháp luật
Ô nhiễm không khí đang là vấn đề “thảm họa” của nhân loại khi mỗi năm có hàng triệu người chết vì nguyên nhân này.
Theo thông tin mới nhất được công bố gần đây, cứ 8 người chết trên thế giới mỗi ngày thì trong đó có 1 người chết vì ô nhiễm không khí, làm cho tổng số người chết lên đến 7 triệu người riêng trong năm 2012. Đây thực sự là vấn đề đáng lo ngại mà Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vừa cảnh báo, đặc biệt là đối với môi trường ô nhiễm do giao thông, xây dựng, sinh hoạt (đun nấu)… Đáng buồn là Việt Nam nằm trong số những quốc gia ấy.
Dẫn đầu Đông Nam Á
Theo thông tin từ AFP ngày 26/3/2014, tính chung trên toàn cầu cứ 8 người chết thì có một là do ô nhiễm không khí trong năm 2012.
Những thủ phạm gây chết nhiều nhất liên quan đến ô nhiễm là bệnh tim, đột quỵ, bệnh phổi và ung thư phổi. Ngoài ra nó còn để lại những hậu quả lâu dài như khuyết tật bẩm sinh và suy giảm chức năng tâm thần do chất lượng không khí kém.
Số tử vong bao gồm 4,3 triệu người chết do ô nhiễm không khí trong nhà, chủ yếu do đun nấu bằng bếp than, củi. Tác động của ô nhiễm không khí ngoài trời ước tính là 3,7 triệu, với nguôn gây ô nhiễm từ đốt than tới động cơ đi ê zen. Nhiều người phải hứng chịu cả hai dạng ô nhiễm này, và do không thể tách riêng số tử vong nên đã đưa tới con số ước tính chung là 7 triệu người.
Ở châu Phi, số tử vong tính chung là 680.000, trong khi có khoảng 400.000 người chết ở Trung Đông, 287.000 người chết ở các nước châu Âu thu nhập thấp và trung bình, và 131.000 người chết ở châu Mỹ La Tinh do ô nhiễm không khí. Số tử vong ở các nước thu nhập cao là 295.000, với 96.000 ở Bắc Mỹ và 68.000 ở các thuộc Thái Bình Dương gồm Australia và Nhật.
Những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là khu vực Đông Nam Á, bao gồm Ấn Độ và Indonesia, và khu vực Tây Thái Bình Dương, từ Trung Quốc tới Philippines. Những khu vực này có 3,3 triệu người chết liên quan đến ô nhiễm không khí trong nhà và 2,6 triệu người chết do ô nhiễm ngoài trời – với tổng số tính chung là 5,1 triệu.
Còn ở Hà Nội, theo khảo sát của Sở Y tế Hà Nội, 72% hộ gia đình có người mắc bệnh do ô nhiễm không khí. Đây là tỷ lệ quá cao so với các khu vực khác bởi Hà Nội và TP Hồ Chí Minh được nhận định là hai thành phố ô nhiễm không khí nặng nhất.
Ông Jacques Moussafir, chuyên gia người Pháp chuyên cung cấp giải pháp phần mềm tính toán, mô phỏng ô nhiễm môi trường không khí và hỗ trợ dự báo khí tượng khẳng định tại một cuộc hội thảo về cải tạo chất lượng không khí và giao thông đô thị đã khẳng định: “Tại các đô thị lớn ở Việt Nam, ô nhiễm không khí ảnh hưởng tới hoạt động của người dân mọi lúc, mọi nơi, nhất là ở thủ đô Hà Nội. Đây là một trong những thành phố ô nhiễm không chỉ nhất Đông Nam Á mà còn châu Á”. Còn theo một nghiên cứu được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe.
Thủ phạm
Nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng ô nhiễm này, không gì khác các chuyên gia môi trường đánh giá: chính là do giao thông đô thị với lưu lượng phương tiện dày đặc, đặc biệt là phương tiện giao thông cá nhân. Lượng phương tiện giao thông ấy thải ra lượng lớn khí độc hại như SO2, NO2, CO… và tạo ra bụi khí. Người ta đã thống kê, hiện nay trên toàn quốc đã có 37 triệu xe máy và 2 triệu xe ôtô. Tuy nhiên, đó mới là những xe đã đăng ký, còn những xe chưa đăng ký nhưng vẫn lưu hành thì chưa kể (xe máy). Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới vì số xe máy được sử dụng làm phương tiện. Điều đó đồng nghĩa với việc lượng phát thải khí độc từ phương tiện được coi là chính ở Việt Nam rất… khủng khiếp, khác hẳn với những quốc gia phát triển trên thế giới. Trên cơ sở tiêu chuẩn cho phép của thế giới về đánh giá chất lượng không khí (Air Quality Index- AQI), nếu mức độ sạch của không khí từ 150-200 điểm thì đã bị coi là ô nhiễm, từ 201-300 thì coi là cực kỳ cấp bách, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân.
