Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

Lòng ta trăm con hạc gầy

 Tháng Tư 2015
Tháng Tư thường đem lại nhiều cảm xúc trong những tâm hồn Việt. Cuộc biến động lịch sử quá lớn, sự hòa giải hòa hợp giữa hai bên gần như không có; rồi những thay đổi ngôi vị về tài chính, về cơ hội và thế đứng trên phân khúc dân sinh toàn cầu…của kẻ thắng người thua, đã khiến hố sâu cách trong cộng đồng mỗi ngày thêm xa thẳm….Bất cứ điều gì, nói hay làm, từ mỗi bên đều gây nhiều tranh cãi, thậm chí sẵn sàng xô xát nhau: dù 40 năm đã qua mà mọi người vẫn còn đang sống lại kịch bản kinh hoàng như ngày hôm qua.
Tôi cũng có nhiều điều để chia sẻ, nhưng trong cái gay gắt đau xót của vết thương còn rỉ máu, mọi phát ngôn đều gây ngộ nhận trong giận dữ. Cho nên, có lẽ mọi người nên im lặng, để Tháng Tư chóng qua và chúng ta quay lại với hoài bão đam mê của mỗi cá nhân, ít nhất là chuyện cơm áo gạo tiền cho gia đình.
Định mệnh đã an bài. Những người thao thức muốn nhìn “con thiên nga đen” xuất hiện vẫn tiếp tục nhìn lên bầu trời tối đen chờ ánh sáng. Những kẻ an phận với đời “nô lệ” vẫn ngày ngày chém gió ca hát trong các quán nhậu, cafe. Những con người tranh đấu cho lý tưởng không thỏa hiệp vẫn bỏ thì giờ tổ chức hội họp. Những quan chức lớn và nhỏ vẫn hả hê khi mọi quyền và lợi vẫn được ban phát đều đặn. Những thế hệ trẻ ở hải ngoại thì bận rộn với nhu cầu cuộc sống, nhìn về quê hương chỉ là một điểm du lịch rẻ tiền…
Thời gian sẽ trôi nhanh. Vài ba chục năm nữa, Tháng Tư của quá khứ sẽ không còn mang bất cứ một ý nghĩa gì. Lớp bụi thời gian sẽ phủ mờ mọi dấu tích; và lịch sử sẽ đi theo con đường mà phần lớn chúng ta không đoán nổi.
Vậy chúng ta nên bắt đầu nói đến tương lai chăng?
Đây là điều tôi lại càng muốn im lặng. Phần lớn chúng ta không thể (và không muốn) thay đổi hiện tại thì không có phép lạ nào để tương lai chuyển hướng. Có thể có vài ngoại lực bắt buộc ta phải thay đổi để tiếp tục nhận “cứu trợ”, nhưng khi mình không chủ động trong cuộc chơi, thì cũng giống như một nhân công, nay được giao việc này, mai việc kia, lương bổng phúc lộc có tăng theo thời giá, nhưng trong chuỗi năm tháng dài dằng dặc của ngày mai, ta vẫn chỉ có một nếp sống “hand-to-mouth” (tay làm hàm nhai?)
Quá khứ sẽ mất, tương lai sẽ mù mịt. Có lẽ thế hệ này sẽ sống với hiện tại, như triết thuyết hiện sinh của thập niên 50’s?
Hãy cứ vui chơi cuộc đời
Đừng cuồng điên mơ trăm năm sau
Còn đây em ngọt ngào
Đứng bên ngày yêu dấu (nhạc Trịnh Công Sơn)
Chút an ủi là “em” vẫn ngọt ngào và vẫn đứng đợi bên ngày yêu dấu? Hay chỉ là ảo mộng của những tư duy học trò (mà ngay cả các ông già vẫn không thoát được, như cả trăm năm nay?)
Như các phim Trung Quốc về mưu đồ thủ đoạn ở triều đình vẫn cố gắng cải trang thành huyền thoại lịch sử.
Alan Phan

Mùa mưa và ngày 30.4

 Tác Giả: 5Xu – Blog 5xu - 24 April 2015
Hôm rồi tôi rủ bạn bè: Ngày 30 tháng 4 phải đi uống bia chứ nhỉ, xét cho cùng thì không có ngày này thì hội mình không có ngồi đây.
Thực ra trong nhà, vợ tôi đã nói như vậy từ hồi mới cưới. Không có 30/4 của mấy chục năm trước thì ta không gặp được nhau thế này. Dù rằng mỗi sáng tháng Tư đi chợ Tân Định, về nhà vợ tôi vẫn bảo: ngoài chợ người ta vẫn nhắc hôm nay họ đánh đến đâu, đánh đến đâu. Ở Sài Gòn, ngoài chợ, có những người bình dân vẫn nhớ những ngày tháng tư ấy, thay vì chào nhau buổi sáng người ta nhắc lại những ngày cuối cùng của mấy mươi năm trước.
Nhóm bạn thì tếu táo: Không có ngày này, chắc tôi sẽ là một thằng con ông cháu cha nho nhỏ, đi du học Bắc Hàn. Không có ngày này chắc em đang ở Hà Nội và hô khẩu hiệu Lê Chủ Tịch muôn năm.
Không có ngày này, chắc chúng ta đang dùng ngôn ngữ mao-ít. Chủ tịch Kim Chính Ân, thay vì Kim Jong Un.
Bạn Chính Ân có mái tóc huyền thoại hóa ra hiểu biết về quyền lực và trị quốc hơn chúng ta. Với tư duy hoàn toàn ngây thơ bạn hiểu rằng một đứa trẻ con không thể nào ôm đống đồ chơi khổng lồ của mình được. Sớm muộn sẽ tuột tay và đồ chơi rơi đi hết. Cách tốt nhất là chia cho bạn bè cùng giữ. Chia cho cùng giữ chứ không phải ban phát cho các đứa bé khác trong gia tộc của mình. Nhiều đế chế lớn tan giã chỉ vì hoàng đế cắt đất phong vương cho các gia tộc lớn .
Gần đây nhất, Chính Ân đã đề xuất cách thức biến Triều Tiên thành thể chế Liên Bang. Kim Chủ Tịch không ngớ ngẩn như trong các tranh biếm họa mà ở Việt Nam chúng ta hay share trên FB để chế giễu, chủ tịch Ân có cái gì đó sâu sắc hơn nhiều.
Sinh ra ở khi đất nước đang chia cắt, lớn lên nước vẫn chia cắt, làm chủ tịch rồi vẫn cắt chia, Kim Chính Ân thừa hiểu rằng, một miền bắc lạc hậu hơn có thể xâm chiếm miền nam tân tiến hơn với thể chế cộng hòa chính danh, chứ Nam Hàn văn minh không thể chiếm được một Bắc Hàn có thể chế cộng hòa, nhiều lực lượng chính trị chia sẻ quyền lực một cách cân bằng mong manh (mà gia đình chủ tịch Kim làm miếng quyền to nhất). Cơ chế Liên Bang mà chủ tịch Kim đang nhắm tới đang là nền cộng hòa như thế. Và sẽ không có 30 tháng 4 ngược ở Triều Tiên. Cậu bé Kim sinh năm 1984 du học ở Thụy Sỹ về, hóa ra không phải là đứa con nít. Nếu phải lựa chọn lãnh đạo đất nước giữa hai: “hoặc là con ông cháu cha du học về, hoặc là một tay ở rừng ở núi ra, (chưa kể chả biết bố nó là ai hehe)”, các bạn sẽ chọn ai? Con nhà tông không giống lông thì giống tóc. Hãy nhìn vào Tập Cận Bình.