Trong khi đó, tại Việt Nam, cụ thể hai khu vực ô nhiễm nhất là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, chỉ số trong ngày lúc nào cũng ở mức 152-156. Còn vào giờ giao thông cao điểm phải lên tới gần 200 điểm.
Ông Jacques Moussafir cho biết, số điểm nói trên cho thấy một trong những tình trạng ô nhiễm là lượng bụi PM10 (bụi khí) cao gấp 4 lần mức khuyến cáo của WHO. Mà bụi PM10 lại là loại hạt vỡ cỡ rất nhỏ, bay lơ lửng trong không khí, có thể xuyên qua các loại khẩu trang để lọt vào và đọng lại trong phổi, gây bệnh về đường hô hấp cho người hít phải.
Trung tâm Quan trắc môi trường, Tổng cục Môi trường Việt Nam lại đưa ra một con số khủng khiếp hơn khi họ đo được tại nhiều trục giao thông lớn như Khuất Duy Tiến, Phạm Hùng, Nguyễn Trãi, Nguyễn Văn Linh… những khu vực đông dân cư, nồng độ bụi thường cao hơn mức cho phép lên đến 11 lần. Chưa kể đến các khí thải như CO, SO2, NO2… Ông Jacques Moussafir cảnh báo: “Với mức độ ô nhiễm hiện nay và tốc độ tăng số lượng phương tiện giao thông cá ở mức khoảng 15%/năm đối với xe máy và 10%/ năm đối với ôtô, nồng độ bụi ở Hà Nội sẽ có khả năng tăng lên hơn 200mg/m3, gấp 10 lần khuyến cáo của WHO”.
“Đầu độc” bằng khí thải
Không chỉ bụi, phương tiện giao thông còn thải ra các khí độc như đã nói. Từng có một nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng – Thủy văn và Môi trường về môi trường Hà Nội công bố, mỗi năm nồng độ các khí SO2, NO2 trung bình tăng từ 10-60%, nồng độ CO tại các trục giao thông lớn luôn có xe máy và xe buýt lưu thông, lúc nào cũng cao hơn khoảng 5 lần so với tiêu chuẩn cho phép. Nghiên cứu này viết: “Trong khi chất lượng nhiên liệu chưa tốt, chứa nhiều tạp chất tác động đến môi trường, cụ thể là hàm lượng Benzen trong xăng quá cao (5% so với 1%), hàm lượng lưu huỳnh trong diezen cao 0,5-1% so với 0,05% cùng với lượng than tiêu thụ trung bình 250 nghìn tấn/năm, xăng dầu 250 nghìn tấn/năm, đã thải ra một lượng lớn bụi, SO2, CO, NO2, gây tác động xấu đến chất lượng không khí”.
Bên cạnh giao thông, sinh hoạt gia đình với hình thức đun nấu bằng than, củi, xây dựng, hoạt động của các khu công nghiệp cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các nhà khoa học đã nghiên cứu nếu ở Hà Nội, dùng bếp than tổ ong để đun nấu với lượng tiêu thụ trung bình 2kg than/ngày, tức 50-60kg than/tháng thì lượng khí thải của tất cả những gia đình sử dụng hình thức đun nấu này cũng góp phần không nhỏ vào tình trạng ô nhiễm không khí hiện nay.
Hệ lụy khôn lường
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, trong những năm gần đây, các bệnh nhân về đường hô hấp có tỷ lệ mắc cao nhất trên toàn quốc, nguyên nhân chủ yếu là do ô nhiễm không khí gây ra.
Kết quả thống kê cứ 100.000 dân có đến 4,1% số người mắc các bệnh về phổi; 3,8% viêm họng và viêm amidan cấp; 3,1% viêm phế quản và viêm tiểu phế quản.
Các đô thị bị ô nhiễm không khí có tỷ lệ người nhiễm nhiễm khuẩn hô hấp cao gấp nhiều lần so với các đô thị khác. Chẳng hạn ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh nhân lao được phát hiện cao gấp 4-5 lần những địa phương có hoạt động công nghiệp ít phát triển như Bắc Kạn, Điện Biên, Lai Châu.
Ô nhiễm không khí có thể nói là nguyên nhân của rất nhiều bệnh nghiêm trọng dẫn đến hoặc là tử vong lập tức hoặc là “chờ đón cái chết”. Bởi những bệnh liên quan đến ô nhiễm môi trường được các chuyên gia y tế thống kê bao gồm: Đột quỵ, tim, bệnh phổi, ung thư phổi, khuyết tật bẩm sinh, suy giảm chức năng tâm thần do chất lượng không khí kém, tai, mắt…
Ô nhiễm không khí nhìn từ các nguyên nhân phân tích trên đây có thể thấy thủ phạm gây ra chính là con người. Để phục vụ cho đời sống hằng ngày mà quên đi tính bền vững lâu dài, họ đã tự “đầu độc” bầu không khí đang hít thở, tự làm giảm năng lượng sống để rồi đẩy mình vào vòng luẩn quẩn “chết người”.
Đặng Thiên Yến Nhi