Từ ngày bạn Tập Béo lên ngôi, từ chối sống yên ả trong cái bóng của Giang chủ tịch với tuyên bố không làm “hoàng đế nhí”, không làm “vua không quyền”, ở Việt Nam hay nghe tới hội nghị Bắc Đới Hà. Nếu đọc sách về Mao Trạch Đông sẽ thấy Bắc Đới Hà là nơi các lãnh đạo Trung Quốc choảng nhau (debate) tan nát thế nào. Cực kỳ quyết liệt. Thế mới khá được. Tiếng Tàu cũng như tiếng Tây, đại từ gọi nhau toàn mày tao. Cứ thử tưởng tượng, ở Việt Nam, đang quen kiểu bác bác chú chú, anh hai anh tư, giờ BCT và TW họp mà cứ mày-tao thẳng cánh trong tranh luận việc đại sự quốc gia, thì chất lượng debate sẽ tiến bộ còn hơn Bắc Đới Hà.
Nói đến Bắc Đới Hà, nhớ đến sách sử viết về xứ Bắc Hà.
Ngày xưa, tất tần tật các phái đoàn ngoại giao nước ngoài đến Việt Nam, đều do Chúa Trịnh tiếp. Riêng đoàn ngoại giao của Trung Hoa tới Thăng Long thì vua Lê tiếp.
Ngạc nhiên chưa, lịch sử nhấp nháy những tia sáng le lói nhiều khi rất hay như thế về hiện tại.
Chế Lan Viên có một câu thơ nhấp nháy lịch sử bí hiểm vãi chưởng: “Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện Vua Lê”. Rất có thể, quanh Hồ Gươm, cái khu Kẻ Chợ danh tiếng ấy, nằm sát Phủ Doãn, là nơi quyền lực của Chúa bao phủ. Nơi ấy nhắc nhau không bô bô bàn những chuyện vốn chỉ khẽ xôn xao trong Hoàng Thành của vua Lê.
Người Kẻ Chợ từ cái thủa Vua Lê Chúa Trịnh ấy đã bắt đầu quen thói buôn chuyện chính trị vỉa hè. Mọi xì xào trong cung Vua, mọi biến động trong phủ Chúa, dân buôn chuyện vỉa hè hóng hết rồi bình luận hết. Ngày nay vỉa hè ấy thượng lên cả internet.
Rất may trên cyberspace không có chỗ thắp nhang.
Việc nghiêm chỉnh thắp nhang và thành kính cầu xin, bỏ qua yếu tố mê tín, quả thực là một việc có ích. Những lúc thắp hương và thành kính xin một điều gì đó, chính là lúc chúng ta tự nhận thức mình thực sự đang mong muốn cái gì, tin tưởng cái gì sẽ đến với mình nếu mình làm hết tâm huyết. Biết mình thực sự muốn gì, mong mỏi nó đến với mình, chắc chắn lúc thực hiện công việc, sẽ hiệu quả hơn rất nhiều. Vậy nên thắp nhang mỗi ngày, không phải chỉ là một thói quen quá ư là mê tín.
Ngày xưa vua quan cũng hay hương khói cúng trời cúng đất mong mỏi điều tốt lành đến với dân với nước. Không biết sau mấy chục năm thay việc thắp hương cho đất nước bằng việc tụng niệm Mác Lê Hồ Mao, kết quả có khấm khá hơn không. Câu trả lời có lẽ hơi bi quan một tí. Ai cũng biết thừa là niềm tin trong cái việc tụng niệm ấy gần như chả có gì.
Ngay cả bạn Tập, trong phát biểu đợt cầu đồng tồn dị vừa rồi, bạn ấy cũng không nói gì đến XHCN nữa. Tất nhiên bạn ấy cũng không nói về 30.4, một ngày kỉ niệm của Việt Nam mà người ngoài, kể cả nước Mỹ đồng minh của miền nam, cũng không bao giờ hiểu cho hết được.
Thực sự năm nào tôi cũng đợi ngày 30.4. Với tôi ngày ấy kết thúc mùa khô với những ngày nóng không thể chịu nổi kéo dài từ sau Tết Âm Lịch, để bước qua mùa mưa mát mẻ hơn nhiều.
5-Xu
Suy ngẫm (Theo Dân Luận)
Thương hại thay! Ngưới nước ta không hiểu cái nghĩa vụ loài người ăn với loài người đã đành, đến cái nghĩa vụ mỗi người trong nước cũng chưa hiểu gì cả. Bên Pháp mỗi khi người có quyền thế, hoặc chính phủ lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của một người hay của một hội nào, thì người ta hoặc kêu nài, hoặc chống cự, hoặc thị oai, vận động kỳ cho đến được công bình mới nghe. Vì sao mà người ta làm được như thế? Là vì người ta có đoàn thể, có công đức biết giữ lợi chung vậy.
Họ nghĩ rằng nếu nay để cho người có quyền lực đè nén người này thì mai ắt cũng lấy quyền lực đè nén mình, cho nên phải hiệp nhau lại phòng ngừa trước. Người ta có ăn học biết xét kỹ thấy xa như thế, còn người nước mình thì sao? Người mình thì phải ai tai nấy, ai chết mặc ai! Đi đường gặp người bị tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ấy không can thiệp gì đến mình.
“Đã biết sống thì phải bênh vực nhau” ông cha mình ngày xưa cũng đã hiểu đến. Cho nên mới có câu: “Không ai bẻ đũa cả nắm” và “Nhiều tay làm nên bột”. Thế thì dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, cũng góp gió làm bão, giụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi lơ láo, sợ sệt, ù lỳ như ngày nay.
— Phan Chu Trinh (Đạo đức và Luân lý Đông Tây)

Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam

 Nguồn : Vững Đại Phát
Tác Giả: Huỳnh Kim Quang – Việt Báo – 24/04/2015
Năm nay 2015, đánh dấu 40 năm (1975-2015) ngày Bắc Việt xâm chiếm Miền Nam. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cuộc chiến Việt Nam dù đã kết thúc trên chiến trường bom đạn nhưng những hệ lụy đau thương của nó còn kéo dài cho đến nay!
Trong số những hệ lụy trở thành vết hằn khó xóa trên thân phận nghiệt ngã của người dân Miền Nam là chiến dịch sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 của Cộng Sản đẩy hơn một triệu trí thức, văn nghệ sĩ và quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vào các trại tù khổ sai mà Cộng Sản gọi một cách mị dân là “trại học tập cải tạo.” Trong những trại tù khổ sai đó, nhiều người đã bị thủ tiêu bí mật, bị xử tử công khai, bị buộc phải làm việc cật lực trong điều kiện đói khát, đau bịnh, không thuốc men, không chăm sóc, bị đối xử bất công và tàn bạo không tình người. Nhiều người đã phải ngồi tù lâu hơn 20 năm. Sau khi được thả ra, hầu hết đều mang thân tật bệnh, suy nhược, quản thúc, theo dõi, thất nghiệp, nghèo đói, và xem như bị đẩy ra ngoài lề xã hội. Trong khi đó, hàng triệu thân nhân, gồm cha mẹ, vợ con của những người tù chính trị này đã phải sống trong hoàn cảnh vô cùng đau khổ bên ngoài trại tù để tranh đấu cho sự sống còn của bản thân và gia đình trong sự bức bách của chính quyền Cộng Sản và sự kỳ thị của xã hội.
Bức tranh toàn cảnh về thân phận bi đát của những người tù chính trị Việt Nam Cộng Hòa dưới chế độ Cộng Sản sau năm 1975 tại Miền Nam đã được nhiều người Việt, gồm những nạn nhân mà cũng là chứng nhân, viết lên trong nhiều thập niên qua. Nhưng số lượng sách bằng tiếng Anh do người Mỹ viết về biến cố này thì vẫn còn quá ít ỏi. Đặc biệt là loại tài liệu nghiên cứu đến nơi đến chốn, chẳng hạn, đến gặp trực tiếp, phỏng vấn và nghe chính các nạn nhân cựu tù chính trị VNCH kể lại đầy đủ chi tiết, do người Mỹ viết bằng tiếng Anh thì lại càng hiếm hơn.
Trong số tài liệu hiếm quý đó có tác phẩm “A Gift of Barbed Wire – America’s Allies Abandoned in South Vietnam” [Tặng Vật Cuộn Dây Thép Gai: Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam] của tác giả Robert S. McKelvey. Sách do Nhà Xuất Bản University of Washington Press ấn hành tại Seattle của Hoa Kỳ và London của Anh Quốc lần đầu vào năm 2002. Sách in bìa cứng, dày trên 260 trang.