Sao quê hương mình già nua đến vậy?

Nguồn : Vững Đại Phát
Các nhà đầu tư thế giới thường nghĩ về Việt Nam như một quốc gia trẻ trung, đang lên và chứa nhiều tiềm năng nhất trong số các thị trường mới nổi. Họ ấn tượng với con số tăng trưởng về dân số, về sự kiện là 58% người VN dưới tuổi 25, và theo nhãn quan của người Âu Mỹ, đây là phân khúc sáng tạo và cầu tiến nhất của bất cứ xã hội nào. Họ tìm đến VN mong những đột phá kỳ diệu và một vận hành năng động kiểu thung lũng Silicon (trung tâm IT của Mỹ ở phía nam San Francisco). Sau vài năm tung tiền mua tiềm năng và cơ hội, họ thường thất vọng và âm thầm bỏ đi. Tại sao?
Những giả thuyết ngây thơ
Họ đã không lầm về những số liệu tạo nên hình ảnh đó. Tuy nhiên, sự phân tích và biện giải về logic của họ vướng phải vài giả thuyết và tiền đề không chính xác. Một người có số tuổi còn trẻ không có nghĩa là sự suy nghĩ và vận hành của người đó cũng phải trẻ trung như số tuổi, nhất là khi họ lớn lên trong một xã hội khép kín, ít tiếp xúc với thế giới.
Tôi còn nhớ một đai gia IT nổi tiếng cũng đã từng kết luân trong một buổi hội thảo về kinh tế là số người sử dụng điện thoại di động ở VN đã tăng trưởng ấn tượng 36% mỗi năm trong 5 năm qua và lên đến 68 triệu người hay khoảng 80% dân số. Kết luận của anh chuyên gia trẻ này là tương lai về công nghệ thông tin của VN phải sáng ngời và sẽ vượt trội các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines…
Đây là những kết luận ngây thơ về thực tại của xã hội. Một người trẻ suốt ngày la cà quán cà phê hay quán nhậu sẽ không đóng góp gì về sáng tạo hay năng động; cũng như vài ba anh chị nông dân với điện thoai cầm tay không thay đổi gì về cuộc diện của nông thôn ngày nay (nông dân vẫn chiếm đến 64% của dân số xứ này).
Tôi thích câu nói (không biết của ai): Tất cả bắt đầu bằng suy nghĩ (tư duy). Suy nghĩ tạo nên hành động, hành động liên tục biến thành thói quen và thói quen tạo nên định mệnh. Định mệnh của cá nhân phát sinh từ tư duy cá nhân, định mệnh tập thể đúc kết bởi suy nghĩ của tập thể.
Tư duy, thói quen và định mệnh
Quên đi góc nhìn cá nhân, hãy tự suy nghĩ về tư duy thời thượng của xã hội này và từ đó, ta có thể nhận thức được những hành xử và thói quen của người dân VN. Bắt đầu từ tầng cấp lãnh đạo về kinh tế, giáo dục và xã hội đến lớp người dân kém may mắn đang bị cơn lũ của thời thế cuốn trôi; tôi không nghĩ là một ai có thể lạc quan và thỏa mãn với sự khám phá.
Những thói quen xấu về chụp giựt, tham lam, mánh mung, dối trá, liều lĩnh, sĩ diện… vẫn nhiều gấp chục lần các hành xử đạo đức, cẩn trọng, trách nhiệm, danh dự và hy sinh. Dĩ nhiên, đây là một nhận định chủ quan, sau một lục lọi rất phiến diện trên báo chí, truyền hình và diễn đàn Internet. Nhưng tôi nghĩ là rất nhiều người VN sẽ đồng ý với nhận định này.
Tôi nghĩ lý do chính yếu của những thói quen tệ hại này là bắt nguồn từ một tư duy già cỗi, nông cạn và nhiều mặc cảm. Tôi có cảm giác là ngay cả những bạn trẻ doanh nhân và sinh viên mà tôi thường tiếp xúc vẫn còn sống trong một thời đại cách đây 100 năm, dưới thời Pháp thuộc. Thực tình, nhiều bậc trí giả đã lo ngại là so với thời cũ, chúng ta đã đi thụt lùi về đạo đức xã hội và hành xử văn minh.
Tôi thường khuyên các bạn trẻ hãy đọc lại những tiểu thuyết của thời Pháp thuộc trước 1945. Họ sẽ thấy đời sống và các vấn nạn của một nông dân trong truyện của Sơn Nam vẫn không khác gì mấy so với một nông dân qua lời kể của Nguyễn Ngọc Tư. Bâng khuâng và thách thức của những gia đình trung lưu qua các câu chuyên của Khái Hưng rất gần gũi với những mẫu chuyện ngắn của nhiều tác giả trẻ hiện nay. Ngay cả những tên trọc phú, cơ hội và láu lỉnh trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cũng mang đậm nét hình ảnh của những Xuân Tóc Đỏ ngày nay trong xã hội.
Ôm lấy quá khứ ở thế kỷ 21
Tóm lại, tôi có cảm tưởng chúng ta vẫn sống và vẫn tranh đấu, suy nghĩ trong môi trường cả 100 năm trước. Những mặc cảm thua kém với các ông chủ da trắng vẫn ám ảnh các bạn trẻ ngày nay. Chúng ta vẫn bàn cãi về những triết thuyết mà phần lớn nhân loại đã bỏ vào sọt rác. Trong lãnh vực kinh doanh, phần lớn các doanh nhân vẫn cho rằng bất động sản và khoáng sản là căn bản của mọi tài sản. Sản xuất gia công và chế biến nông sản vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Một doanh nhân Trung Quốc đã mỉa mai với tôi khi đến thăm một khu công nghiệp của VN, “Họ đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”.
Tôi đang ở tuổi 66. May mắn cho tôi, nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi khác hẳn thời Pháp thuộc. Tôi không cần phải dùng tay chân để lao động, cạnh tranh với tuổi trẻ. Kinh doanh bây giờ đòi hỏi một sáng tạo chỉ đến từ trí tuệ và tư duy đổi mới. Thân thể tôi dù bị hao mòn (xương khớp lỏng lẻo, tai mắt nhấp nhem..). nhưng trí óc tôi và tinh thần vẫn trẻ hơn bao giờ hết. Thêm vào đó, nó không bị phân tâm bởi những hóc môn (hormones) về đàn bà hay những thứ lăng nhăng khác như các bạn trẻ. Do đó, hiệu năng và công suất của sự suy nghĩ trở nên bén nhậy hơn.
Người Mỹ có câu, “Những con chó già không bao giờ thay đổi” (old dogs never change). Do đó, tôi thường không thích trò chuyện với những người trên 40, nhất là những đại trí giả. Nhưng tôi thất vọng vô cùng khi về lại VN và gặp toàn những ông cụ non mới trên 20 tuổi đời: Nhút nhát, cầu an, thụ động, chỉ biết ăn nhậu, và đua đòi theo thời thế. Họ sống như các ông già đã về hưu, họ nói năng như một con vẹt, lập đi lập lại những giáo điều, khẩu hiệu đã hiện diện hơn trăm năm. Họ làm việc như một con ngựa bị bịt kín đôi mắt để chỉ nhìn thấy con đường một chiều trước mắt.
Nhiều người đỗ lỗi cho những thế hệ trứơc và văn hóa gia đình đã kềm kẹp và làm cho thế hệ trẻ này hay ỷ lại và hư hỏng. Cha mẹ vẫn giữ thói quen sắp đặt và quyết định cho các con đã trưởng thành (ngay khi chúng vào tuổi 30, 40..) về những cuộc hôn nhân, công việc làm, ngay cả nhà cửa và cách sinh họat. Hậu quả là một thế hệ đáng lẽ phải tự lập và lo tạo tương lai cho mình theo ý thích lại cuối đầu nghe và làm theo những tư duy đã lỗi thời và tụt hậu.
Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ VN đang lần mò trong bóng tối của quá khứ, với sự khuyền khích của các nhóm muốn giữ quyền lực và bổng lộc. Tôi tự hỏi, sao quê hương mình … già nua nhanh như vậy? Những nhiệt huyết đam mê của tuổi thanh niên bây giờ chỉ dành cho những trận đá bóng của Châu Âu? Tôi nhìn vào những nghèo khó của dân mình so với láng giềng chỉ là một tình trạng tạm thời. Nhưng tôi lo cho cái tư duy già cỗi của tuổi trẻ sẽ giữ chân VN thêm nhiều thập niên nữa. Cái bẫy thu nhập trung bình to lớn và khó khăn hơn mọi ước tính.
T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là gocnhinalan@gmail.com và Web site cá nhân là www.gocnhinalan.com.
T/S Alan Phan, Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Có Một Người Vừa Ra Đi Đêm Nay….

GNA Hoài Niệm Về Nhạc Sĩ Trúc Phương – Thiên Tài và Nạn Nhân của Định Mệnh
(Liên Khúc Mưa Nửa Đêm – Tàu Đêm Năm Cũ – Nửa Đêm Ngoài Phố…
https://www.youtube.com/watch?v=3VuVcgzfY0Y)

Buồn vào hồn không tên
Tác Giả: Tưởng Năng Tiến – Việt Báo – 25 April 2015

Có lần, tôi nghe giáo sư Nguyễn Văn Lục phàn nàn: “Người cộng sản có một sự sắp xếp rất máy móc, đơn giản về con người và sự việc. Hoặc họ coi là bạn, hoặc là kẻ thù của họ. Miền Nam sau 1975 có chiến dịch đi ‘tìm thù’ và biến miền Nam thành mảnh đất hung bạo với những ngữ từ quen thuộc như: Quét sạch, đánh phá, truy lùng, tố cáo.”

Gần bốn mươi năm sau, sau cái chiến dịch “tìm thù” bắt đầu từ năm 1975, có bữa tôi đang ngồi lơ tơ mơ hút thuốc thì chuông điện thoại reo:
- Tiến hả?
- Dạ…
- Vũ Đức Nghiêm đây…
- Dạ…
- Anh buồn quá Tiến ơi, mình đi uống cà phê chút chơi được không?
- Dạ … cũng được!
Tôi nhận lời sau một lúc tần ngần nên tuy miệng nói “được” mà cái giọng (nghe) không được gì cho lắm. Tôi cũng thuộc loại người không biết làm gì cho hết đời mình nên thường rảnh nhưng không rảnh (tới) cỡ như nhiều người trông đợi. Sống ở Mỹ, chớ đâu phải Mỹ Tho mà muốn đi đâu thì đi, và muốn đi giờ nào cũng được – mấy cha?

Khi Mai Thảo và Hoàng Anh Tuấn còn trên dương thế, thỉnh thoảng, tôi cũng vẫn nghe hai ông thở ra (“anh buồn quá Tiến ơi”) y chang như thế. Chỉ có điều khác là ông nhà văn khi buồn thì thích đi uống rượu, ông thi sĩ lúc buồn lại đòi đi … ăn phở, còn bây giờ thì ông nhạc sĩ (lúc buồn) chỉ ưa nhâm nhi một tách cà phê nóng. Ai sao tui cũng chịu, miễn đến chỗ nào (cứ) có bia bọt chút đỉnh là được!

Vũ Đức Nghiêm sinh sau Mai Thảo và trước Hoàng Anh Tuấn. Ông chào đời vào năm 1930. Hơn 80 mùa xuân đã (vụt) trôi qua. Cả đống nước sông, nước suối – cùng với nước mưa và nước mắt – đã ào ạt (và xối xả) chảy qua cầu, hay trôi qua cống. Những dịp đi chơi với ông (e) sẽ cũng không còn nhiều lắm nữa. Tôi chợt nghĩ như thế khi cho xe nổ máy.