Tựa đề tiếng Anh của cuốn sách là dịch từ câu thơ trong bài “Tặng Vật Tỏ Tình” của nhà thơ Trần Dạ Từ sáng tác vào năm 1964 tại Việt Nam:
“Tặng cho em cuộn dây thép gai
Thứ dây leo của thời đại mới.”
(I give you a gift of barbed wire,
Some creeping vine of this new age.)
Ngoài Lời Nói Đầu, Giới Thiệu và Kết Luận, tác phẩm “A Gift of Barbed Wire” của Robert S. McKelvey gồm 2 phần chính: Phần I gồm 4 truyện nói về bản thân của những cựu tù chính trị VNCH; Phần II gồm 10 truyện nói về bản thân những cựu tù chính trị và cha mẹ, vợ con của họ.
Tác giả Robert S. Mckelvey là Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ phục vụ tại Việt Nam từ năm 1969 tới 1970 trong nhiệm vụ sĩ quan Dân Vụ hoạt động tại phía tây bắc thành phố Đà Nẵng, theo ông cho biết trong Lời Nói Đầu của cuốn sách. Ông hiện là giáo sư về môn tâm phân học trẻ em và thanh thiếu niên tại Đại Học Oregon Health and Science University ở Portland. Ông là tác giả của các tác phẩm “The Dust of Life: America’s Children Abandoned in Vietnam” [Bụi Đời: Những Đứa Trẻ Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Việt Nam], và “A Gift of Barbed Wire: America’s Allies Abandoned in South Vietnam” [Tặng Vật Cuộn Dây Thép Gai: Những Đồng Minh Của Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Miền Nam Việt Nam].
Mắt Thấy Tai Nghe
Để viết cuốn sách này, tác giả Robert S. McKelvey đã thực hiện nhiều chuyến đi đến Việt Nam trong thập niên 1980s tiếp xúc trực tiếp và phỏng vấn cũng như chính mắt chứng kiến cuộc sống vất vả khổ cực trăm bề của các cựu tù chính trị VNCH và thân nhân ngay trên mảnh đất quê hương của họ. Trong Lời Nói Đầu của tác phẩm “A Gift of Barbed Wire,” tác giả đã kể sơ về thân thế và sự nghiệp của ông cùng với mối quan hệ của ông với đất nước và người dân Việt.
“Giữa năm 1969 và 1970 tôi phục vụ tại Việt Nam trong nhiệm vụ một đại úy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tôi được phân công làm sĩ quan Dân Vụ, chịu trách nhiệm với “việc chiến thắng trái tim và tâm thức” của người Việt Nam trong khu vực hoạt động của chúng tôi ở phía tây bắc của thành phố Đà Nẵng thuộc miền trung Việt Nam. Công việc này đưa tôi vào việc tiếp xúc hàng ngày với thường dân Việt Nam, hầu hết là nông dân, và đã cung cấp cho tôi quan điểm khác về cuộc chiến hơn là trong trường hợp tôi ở trong trung đội bộ binh, một khẩu đội pháo binh, hay một đơn vị không quân. Trong một ý nghĩa nào đó, tôi hành xử chức năng như một binh sĩ tình nguyện Thủy Quân Lục Chiến hơn là một người lính bộ binh, làm cho tôi dễ hiểu và cảm thông với sự đau khổ của những người Việt Nam bị mắc kẹt giữa các lực lượng đánh nhau.
Sau khi rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1970 tôi trở về nhà để bắt đầu nghề nghiệp mới của một bác sĩ. Tôi học xong trường y khoa năm 1974 và hoàn tất việc huấn luyện làm một bác sĩ tâm thần và bác sĩ nhi đồng vào năm 1979. Trong những năm bận rộn đó tôi ít suy nghĩ về các kinh nghiệm thời chiến tranh của tôi. Rồi trong thập niên 1980s nhiều cuốn sách, phim ảnh, và thảo luận nhằm khảo sát vai trò của Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam đã đánh thức sự thích thú của tôi, và làm cho tôi nhớ lại, Việt Nam. Tôi bắt đầu tìm kiếm cách trở lại Việt Nam và làm việc với người Việt Nam, lần này như là một bác sĩ tâm thần. Tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tại Trung Tâm Chuyển Tiếp Tị Nạn Phi Luật Tân, và tại Hoa Kỳ, tôi nghiên cứu về đời sống của những người Mỹ Á Châu gốc Việt, từ những đứa trẻ sinh ra trong thời chiến tranh tới những người đàn ông Mỹ và phụ nữ Việt Nam.(2) Sau đó tôi nới rộng mục tiêu của mình để bao gồm những trẻ em Việt Nam tại Úc, Hoa Kỳ, và Hà Nội, thủ đô của Việt Nam.”
Cũng trong Lời Nói Đầu của “A Gift of Barbed Wire,” Robert S. McKelvey kể lại về các chuyến đi Việt Nam để sưu tập tài liệu và gặp gỡ phỏng vấn các cựu tù chính trị VNCH và ấn tượng đầu tiên khi chứng kiến tình cảnh bi thương của những cựu tù chính trị.
“Vào năm 1990, thời gian đầu tiên tôi trở lại thăm Việt Nam kể từ lúc phục vụ trong quân đội ở đó, tôi đã mua 2 bức tranh sơn mài.(3) Chúng miêu tả một cách trừu tượng những người đàn bà thanh lịch với mái tóc đen dài phủ xuống chiếc áo dài có hoa màu tím và xanh lá cây, y phục Việt Nam truyền thống. Người bán hàng nói với tôi rằng họa sĩ vẽ bức tranh đó sống gần đây. Tôi quyết định đến thăm ông ấy. Sau khi đi tìm một hay hai giờ đồng hồ qua các đường phố đông đúc và dơ dáy của Thành Phố Hồ Chí Minh, cuối cùng tôi đã tìm ra căn chung cư nhỏ hai tầng vừa là chỗ ở vừa là phòng vẽ tranh của ông ấy. Vợ ông ấy mở cửa và, sau khi xác minh rằng tôi đến đó để xem và có thể mua một vài bức tranh của chồng bà, đã mời tôi vào nhà.

Bà ấy đóng vai trò như là người quản trị phòng trưng bày tranh và dẫn tôi đi xem một vòng, giải thích cách những bức tranh được vẽ và miêu tả một số chủ đề của tranh ảnh. Tôi ngưỡng mộ tác phẩm của chồng bà bao nhiêu, nhiều bức tranh mà sau đó tôi đã mua, thì tôi càng bị quyến rũ bởi cặp mắt sâu và đẹp của bà ấy bấy nhiêu. Với tôi cặp mắt ấy có vẻ được đong đầy với nỗi buồn đau vô hạn. Khi hỏi về bối cảnh hội họa của chồng bà, tôi biết được rằng ông ấy đã từng phục vụ là một sĩ quan Lục Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau chiến thắng năm 1975 của Cộng Sản, chính quyền mới đã bắt bỏ tù ông. Khi tôi hỏi tại sao, bà cho biết rằng đây đã là số phận của nhiều người từng làm việc cho chính quyền cũ. Bà cũng nói vắn tắt về cuộc đời của bà trong thời gian năm năm vắng chồng, mô tả tình cảnh nghèo khổ và bị xã hội cô lập mà bà đã phải chịu đựng và sự chiến đấu sau đó của họ để xây dựng lại cuộc sống sau khi ông được ra tù. Lắng nghe bà kể chuyện tôi bắt đầu hiểu đôi chút về nỗi buồn trong đôi mắt của bà.