Quán cà phê vắng tanh. Nhạc mở nhỏ xíu nhưng tôi vẫn nghe ra giai điệu của một bài hát rất quen:

Gọi người yêu dấu bao lần.
Nhẹ nhàng như gió thì thầm.
Làn mây trôi gợi nhớ chơi vơi thương người xa xôi.
Gọi người yêu dấu trong hồn.
Ngập ngừng tha thiết bồn chồn.
Kỷ niệm xưa mơ thoáng trong sương cho lòng nhớ thương…

- Hình như là nhạc Vũ Đức Nghiêm … Anh nghe xem có đúng không? Tôi đùa.
- Em nói nghe cái gì?
- Anh thử nghe nhạc coi…
- Nhạc của ai?
Tôi chợt nhớ ra là ông anh đã hơi nặng tai nên gọi cô bé chạy bàn:
- Cháu ơi, người ngồi trước mặt chúng ta là tác giả của bản nhạc Gọi Người Yêu Dấu mà mình đang nghe đó. Cháu mở máy lớn hơn chút xíu cho ổng … sướng nha!
Thấy người đối diện có vẻ bối rối vì cách nói vừa dài dòng, vừa hơi quá trịnh trọng của mình nên tôi cố thêm vào một câu tiếng Anh (vớt vát) nhưng ngó bộ cũng không có kết quả gì. Đúng lúc, chủ quán bước đến:
- Cháu nó mới từ Việt Nam sang, ông nói tiếng Mỹ nó không hiểu đâu. Ông cần gì ạ?
- Dạ không, không có gì đâu. Never mind!

Tôi trả lời cho qua chuyện vì chợt nhận ra sự lố bịch của mình. Cùng lúc, bản nhạc của Vũ Đức Nghiêm cũng vừa chấm dứt. Tôi nhìn anh nhún vai. Vũ Đức Nghiêm đáp lại bằng một nụ cười hiền lành và … ngơ ngác!

Tự nhiên, tôi thấy gần và thương quá cái vẻ ngơ ngác (trông đến tội) của ông. Tôi cũng bị nhiều lúc ngơ ngác tương tự trong phần đời lưu lạc của mình. Bây giờ hẳn không còn ai, ở lứa tuổi hai mươi – dù trong hay ngoài nước – còn biết đến tiếng “Gọi Người Yêu Dấu” (“ngập ngừng tha thiết bồn chồn”) của Vũ Đức Nghiêm nữa. Thời gian, như một giòng sông hững hờ, đã vô tình bỏ lại những bờ bến cũ.

Vũ Đức Nghiêm, tựa như một cây cổ thụ hiếm hoi, vẫn còn đứng lại bơ vơ bên bờ trong khi bao nhiêu nhạc sĩ cùng thời đều đã ra người thiên cổ. Trúc Phương là một trong những người này.

Qua chương trình Bảy Mươi Năm Tình Ca Trong Tân Nhạc Việt Nam, nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam đã cho biết nhiều chi tiết vô cùng thê thiết về cuộc đời của người viết nhạc (chả may) này.

Trang sổ tay hôm nay, chúng tôi xin được nắn nót ghi lại đây những nhận xét của Hoài Nam, và mong được xem như một nén hương lòng (muộn màng) gửi đến một người đã khuất:

“Trúc Phương là một trong những nhạc sĩ gốc miền Nam được yêu mến nhất, từng được mệnh danh là ông vua của thể điệu Bolero tha thiết trữ tình. Ông tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, ra chào đời năm 1939 tại xã Mỹ Hoà, quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, tức Vĩnh Bình – một xứ Chùa Tháp thu nhỏ ở vùng hạ lưu sông Cửu Long…”

“Nhạc của Trúc Phương thường buồn, rất buồn. Trong số những ca khúc của ông, hình như, chỉ có hai bản vui. Đó là: Tình Thắm Duyên Quê và Chiều Làng Em. Riêng bản Chiều Làng Em nói rằng vui là so sánh với những sáng tác khác của ông. Chứ Thực ra, bản nhạc này tuy có nội dung êm đềm trong sáng nhưng giai điệu của nó cũng man mác buồn. Không hiểu vì cuộc đời của Trúc Phương vốn nhiều chuyện buồn và đã được ông gửi gấm vào dòng nhạc hay vì ông thích sáng tác nhạc buồn nên riết rồi nó ám vào người, chỉ biết những sáng tác phổ biến nhất, nổi tiếng nhất của ông đều là những ca khúc buồn: Chiều Cuối Tuần, Nửa Đêm Ngoài Phố, Tầu Đêm Năm Cũ, Bóng Nhỏ Đường Chiều…”

Tháng Tư năm 1975, Trúc Phương bị kẹt lại. Năm 1979, ông vượt biên nhưng bị bắt và bị tù. Sau khi được thả, cuộc sống của ông trở nên vô cùng thê thảm về thể xác vật chất cũng như tinh thần. Trong một đoạn video phỏng vấn ông, được Trung Tâm Asia phổ biến tại hải ngoại, Trúc Phương cho biết:
.
“Sau cái biến cố cuộc đời, tôi sống cái kiểu rày đây mai đó, ‘bèo dạt hoa trôi’…Nếu mà nói đói thì cũng không đói ngày nào, nhưng mà no thì chẳng có ngày nào gọi là no… Tôi không có cái mái nhà, vợ con thì cũng tan nát rồi, tôi sống nhà bạn bè, nhưng mà khổ nổi hoàn cảnh họ cũng bi đát, cũng khổ, chứ không ai đùm bọc ai được… đến nửa lúc đó thì vấn đề an ninh có khe khắc, lúc đó thì bạn bè tôi không ai dám chứa tôi trong nhà cả, vì tôi không có giấy tờ tùy thân, cũng chẳng có thứ gì trong người cả. Tôi nghĩ ra được một cách… là tìm nơi nào mà có khách vãng lai rồi mình chui vào đó ngủ với họ để tránh bị kiểm tra giấy tờ…