Đây là kinh nghiệm đầu tiên của tôi với cựu tù chính trị Việt Nam và gia đình của họ. Tôi đã từng không biết rằng sau khi Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, hơn một triệu người là cựu đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta, trong số hai mươi triệu dân, đã bị đẩy vào các trại học tập cải tạo.(4) Ở đó họ bị bắt buộc đào hào và kênh dẫn nước, trồng trọt, và xây nhà làm đường. Họ được nuôi bằng những khẩu phần chết đói – hai chén cơm, một ít muối, và một chút xíu canh cải mỗi ngày. Vào ban đêm, sau một ngày làm việc cực nhọc, họ bị lên lớp về những lỗi lầm của chính quyền cũ và người Mỹ, về các lý thuyết Mác-Lê, và về những vinh quang của chế độ Cộng Sản mới, được mô tả bởi những cai tù như là “chính quyền tốt nhất thế giới.” Họ cũng bị đòi hỏi phải thú tội về những tội ác quá khứ của họ như là một phần của quá trình học tập cải tạo để lấy cớ là sẽ “chuyển” họ thành “người mới.”(5) Điều đó đã không được tiết lộ với họ cho đến về sau mà những thú tội này tạo thành cơ bản cho những buộc tội thêm nữa để chống lại họ và ngay cả bỏ tù họ lâu hơn.
Cuối cùng được thả từ những trại học tập cải tạo sau khi đã bị bỏ tù từ một tới hơn hai mươi năm, các cựu tù nhân trở về nhà như những người đàn ông chỉ còn da bọc xương. Họ kiệt sức, bệnh tật, và chán ngán sâu sắc chính quyền mới và những ý định thực sự của nó. Có rất ít người, như nhà họa sĩ mà tôi đã gặp, tìm ra được công việc làm đúng với nghề nghiệp mà họ đã từng được đào tạo. Tuy nhiên, hầu hết đã phải sinh sống bằng bất cứ công việc gì mà họ có thể tìm ra, một thứ giai cấp thấp bị khinh khi của những người đàn ông có học thức cao và thông minh với không còn triển vọng cho một tương lai phát đạt tại Việt Nam với chính họ hay với con cháu của họ.
Tôi đã gặp một trong nhiều cựu tù chính trị kém may mắn trong thời gian chuyến thăm Việt Nam sau này. Ông ấy đã từng là một thiếu tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng vào lúc tôi gặp ông năm 1993 thì ông là một người đạp xích lô tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Công việc của ông là đạp xích lô chở những du khách Tây Phương từ các khách sạn sang trọng quanh khu vực thương mại trung tâm qua những chuyến mua sắm hay tham quan. Trong thời gian thực hiện cuốn phim Pháp Indochine (Đông Dương) ông đã là một phu xích lô cho nữ tài tử điện ảnh Catherine Deneuve. Nếu được hỏi, ông sẽ đưa ra một tờ giấy copy được ép nylon của hình bìa tạp chí Paris Match mà ông đã được chụp trong lúc chở nữ tài tử Deneuve trên chiếc xe xích lô của ông. Ông ấy cùng tuổi tôi, và mỗi ngày khi tôi quan sát cái tướng gầy gò mà phải ráng gân cốt để đẩy chiếc xe nặng chở những du khách Mỹ và Pháp to con qua các con đường đông nghẹt người của thành phố, tôi suy nghĩ về những khác biệt trong số phận của chúng ta.
Trong những năm sau khi họ được thả từ các trại học tập cải tạo hầu hết cựu tù nhân đều quyết định rời Việt Nam. Một số đã vượt biên như thuyền nhân hay đi đường bộ xuyên qua Cam Bốt và Thái Lan, trong khi những người khác thì rời khỏi nước theo Chương Trình Ra Đi Trật Tự (ODP).(6) Đến được Hoa Kỳ thì họ lại đối diện thử thách, đặc biệt khó khăn với người già, về việc thích ứng với một quốc gia với các truyền thống văn hóa khác nhau quá lớn. Họ thường không nói được tiếng Anh nhiều và cũng hay bị kỳ thị chủng tộc, định kiến, và kỳ thị trong việc làm. Không như các cựu chiến binh Việt Nam của chúng ta, có ít người Mỹ biết hay quan tâm đến những câu chuyện của họ.

Chẳng có cuốn phim nào nói về cuộc đời họ. Những cuốn sách mà họ đã viết về các kinh nghiệm của họ thì không nằm trong các danh sách bán chạy nhất.(7) Không có phim Miss Saigon để giúp chúng ta hiều sự đau khổ của họ. Ngay cả tài liệu khoa học cũng chỉ viết vài trang trình bày về các vấn đề của họ.(8) Tôi tự hỏi, bằng cách nào họ và những người vợ của họ có thể chịu đựng nhiều thập niên đau khổ kéo dài và lập đi lập lại như thế? Sự đau khổ đó ảnh hưởng đến phát triển nhân cách, sức khỏe tâm thần và triển vọng cuộc sống của họ ra sao? Cái gì còn lại của hy vọng và ước mơ thời trai trẻ của họ? Đây là một số nghi vấn mà tôi tìm kiếm câu trả lời trong tác phẩm này.
Khi tôi bắt đầu tìm hiểu về những cựu tù chính trị của Việt Nam tôi đã biết trước rằng tôi sẽ gặp những người tuyệt vọng và đau khổ đang đau buồn đối với quá khứ và phẫn uất vì tất cả những gì họ đã mất mát. Sau nhiều giờ gặp họ, lắng nghe những trải nghiệm của họ, và rồi suy ngẫm và viết về họ tôi đã, với sự ngạc nhiên của mình, phát giác điều gì đó khác hẳn. Trong khi một vài người trong số mà tôi biết là đau khổ, không có vẻ gì tuyệt vọng, và hầu hết tất cả đều cho thấy khả năng hồi phục rất lớn trên gương mặt của những người dường như bị chấn thương nặng nề.” (Robert S. McKelvey, A Gift of Barbed Wire, University of Washington Press, Seattle and London, 2002, Lời Nói Đầu, trang XI, XII, XIII, XIV)
Đó chỉ là sơ lược về tình cảnh sống của vài cựu tù chính trị VNCH trong số rất nhiều người mà tác giả Robert S. McKelvey đã gặp trong những chuyến đi Việt Nam để chuẩn bị cho cuốn sách này. Phần nội dung dày hơn 260 trang sau đó của cuốn sách mới là những câu chuyện về người thật và việc thật của các cựu tù chính trị VNCH từ lúc gia nhập Quân Lực VNCH chiến đấu bên cạnh đồng minh Mỹ để bảo vệ tự do, dân chủ, cho đến khi Miền Nam sụp đổ, rồi vào tù Cộng Sản sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ra tù, sống lây lất khổ sở, sau cùng đi Mỹ và đối diện những va chạm khắc nghiệt của cuộc sống mới.
Robert S. McKelvey nêu ra 7 trường hợp tiêu biểu cho hàng trăm ngàn cựu tù chính trị VNCH để kể chuyện về họ và thân nhân của họ trong tác phẩm “A Gift of Barbed Wire” gồm, cuộc đời của một bác sĩ, một kỹ sư, một thợ hớt tóc, một gián điệp, một phi công, một thầy giáo, và một chính trị gia. Vì tôn trọng một vài trường hợp mà trong đó người được McKelvey phỏng vấn không muốn nêu danh tánh thực và cũng để giữ sự an toàn cho những người còn lại trong nước, đặc biệt tình hình an ninh khắc nghiệt của người dân tại Việt Nam vào thập niên 1980s, tác giả đã chọn cách không nêu danh tánh thật của tất cả cựu tù chính trị VNCH được kể trong sách này.
Ngày 30 Tháng 4 và Lời Hứa Cuội Của Cộng Sản
Người dân miền Nam, đặc biệt những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, những người còn ở lại Việt Nam và chứng kiến sự kiện miền Nam bị Cộng Sản chiếm, có cảm nghĩ như thế nào trong ngày 30 tháng 4 năm 1975? McKelvey thuật lại lời kể của một cựu phi công Không Quân VNCH tên là Trà kể rằng, “Đó là một ngày kinh hoàng. Chúng tôi mất mọi thứ. Chúng tôi không biết phải làm gì. Một số đơn vị đã chiến đấu đến cùng; những đơn vị khác không tuân lệnh tổng thống Nam Việt Nam [Dương Văn Minh để đầu hàng]. Tôi không biết hàng xóm của tôi là Cộng Sản hay không và không biết họ sẽ làm gì, vì vậy tôi quyết định ở lại với một người bạn ít ngày trước khi về nhà chỉ để thấy điều gì đã xảy ra. Tôi nói với vợ tôi là nơi nào tôi nên ở để vợ tôi không lo ngại. Đêm 30 rất là yên lặng — thật đáng sợ.” Đêm trước thì có nhiều hỏa tiễn và tiếng nổ, nhưng cái đêm đó thì không có hỏa tiễn. Im lặng đáng sợ bởi vì chúng tôi không biết cái gì xảy ra. Sau hai ngày vợ tôi khuyến khích tôi về nhà. Không có gì xảy ra. Tôi không biết làm gì. Tôi không hiểu phải giúp gia đình tôi bằng cách nào.” (Sách đã dẫn, trang 112)
Bi kịch làm thay đổi cả cuộc đời của các quân cán chính VNCH trong các trại tù lao động khổ sai kéo dài hàng chục năm bắt đầu với lời hứa gian dối của chế độ Cộng Sản về thời gian đi học tập cải tạo từ 3 ngày đến 30 ngày. McKelvey thuật lại lời kể của cựu phi công VNCH Thọ như sau:
“Có thông báo [trên đài phát thanh và những cái loa chát chúa] rằng tất cả quân nhân của chế độ cũ đểu phải đi học tập cải tạo. Bạn đựợc cho biết đến văn phòng chính quyền hay trường học và viết lý lịch của bạn, một loại sơ yếu lý lịch. Rồi bạn về nhà và chờ. Sau một tháng có thông báo khác bảo bạn trình diện đi học tập cải tạo. Các sĩ quan, hạ sĩ quan, và những cấp bậc thấp hơn thì được cho biết việc học tập cải tạo của họ sẽ kéo dài 3 ngày và họ có thể về nhà mỗi đêm. Các sĩ quan cấp bậc cao hơn, cấp tá tới tướng, và viên chức chính quyền cao hơn được cho biết việc học tập cải tạo của họ kéo dài lâu hơn và họ phải trình diện tại trường trung học hay đại học gần đó với đầy đủ lương thực và quần áo cho 30 ngày.” (Sđd., trang 112, 113.)
Nhưng rồi hàng trăm ngàn quân cán chính VNCH đã phải ngồi tù lao động khổ sai tới cả chục năm, có người ở tù tới 21 năm, như trường hợp nhà tình báo Sang đã bị bắt ở tù học tập cải tạo từ tháng 3 năm 1975 cho đến năm 1996 mới được thả (Sđd., trang 71).
Những Năm Tháng Trong Tù
Ở tù là một khổ nạn, nhưng ngồi tù Cộng Sản thì lại càng là cực hình khốn khổ không thể tả! Những năm sau 1975 cho đến giữa thập niên 1980s, Việt Nam là một đất nước nghèo đói, lạc hậu và khép kín với thế giới bên ngoài. Vì vậy, chế độ Cộng Sản đã cai trị dân bằng luật rừng, đặc biệt là chế độ đối với các tù chính trị. Các cựu tù chính trị VNCH phải tự xây cất nhà tù để giam cầm chính họ, tự canh tác hoa màu đủ thứ và sung túc nhưng lại bị buộc sống chết đói, và gánh chịu bao nhiêu tàn ác, dã man của chế độ tù Cộng Sản.
Nói về việc ăn uống trong tù McKelvey thuật lời kể của cựu phi công VNCH Thọ như sau: “Trong thời gian năm đầu tại miền Nam chúng tôi ăn cơm độn bo bo. Đó không phải là bo bo bình thường, mà chỉ là loại thô cũ. Chúng tôi cố nấu cho mềm, nhưng nó không ngon chút nào. Qua năm thứ hai tại miền Bắc chúng tôi ăn cơm độn với bắp. Năm thứ ba chúng tôi có sắn khô và đôi khi ăn cơm vào những lễ lớn như Tết. Năm 1978 và 1979 là tệ nhất. Thiếu thực phẩm trên cả nước và nhiều người chết. Vì thiếu thực phẩm họ bắt đầu để gia đình đến thăm nuôi chúng tôi tại các trại tù để họ có thể bổ sung khẩu phần ăn của chúng tôi. Các thân nhân đã mang cho tù gạo, lương khô, và thuốc men.” (Sđd., trang 117)
Ở trong tù, các cựu tù chính trị VNCH không những làm việc cực nhọc, ăn uống thiếu thốn khổ sở mà còn bị đánh đập, hành hạ, và thậm chí giết chết. McKelvey ghi lại lời của cựu phi công Thọ như sau: “Họ nhốt tù trong “chuồng cọp” [một hộp thiết nhỏ giống như cái thùng chở hàng hóa], để nó ra giữa trời dưới ánh nắng mặt trời, và chỉ cho tù một chút thức ăn – 2 ca nước và một tô sắn 2 lần một ngày. Hay họ còng tù vào tường ở cổ tay và mắt cá. Thật là không thoải mái chút nào!” (Sđd., trang 116)
Cựu phi công Thọ còn chứng kiến 2 lần Cộng Sản giết tù chính trị VNCH. McKelvey thuật lại lời Thọ như sau: “Hai lần. Lần thứ nhất là lúc ở trong Nam tại Biên Hòa. Một ông cố trốn trại ban đêm nhưng bị bắt. Ngày hôm sau họ đã xử tội ông. Họ buộc chúng tôi phải nghe phiên xử qua tiếng loa bự. Một giờ sau chấm dứt họ bắn chết ông ấy. Lần thứ hai lúc đã ra Bắc. Ba hay bốn người trốn trại. Sau vài ngày họ bị bắt lại và bị mang trở về trại. Họ đánh một trong những người đó tới chết. Những người khác thì bị đưa đi trại khác.” (Sđd., trang 116)
McKelvey thuật lại lời của cựu tù chính trị là nhà chính trị VNCH tên Hung (tác giả không đánh dấu) kể rằng, “Tôi hỏi có người nào chết trong tù không. “Nhiều! Đói khát và làm việc nặng nhọc làm cho nhiều người bị bệnh. Rất dễ chết. Không phải là tình trạng tinh thần hay cá tính của người tù. Chỉ là không có đủ để ăn và không có thuốc men.” (Sđd., trang 187)
Cựu tù chính trị VNCH là nhà chính trị Hung còn kể chuyện Cộng Sản cực kỳ hung ác hơn nữa với tù chính trị VNCH. Mckelvey thuật lại lời kể của Hung rằng, “Lúc đó chúng tôi ở trại không xa biên giới Cam Bốt. Đó là thời gian Chiến Tranh Việt-Miên. Việt Cộng đặt mìn Claymore [mìn chống cá nhân] chung quanh trại tù. Chúng tôi nghĩ là họ bảo vệ chúng tôi, nhưng họ nhắm mục tiêu mìn Claymore vào chúng tôi! Họ cho biết rằng nếu Cam Bốt tấn công, họ sẽ giết chúng tôi trước bởi vì chúng tôi cũng là kẻ thù của họ.” (Sđd., trang 208, 209)
Sự bức bách và tàn ác của chế độ tù Cộng Sản đã khiến cho người tù chính trị VNCH có lúc không thể im lặng chịu đựng và đứng lên chống lại. McKelvey thuật lại lời kể của một cựu tình báo VNCH là cựu tù chính trị tên Sang về tình trạng nghiêm trọng tại trại tù Hàm Tân vào những năm từ 1976 đến 1980, như sau: “Một ngày kia chúng tôi đi ra ngoài lao động trong một nhóm 40 người tù với một cai tù và 2 người lính. 12 người chúng tôi khống chế cai tù và lấy vũ khí của họ. Chúng tôi có 2 khẩu súng M-16 và một khẩu K-54. Chúng tôi vào rừng đế đến mật khu của những nhóm chống chính quyền đã xây dựng căn cứ cho chúng tôi. Cộng Sản phái 2 trung đoàn lính tới và công an tủa ra 2 tỉnh, Thuận Hải và Đồng Nai, để tìm chúng tôi. Sau 6 ngày tôi bị bắt đầu tiên. 4 ngày sau 9 người khác bị bắt và 2 người bị bắn chết.” (Sđd., trang 85)
Hoàn Cảnh Vợ Con Người Tù Chính Trị VNCH
Các quân cán chính VNCH bị Cộng Sản bắt đi tù học tập cải tạo tất nhiên là chịu rất nhiều thống khổ và đau thương trong những nhà tù nhỏ, nhưng vợ con và thân nhân của họ ở bên ngoài cũng không khác gì một nhà tù lớn với vô vàn gian nan, khổ cực và tủi nhục. Họ vừa phải gánh vác trách nhiệm thế cha và làm mẹ nuôi dạy con cái và buôn bán tảo tần, vừa phải đối mặt với những áp bức của chế độ Cộng Sản và sự kỳ thị của xã hội.