Ban ngày thì lê la thành phố, đêm thì phải ra xa cảng thuê một chiếc chiếu, 1 chiếc chiếu lúc bấy giờ là 1 đồng… thế rồi ngủ cho tới sáng rồi xếp chiếc chiếu trả người ta… thế là mình lấy 1 đồng về…. như là tiền thế chân… Một năm như vậy, tôi ngủ ở xa cảng hết 9 tháng… Mà nói anh thương… khổ lắm…. Hôm nào mà có tiền để đi xe lam mà ra sớm khoảng chừng năm giờ có mặt ngoài đó thế rồi thuê được chiếc chiếu trải được cái chỗ lịch sự chút tương đối vệ sinh một tí mà hôm nào ra trễ thì họ chiếm hết rồi, những chỗ sạch vệ sinh họ chiếm hết rồi , tôi đành phải trải chiếu gần chỗ ‘thằng cha đi tiểu vỉa hè’, thế rồi cũng phải nằm thôi.Tôi sống có thể nói là những ngày bi đát… mà lẽ ra tôi nên buồn cho cái hoàn cảnh như thế nhưng tôi không bao giờ buồn … Tôi nghĩ mà thôi, còn sống cho tới bây giờ và đó cũng là một cái chất liệu để tôi viết bài sau này…”

Chất liệu, rõ ràng, đã có (và có quá dư) nhưng cơ hội để Trúc Phương viết bài sau này (tiếc thay) không bao giờ đến – vẫn theo như lời của nhà phê bình âm nhạc Hoài Nam:

“Vào một buổi sáng năm 1996, Trúc Phương không bao giờ thức dậy nữa. Ông đã vĩnh viễn ra đi. Tất cả gia tài để lại chỉ là một đôi dép nhựa dưới chân. Thế nhưng xét về mặt tinh thần Trúc Phương đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá.”

“Chúng ta ở đây là những người yêu nhạc, trong nước cũng như hải ngoại, bên này cũng như bên kia chiến tuyến. Bởi vì hơn ba mươi ca khúc nổi tiếng của ông cho dù có một hai bài có nhắc đến chữ ‘cộng hoà’ vẫn phải được xem là những tình khúc viết cho những con người không phải cho một chế độ chính trị nào. Những con người sinh ra và lớn lên trong một cuộc chiến không lối thoát với niềm khắc khoải chờ mong một ngày thanh bình. Cuối cùng thanh bình đã tới nhưng không phải là thứ thanh bình mà những ‘con tim chân chính’ trong nhạc của Lê Minh Bằng hằng mơ ước mà là thứ thanh bình của giai cấp thống trị, của một thiểu số may mắn nào đó. Chính cái thanh bình ấy đã cướp đi bao nhiêu sinh mạng trong đó có người Việt Nam xấu số đáng thương tên Nguyễn Thiện Lộc, tức nhạc sĩ Trúc Phương nổi tiếng của chúng ta.”

Thôi thì cũng xong một kiếp người! Và dòng đời, tất nhiên, vẫn cứ lạnh lùng và mải miết trôi. Sáng nay, tôi lại chợt nhớ đến Trúc Phương sau khi tình cờ đọc được một mẩu tin ngăn ngắn – trên báo Pháp Luật số ra ngày 1 tháng 2 năm 2012:

“Ngày 31-1, một số cán bộ hưu trí, người dân ở phường Bình Hưng Hòa B (quận Bình Tân, TP.HCM) bức xúc phản ánh cuộc họp mặt đầu năm do phường tổ chức … Ngay phần khai mạc lúc gần 9 giờ sáng, trên nền nhạc hip hop, hai phụ nữ ăn mặc hở hang, thiếu vải lên nhún nhảy, múa những động tác khêu gợi. Hai thanh niên múa phụ họa. Quan sát đoạn video chúng tôi thấy nhiều cán bộ hào hứng xem tiết mục ‘lạ mắt’ này. Có cán bộ còn dùng điện thoại quay lại cảnh hai cô gái biểu diễn, ưỡn người và ngực về phía khán giả. Nhiều người tham gia rất hào hứng, chỉ trỏ, thì thầm vào tai nhau…

“Chúng tôi tiếp tục liên lạc với bà Nguyễn Thị Bích Tuyền, Phó Chủ tịch phường kiêm Chủ tịch Công đoàn phường … bà Tuyền lý giải: ‘Tiết mục múa chỉ diễn ra gần 3 phút và đây là vũ điệu theo phong cách Hawaii nên hơi lạ…”

Nếu ngay sau khi chiếm được miền Nam mà quí vị cán bộ cộng sản cũng có được cách “lý giải” tương tự thì thì Mai Thảo, Hoàng Anh Tuấn … đã không phải bỏ thân nơi đất lạ. Vũ Đức Nghiêm cũng đã tránh được những giây phút bơ vơ, ngơ ngác, lạc lõng ở xứ người. Và Trúc Phương thì chắc chắn vẫn sẽ còn ở lại với chúng ta, vẫn có những đêm khắc khoải buồn vào hồn không tên, thay vì nằm chết cong queo trong đói lạnh – trên một manh chiếu rách– với tài sản duy nhất còn lại chỉ là một đôi dép nhựa.

Mọi cuộc cách mạng luôn luôn có cái giá riêng của nó. Riêng cái thứ cách mạng (thổ tả) của những người cộng sản thì đòi hỏi mọi người đều phải trả cái giá (hơi) quá mắc mà thành quả – xem ra – không có gì, ngoài tộc ác! (tnt)

Anh hùng trổ nóc

Nguồn : Vững Đại Phát 
Anh hùng trổ nóc
Tác Giả: Nguyễn Xuân Nghĩa – Người Việt – 27 April 2015
John le Carré là nhà văn khét tiếng về truyện gián điệp sau khi phục vụ ngành tình báo của Anh. Sau năm 1963, cuốn “The Spy Who Came in from the Cold” đưa ông lên đài danh vọng và ông rời cơ quan MI6 để thành nhà văn toàn thời.
Sau đấy, bộ truyện về mấy chục năm đấu trí giữa trùm tình báo George Smiley của Anh với đối thủ là Karla của Liên Bang Xô Viết là pho sách ba cuốn ly kỳ cho người thích đọc truyện gián điệp theo lối nghiêm và buồn, chứ không để giải trí như với điệp viên James Bond của Ian Fleming.
Nhưng vì sao trong một bài bình luận vào dịp 30 Tháng Tư, người viết lại nhớ tới John le Carré?
Vì trong pho truyện ba cuốn, về sau in thành một tập gần ngàn trang, tác giả có nhắc đến biến cố này ở cuốn thứ nhì, The Honourable School Boy, xuất bản năm 1977. Một nhân vật trong truyện dí dỏm so sánh việc Mỹ tháo chạy khỏi Việt Nam như một thanh niên trổ nóc khỏi ổ điếm khi cảnh sát truy lùng!
Như nhiều trí thức uyên bác của Anh, John le Carré không đánh giá cao đệ nhất siêu cường. Quá trẻ trung và hung hăng. Người viết này thấy thú vị nên nhớ mãi ẩn dụ trổ nóc. Không phải là người dân Việt khốn khổ trên mấy bậc thang cuối của sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ mà là một thanh niên bảnh bao như cậu ấm John Kennedy…
***
Người ta có nhiều cách lý giải sự thất bại của nước Mỹ tại Việt Nam.
Trước hết, Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam, chứ không nên luận giải rằng thua me gỡ bài cào, Hoa Kỳ có mưu lớn cho một mục tiêu trường kỳ. Nói vậy thì vẫn chưa khỏi bệnh phục Mỹ.
Theo định nghĩa của Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ tham dự cuộc chiến Việt Nam từ Mùng Một tháng 11 năm 1955 cho tới khi mọi chuyện ngã ngũ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, dù các đơn vị tác chiến Mỹ đã ra khỏi Việt Nam từ năm 1973, sau Hiệp Định Paris ngày 27 tháng 1 năm đó. Từ 1955 đến 1964, Hoa Kỳ đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa về kinh tế lẫn quân sự là ba tỷ 300 triệu đô la. Từ 1965 đến 1975 là 22 tỷ. Tổng cộng là hơn 25 tỷ đô la trong hai chục năm. Và Hoa Kỳ mất hơn 58 ngàn thanh niên trai tráng.
Kết quả là miền Nam rơi vào chế độ cộng sản và đến nay, 40 năm sau, vẫn chưa có tự do. Kết quả là từ 1975, mỗi khi Mỹ can thiệp về quân sự ở bất kỳ nơi nào, thiên hạ lại cảnh báo “coi chừng lại là một Việt Nam nữa.” Kết quả là nhiều quốc gia không còn tin vào nước Mỹ và nhiều đối thủ thì hết sợ, từ Iran năm 1979 đến khủng bố al-Qaeda sau này.
Sau những hứa hẹn, cam kết và tổn thất mọi mặt mà đạt kết quả ấy thì đấy là định nghĩa của thất bại. Vì sao lại như vậy?
***
Vì nhiều lý do lắm. Nhìn từ bên ngoài thì đây là vài lý do đáng ngẫm…
Từ khi quan tâm đến Đông Nam Á vào tàn cuộc của Thế Chiến II, Hoa Kỳ có nhiều mục tiêu dời đổi với Đông Dương và Việt Nam, một vùng đất mà lãnh đạo Mỹ chửa biết là gì. Mỗi khi họ đổi mục tiêu lại áp dụng chiến lược và chánh sách khác, thường thì đơn phương, chẳng báo trước. Từ các tổng thống Roosevelt tới Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson rồi Nixon, Hoa Kỳ có ít ra năm lần thay đổi về chánh sách, khi thì giải thực, khi thì lập tiền đồn be bờ Cộng Sản tại Đông Nam Á, khi thì xây dựng dân chủ, lúc lại kết ước với Trung Quốc, v.v…