Tác giả Robert S. Mckelvey đã trực tiếp phỏng vấn và ghi lại nhiều trường hợp rất thương tâm của những người vợ con của cựu tù chính trị VNCH. McKelvey thuật lại lời của người vợ của một chính trị gia tên Hung là bà Tho (tác giả cũng không bỏ dấu) kể tình cảnh gia đình sau khi chồng bị bắt đi học tập cải tạo như sau:
“Sau khi ông nhà tôi đi tù tôi phải chăm sóc 7 đứa con của chúng tôi và tiệm chụp hình. Cửa tiệm làm ăn không khá. Chồng tôi là người chính yếu gánh vác việc ấy trước đây, và sau khi ông ấy đi không ai trong chúng tôi biết làm sao để tiếp tục điều hành. Người ta cũng sợ không dám ủng hộ cửa tiệm bởi vì chồng tôi là người đi tù học tập cải tạo. Ngay cả những thân nhân của chúng tôi và người bạn thân nhất của chồng tôi cũng tránh xa. Nó giống như là chúng tôi mắc bịnh nguy hiểm, một thứ bệnh lây nhiễm, và người ta sợ chúng có thể lây lan họ. Họ không muốn dính dáng tới và vướng vào phiền phức với chính quyền.” (Sđd., trang 196)
Những người vợ con cựu tù chính trị VNCH còn phải bị bắt học tập cải tạo tại địa phương. Bà Tho kể với McKelvey rằng, “Mỗi tháng tất cả những bà vợ của những người đàn ông bị tù học tập cải tạo bị đòi hỏi phải đến họp. Mục đích là để cải tạo chúng tôi tại nhà. Họ bảo chúng tôi không được buôn bán và tận dụng lợi thế của người dân. Thực tế họ muốn chúng tôi ở nhà và làm ruộng.” (Sđd., trang 197)
Những người vợ cựu tù chính trị VNCH khóc hết nước mắt hàng đêm vì hoàn cảnh bế tắc và vì Cộng Sản áp bức người quá đáng. Bà Tho kể với McKelvey rằng, “Mỗi đêm tôi đợi mấy đứa con đi ngủ và không thể nghe được, thì tôi khóc bởi vì chúng tôi không có đủ tiền cho tôi đi thăm nuôi chồng tôi. Một ngày sau khi chồng tôi đi tù những người từ chính quyền đến và liệt kê mọi thứ chúng tôi có. Họ lấy một số đồ đạc như máy truyền hình và quần áo của thằng con trai đi lính của chúng tôi. Họ nói rằng đó là “tài sản của nhân dân.” Khi chồng tôi là người chủ gia đình đi rồi, tôi đã bán những gì chúng tôi có để nuôi gia đình. Tôi bán nồi và chảo trước nhà. Ngay cả vậy mà cũng không có gì nhiều để ăn. Thịt và cá thì hiếm khi có. Chúng tôi trộn cà chua với cơm chỉ để làm đầy bao tử.” (Sđd., trang 197)
Điều cực kỳ bất công mà Cộng Sản đã làm với những gia đình cựu tù chính trị VNCH là không cho con cái họ đi học. McKelvey thuật lại lời bà Tho kể rằng, “Thực tế con cái không được phép đi học bởi vì địa vị của cha chúng nó trong chính quyền cũ. Chẳng hạn, con gái của tôi học rất giỏi ở trung học. Sau khi tốt nghiệp cháu muốn vào đại học. Ở đó có danh sách ưu tiên để quyết định ai được nhận. Nếu gia đình bạn là Cộng Sản, bạn đứng đầu danh sách. Nếu họ làm việc cho chính quyền cũ, thì bạn đứng đội sổ. Bởi vì cha và anh của cháu đều đi tù học tập cải tạo, nên cháu đã không được nhận.” (Sđd., trang 198)
Ra Tù, Về Nhà, Đi Vượt Biên
Ra khỏi những nhà tù nhỏ là các trại tù học tập cải tạo, các cựu tù chính trị VNCH tường có thể bước qua được khúc quanh nghiệt ngã này để bắt đầu làm lại cuộc đời. Nhưng, không, họ chỉ mới bước chân vào cái nhà tù lớn của xã hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản với vô số khổ sở và trớ trêu khác đang chờ chực.
Đúng vậy, như lời kể của một cựu kỹ sư và thầy giáo thời VNCH đi tù học tập cải tạo về mà McKelvey thuật lại như sau: “Ngày đầu về nhà tôi lo sợ về an ninh. Tôi phải đem giấy chứng nhận ra tù học tập cải tạo đến văn phòng an ninh phường, văn phòng hành chánh phường, và ty an ninh tỉnh để ký xác nhận. Trong tháng đầu sau khi tôi về nhà tôi cũng phải có mặt ở những buổi họp trong xóm mỗi đêm. Chúng giống y chang những buổi họp trong trại tù. Tôi phải đứng dậy và thú tội trước 15, 20 người láng giềng của tôi đang có mặt trong buổi họp. Mỗi lần như thế tôi đều phải bắt đầu bằng câu, “Tôi biết ơn Cộng Sản.” Sau một tháng như vậy tôi mới nhận được giấy nói rằng tôi đã trở lại làm công dân Việt Nam. Rất là quan trọng để tờ giấy đó được ký chứng nhận bởi công an địa phương. Nếu bạn phạm trọng tội, thì họ sẽ lấy lại [giấy tờ và quyền công dân của bạn].” (Sđd., trang 47)
Một cựu tù chính trị VNCH khác là cựu đại tá và chỉ huy Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn tên Bích kể cho McKelvey nghe ngày từ trại tù trở về nhà như sau: “Hơi là lạ. Ban đầu, mấy đứa con không nhận ra tôi bởi vì tôi rất ốm. Tôi đi lại khó khăn bởi vì vấn đề dinh dưỡng. Tôi rất yếu. Tất cả trừ đứa con trai út của tôi đều đã đi thăm nuôi tôi ở ngoài Bắc với vợ tôi. Trải qua 2 năm đầu chúng tôi không được phép nhận thư từ gia đình, và qua 3 năm đầu chúng tôi không được thăm nuôi. Sau đó họ có thể thăm nuôi mỗi 6 tháng, nhưng vợ tôi không có tiền để đi thăm nuôi tôi đều như thế. Bà chỉ đi thăm tôi mỗi năm 1 lần hay 2 năm một lần.” (Sđd., trang 65)
Còn cựu tù chính trị VNCH là nhà tình báo Sang thì kể như sau, theo McKelvey, “Khi tôi trở về nhà một số người sợ tôi và không muốn liên hệ với tôi. Những người khác thì thông cảm, nhưng tôi không muốn họ gặp rắc rối vì tôi gần gũi với họ, do đó tôi sống rất cô độc. Sauk hi trở về nhà nhiều cựu tù chính trị sống cô độc. Nhiều bà vợ bỏ họ trong lúc họ còn trong tù. Nhiều người khác về nhà bị rồi loạn thần kinh mà một thời gian ngắn sau đó họ đã ly dị. Hầu hết họ đều không có việc làm. Những nào người ở tù nhiều năm có con lớn lên và khó hiểu biết chúng. Những đức con độc lập, và không có sự gần gũi giữa chúng và người cha đi tù. Khi những cựu tù ly di với các bà vợ thì những đứa con cảm thấy vô vọng.” (Sđd., trang 95)
Giáp mặt với cuộc sống khó khăn mọi mặt ở nhà như thế, nhiều cựu tù chính trị VNCH đã tìm đường vượt biên.