Khi nhập cuộc, Hoa Kỳ tự chuẩn bị cho cuộc chiến quy ước cũ, chiến tranh Cao Ly 1950-1953, mà không ý thức được hình thái chiến tranh toàn diện, kết hợp khủng bố với tuyên truyền, khuynh đảo, phá hoại, nổi dậy và sau cùng là trận địa chiến. Hoa Kỳ “Mỹ hóa” cuộc chiến Nam, tổ chức lại quân lực Việt Nam cho hình thái chiến tranh không thích hợp với thực tế của một chiến trường muôn mặt. Vào trận rồi, 12 năm sau là 1962 Hoa Kỳ mới có chiến lược và tổ chức cho cuộc chiến kết hợp quân sự với chính trị. Và 10 năm sau lại “Việt hóa” cuộc chiến, cho tới ngày trổ nóc.
Một lý do thất trận đầu tiên của Mỹ là… quân sự.
Hoa Kỳ tốn kém rất nhiều để be bờ ngăn chặn và ào ạt oanh tạc miền Bắc mà không hiệu quả, cho đến khi biết sử dụng “bom khôn,” từ tháng 4 năm 1972. Đấy là bước ngoặt có thể dẫn tới đại thắng. Nhưng khi ấy, dân Mỹ đã nản chí và lãnh đạo phất cờ cho mục tiêu khác.
Lý do thất trận thứ hai là chính trị.
Khế dễ hiểu. Sơ đẳng là Hoa Kỳ đặt ra tiêu chuẩn khác biệt cho hai miền Nam Bắc.
Lần đầu tiên mới có độc lập trên phân nửa lãnh thổ sau 80 năm thực dân và 10 năm chinh chiến, miền Nam phải có dân chủ! Đấy là một nguyên tắc mà Hoa Kỳ mất gần 200 năm mới tạm hoàn thành, từ 1789 đến 1965. Sự phán xét thiên lệch của truyền thông nông cạn tác động ngược vào dư luận và Quốc Hội khiến Mỹ không thể kéo dài cuộc chiến. Trong khi đó, miền Bắc được chấm một lần, rồi thôi, là cộng sản độc tài, cho nên những chuyện phi nhân nhất cũng vẫn là hợp lý, chẳng đáng nói.
Ngày nay, nhận thức thiên lệch đến bất công ấy vẫn chưa dứt.
Lý do thất trận thứ ba là kinh tế.
Hơi lạ từ một siêu cường kinh tế!
Sau khi tổ chức lại quân đội của miền Nam theo nhận thức nông nổi của mình, Hoa Kỳ tổ chức lại nền kinh tế qua hai kế hoạch viện trợ. Chương trình viện trợ thương mại CIP (Commercial hay Commodity Import Program) là một áp dụng của kế hoạch Marshall để tái thiết Âu Châu sau Thế Chiến II. Khi ấy, Âu Châu là các nước đã công nghiệp hóa, không bị chiến tranh toàn diện như miền Nam bất ổn và chưa phát triển. Đem kế hoạch viện trợ ấy cho Việt Nam dẫn tới hậu quả trái ngược với mục tiêu.
Quốc gia cầu viện là Việt Nam phải tiêu thụ nhiều thì mới có tiền cho ngân sách quốc gia. Trong thời chiến, chỉ có thành thị và vài vùng ổn định mới có khả năng tiêu thụ ấy, khiến xã hội vỡ đôi, với thành phố phồn thịnh và nông thôn rách nát. Việc lính Mỹ gia nhập ồ ạt và viện trợ dồi dào còn dẫn đến nạn buôn lậu đồ PX và tham nhũng từ các tổ chức cấp viện của Mỹ ra tới bên ngoài. Ống kính truyền thông chụp lấy, phóng về cho Quốc hội mù lòa một hình ảnh lệch lạc của miền Nam.
Chương trình kia, PL 480 hay Nông Phẩm Phụng Sự Hòa Bình, là một sự phi lý khác.
Hoa Kỳ kết hợp mục tiêu bảo vệ nông gia ở nhà với mục tiêu an ninh chiến lược ở ngoài: Mua nông sản như ngô bắp thóc gạo hay bông vải của họ để viện trợ các nước đồng minh. Quốc gia cầu viện dùng tiền đó tài trợ ngân sách quốc phòng. Nhưng theo luật Mỹ, nền kinh tế không được chế biến các sản phẩm viện trợ để cạnh tranh với doanh nghiệp Mỹ tại Việt Nam hay bất kỳ nơi nào khác.
Chưa nói đến yếu tố an ninh, cái khung viện trợ ấy cản trở sự hình thành của kỹ nghệ nội địa. Giải pháp tạm bợ đành là “thay thế nhập cảng,” một thời được coi là chân lý kinh tế.
Nam Hàn và Đài Loan ý thức được nhược điểm của viện trợ Mỹ nên tìm cách giải thoát và thoát được vì họ không bị chiến tranh khuynh đảo ngay trong lãnh thổ. Việt Nam thì không. Khi Mỹ cố tình cúp viện trợ thì phải sụp đổ. Lại còn bị Quốc Hội Mỹ nhục mạ với sự phụ họa của báo chí.
Ngày chín tháng 4 năm 1974, Tổng Thống Richard Nixon từ chức để khỏi bị bãi chức vì vụ Watergate. Một quyết định sau cùng của ông là ký đạo luật viện trợ quân sự cho miền Mam một tỷ đô la cho 11 tháng sắp tới. Ngay sau khi ông từ chức, Hạ Viện cắt luôn thành 700 triệu, rồi 500 triệu. Miền Nam được trao trọn gói cho miền Bắc. “Cho thỏa lòng mơ bạn Bắc Kinh.”
Kết luận?
Khi chàng trai trổ nóc, nàng Kiều dại có khóc cũng thừa