Nhà tình báo Sang kể tiếp cho McKelvey nghe, “Hầu hết mọi người tù trong các trại tù cải tạo đều hy vọng trở thành những người tị nạn tại một quốc gia khác.” (Sđd., trang 95)
Cựu tù chính trị VNCH nguyên là phi công tên Tra (tác giả không bỏ dấu) kể về chuyện vượt biên của ông cho McKelvey nghe rằng, “Tôi cố vượt biên bằng thuyền nhiều lần, nhưng đều bị gạt, họ bỏ tôi ở lại. Lần cuối cùng tôi cố vượt biên với mấy người bạn và tôi mua thuyền. Kế hoạch là chúng tôi phải neo thuyền ngoài khơi. Chúng tôi đi ra thuyền đó bằng ghe nhỏ. Nhưng người lái ghe nhỏ của tôi đã bị lạc, và tôi không bao giờ thực hiện được việc đó. 2 người bạn khác của tôi thì đã thành công lái tàu tới Mã Lai Á.” (Sđd., trang 120)
Qua Mỹ Và Những Khó Khăn Của Cuộc Sống Mới
Ra khỏi Việt Nam đối với các cựu tù chính trị VNCH là một nhu cầu để được sống tự dọ và hạnh phúc, nhất là qua Mỹ. Nhưng trước khi tới Mỹ, không một cựu tù chính trị VNCH nào hình dung ra được những hoàn cảnh thế nào mà họ sẽ phải đối diện mỗi ngày. Vì thế, qua Mỹ là một trong những bước ngoặc lớn trong cuộc đời của một cựu tù chính trị VNCH.
Chúng ta hãy nghe lại lời kể của cựu phi công Tra về những khó khăn nào mà ông gặp phải khi qua Mỹ, “Chúng tôi có nhiều khó khan. Đôi khi tôi nghĩ chúng tôi không tạo nên nó. Sau khi chúng tôi gặp lại nhau vài năm thì bà [vợ] nói với tôi, “Anh biết đó, chúng ta vẫn còn đang thích nghi. Vẫn còn khoảng cách giữa chúng ta.l” Tại Việt Nam, là người chồng, tôi chăm sóc mọi thứ. Ở đây tôi không có gì, không việc làm và không tiền bạc. Bà ấy cho tôi mọi thứ. Tôi cảm thấy bị coi thường. Bà ấy nói rằng, “Hãy ở nhà và nghỉ ngơi.” Tôi nói, “Không, tôi muốn đi làm ngay nếu được.” Vì thế bà đi và bảo với người quản trị của hãng xưởng nơi bà ấy làm việc. Ông ấy cho tôi một việc làm lắp ráp điện tử vào năm 1991, và từ đó tôi làm việc ở đó tới nay.” (Sđd., trang 121)
Trường hợp của bà Oanh là vợ của cựu phi công Tra là một điển hình của những người vợ cựu tù chính trị VNCH đã đến Mỹ trước và phải đấu tranh sinh tồn rất khổ cực để vừa nuôi con vừa nuôi chồng trong một đất nước hoàn toàn xa lại. Bà Oanh kể với McKelvey như sau:
“Tôi không biết mặt mũi của tôi ra sao trong thời gian đó. Tôi rất bận rộn đến nỗi không có thì giờ để soi gương. Điều duy nhất mà tôi nghĩ về là kiếm tiền. Tôi có việc làm trong khâu dây chuyền lắp ráp. Tôi chỉ kiếm được 3.25 đô la một giờ, và vì vậy tôi tới sở xã hội để xin giúp đỡ. Người phụ nữ ở đó cũng là một người Việt. Bà ấy rất khinh khỉnh. Bà nói rằng, “Bạn kiếm được 3.25 đô la một giờ, vậy mà bạn vẫn còn đi xin giúp đỡ hà? Tiền nhà của cô chắc là quá cao. Tại sao bạn không dời tới [một chương trình trợ cấp nhà ở rõ rang mà nơi đó có nhiều người tị nạn Việt Nam mới tới ở]? Tôi rất giận. Tôi không biết phải nói gì. Tôi chỉ khóc và bỏ đi.” (Sđd., trang 127)
Còn một khó khăn khác mà nhiều cựu tù chính trị VNCH khi qua Mỹ gặp phải đó là sự cách biệt giữa cha mẹ và con cái lớn lên bên này đã trở thành xung đột khó giải kết trong gia đình. Tác giả Robert S. McKelvey nêu ra trường hợp con cái trong gia đình của cựu phi công là cựu tù chính trị VNCH qua lời kể của người con gái tên Phuong (tác giả không đánh dầu), như sau:
“Tôi nhớ căng thẳng giữa ba tôi và người em gái của tôi. Lúc đó em gái út của tôi và tôi ở nhà và 2 đứa em gái khác ở đại học. Tôi không nhớ căng thẳng nhiều tới mức nào giữa ba tôi và tôi, nhưng ba tôi bị bực mình với em gái út của tôi bởi vì nó quá bướng bỉnh. Họ không hạp nhau. Ba tôi thì rất truyền thống và đối xử với con cái theo cách ở Việt Nam. Em gái út tôi là con gái Mỹ. Nó nói những gì nó suy nghĩ và hành động độc lập. Ông còn nhớ sự kiện ba mẹ tôi kể cho ông nghe về việc em gái tôi lái xe lui ra quá nhanh? Ba tôi nói rằng, “Tôi rất giận đứa con gái đó.” Tại Việt Nam bạn không thể hành động như vậy, ngay dù bạn đang giận dữ. Bây giờ em gái tôi cho rằng, “Ba không thích em – Em là đồ rác.” (Sđd., trang 139)
Kết Luận
Ông Quyet (tác giả không đánh dấu) là một học giả có bằng thạc sĩ tại Hoa Kỳ và dạy tiếng Anh tại Học Viện Quân Sự Quốc Gia Việt Nam (VNCH) trước năm 1975. Sau năm 1975 Quyet đi tù học tập cải tạo. Quyet đã trình bày bằng văn bản ba điều với McKelvey về quan điểm của ông đối với chế độ Cộng Sản Việt Nam. Trong đó ông chỉ trích chính sách tàn ác của Cộng Sản đối với dân quân miền Nam và cho rằng chính quyền CSVN còn nợ người dân miền Nam lời xin lỗi.
Điều thứ ba của văn bản của Quyet viết rằng, “Thứ ba, các anh [Cộng Sản] lớn tiếng kêu gọi mọi người “tha thứ và quên đi.” Hãy để tôi nói rõ rằng chúng tôi đã không, và đang không, mắc nợ các anh bất cứ điều gì [đối với những gì chúng tôi đã làm]. Hầu hết chúng tôi chiến đấu dũng cảm đơn giản là để tự bảo vệ. Không có gì sai với điều đó cả. Khi chiến tranh chấm dứt quá khứ nên để lại sau. Chúng tôi có thể đã là bạn bè của các anh và cùng nhau làm việc với các anh để xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, nhưng các anh đã chọn ôm giữ ác cảm chống lại chúng tôi và đối xử với chúng tôi tồi tệ hơn với thú vật. Các anh mới chính là người nợ chúng tôi một lời xin lỗi [cho điều đó] và đặc biệt đối với việc [các anh] làm ô nhiễm nơi an nghỉ thiêng liêng của những chiến sĩ đã nằm xuống của chúng tôi.” (Sđd., trang 168)
Trong phần kết luận cuốn sách, tác giả Robert S. McKelvey rút ra 5 nhận định từ những kinh nghiệm và bài học của chiến tranh Việt Nam, của các cựu tù chính trị VNCH mà người Mỹ và chính quyền Mỹ cần đặc biệt quan tâm.
Một, nạn nhân của chiến tranh là những con người nhạy cảm, tế nhị và dễ bị tổn thương nên, người Mỹ cần đối xử công bằng với các đồng minh của mình. Hai, sự đau khổ của các nạn nhân chiến tranh không chấm dứt sau khi ký hiệp định hòa bình và rút quân [Mỹ] về nước. Do vậy, việc điều trị vết thương chiến tranh cần thời gian dài sau đó. Ba, Hoa Kỳ cần cẩn thận cách can thiệp trên thế giới, mà cụ thể là cần lắng nghe nguyện vọng của các đồng minh. Bốn, Hoa Kỳ cần có trách nhiệm với các đồng minh hay quốc gia mà mình can thiệp bằng chiến tranh. Và năm, người Mỹ cần nhận thức rõ là họ chiến tranh vì cái gì. Nên nhớ, chuyện mở cuộc chiến tranh không giống như chuyện trong phim, vì nó sẽ để lại nhiều đau khổ cho vô số người trong nhiều thập niên sau đó.
Dù cuốn “A Gift of Barbed Wire” đã được xuất bản cách nay 13 năm, nhưng những điều mà tác phẩm này nói đến vẫn còn là các bài học giá trị mà các chính quyền tại Việt Nam và Hoa Kỳ cần phải học lại kỹ lưỡng để tránh gây đau thương cho cả một dân tộc. Đối với người Việt trong và ngoài nước, tác phẩm này chắc chắn là một kho tàng ký ức sâu đậm của một thời lịch sử không thể quên. Khi có dịp gợi lại thì thấy rằng nó vẫn còn nguyên ở đó.
Xin cám ơn tác giả Robert S. McKelvey.
Chú thích:
(2) R. S. McKelvey, The Dust of Life: America’s Children Abandoned in Vietnam [Bụi Đời: Những Đứa Trẻ Mỹ Bị Bỏ Rơi Tại Việt Nam] (University of Washington Press, Seattle, 1999).
(3) Tranh sơn mài là hình thức hội họa truyền thống Việt Nam được đưa tới Việt Nam từ Trung Quốc vào thế kỷ thứ 15. Sơn mài màu cứng được dung cho gỗ mềm, được đánh bóng cho thật là láng như đồ sứ, và rồi được trang trí hay sơn với những sơn mài màu sắc khác nhau (P. Huard và M. Durand, Viet Nam: Civilization and Culture [Việt Nam: Văn Minh và Văn Hóa], tái bản lần thứ 2 [École Francaise d’Extréme Orient, Hà Nội, 1994], trang 204-7).
(4) N. L. Jamieson, Understanding Vietnam [Hiểu Việt Nam] (University of California Press, Berkeley và Los Angeles, 1993), trang 363.
(5) Sách đã dẫn trên, trang 364.
(6) Chương Trình ODP là sự thỏa thuận song phương đạt được và tháng 7 năm 1979 giữa chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam cho phép sự nhập cư của người Việt vào Hoa Kỳ hợp pháp và an toàn.
(7) Chẳng hạn, xin xem, T. T. Vu, Lost Years: My 1,632 Days in Vietnamese Reeducation Camps [Những Năm Mất Mát: 1,632 Ngày Của Tôi Trong Các Trại Học Tập Cải Tạo Của Việt Nam] (Institute of East Asian Studies, University of California, Berkeley, 1988); T. V. Doan và D. Chanoff, The Vietnamese Gulag [Trại Tù Chính Trị Việt Nam] (Simon and Schuster, New York, 1986).
(8) Thí Dụ, xin xem, M. C. Smith-Fawzi, E. Murphy, T. Pham, L. Lin, C. Poole, và R. F. Mollice, “The Validity of Screening for Post-Traumatic Stress Disorder and Major Depression among Vietnamese Former Political Prisioners” [Giá Trị Của Việc Kiểm Tra Đối Với Chứng Bất An Và Trầm Cảm Nặng Do Căng Thẳng Bởi Hậu Chấn Thương Trong Số Những Cựu Tù Chính Trị Việt Nam], Acta Psychiatrica Scandinavica (1997: 96): trang 87-93; R. F. Mollica, K. McInnes, T. Pham, M. C. Smith-Fawzi, E. Murphy, và L. Lin, “The Dose-Effect Relationships between Torture and Psychiatric Symptons in Vietnamese Ex-Political Detainees and a Comparison Group” [Các Mối Quan Hệ Hiệu Quả Liều Lượng Giữa Tra Tấn và Các Triệu Chứng Tâm Thần Trong Các Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam và Một Nhóm So Sánh], Journal of Nervous and Mental Disorder (1998: 186): trang 543-53.

Loat Bài Về Saigon SAU 1975

 Bài 7: Nhân đọc từ “giải phóng”, nhớ chuyện xưa
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn – 25 April 2015
Đó là chuyện gần 40 năm về trước, khi “phe thắng cuộc” mới vào tiếp nhận và quản lí miền Nam. Có rất nhiều chuyện cười ra nước mắt thời đó, và những chuyện đó tự nó chất vấn hai chữ “giải phóng”, và đặt câu hỏi chính đáng “ai giải phóng ai”. Câu chuyện của tôi liên quan đến một anh bạn bên phía “thắng cuộc”.
Anh tên là Tr., người Bắc Ninh, chỉ mới học xong lớp 8 là đi bộ đội, nhưng anh rất trọng người có học. Sau 1975 anh không về Bắc, trở về đời sống dân sự, và được tuyển vào làm nghề lái xe cho cơ quan. Bọn thanh niên miền Nam chúng tôi quen anh trong vai trò đó. Cá nhân tôi rất mến anh, vì anh rất thành thật, có cái tính ngang tàng của dân Nam kì, khác hẳn mấy người miền Bắc thời đó. Anh không nói dóc hay nổ về miền Bắc. Vài năm trước, bẵng đi mấy mươi năm tôi gặp lại anh, ui chao hai người mừng quá. Sau mấy chục năm định cư trong Nam, anh không còn Bắc kì chút nào (nếu còn thì chỉ cái giọng thôi), chứ từ cách giao thiệp đến ăn nhậu, anh là dân Nam kì thứ thiệt. Ngày nay, anh là một doanh nhân loại nhỏ, đã thành ông nội, và quan trọng là có con đi học bên Singapore.
Anh trở nên “phản động” rất nhanh. Chỉ độ 2 năm sau ngày “giải phóng” là anh đã định bỏ đảng. Cứ mỗi lần rượu vào hay trên bàn cà phê, anh tâm sự là anh bị lừa. Anh nói lúc đi bộ đội, vì bị tuyên truyền, anh cứ tưởng người dân trong Nam nghèo lắm. Anh nghĩ họ bị bọn Mĩ Nguỵ bóc lột nghèo đến nỗi không có chén để ăn cơm, mà phải dùng đến gáo dừa làm chén. Anh phải tòng quân để cứu giúp đồng bào ruột thịt mình. Nhưng đến khi vào tiếp quản thì anh mới sáng ra là mình bị lừa gạt. Dân miền Nam giàu hơn nhiều và sống đầy đủ hơn nhiều so với dân miền Bắc. Anh chẳng thấy ai ăn cơm bằng gáo dừa cả. Chỉ thấy xe Honda và xe hơi chạy đầy đường ở trong Nam là anh đã biết mình bị gạt.
Một hôm, tôi rủ anh về thăm nhà tôi dưới quê. Hai anh em đi xe đò về tới CK, rồi từ đó đi bộ về nhà (độ 5 km). Khi mới ghé qua nhà, từ cái chợ làng, con sông đến đồng ruộng vàng ươm bao la, anh đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác. Anh hỏi tôi: Này! Nguyên khu đất này là đất của bố mày à? Tôi thản nhiên nói: Ừ, ba tôi lập nghiệp ở đây lâu rồi. Đây là đất vườn để ở, còn đất làm ruộng phải đi 10 cây số nữa. Tôi dẫn anh ra sau vườn, anh thấy nào là xoài, ổi, mận, chuối, dừa, v.v. quá nhiều và mắt cứ mở ra ngạc nhiên.
Anh cứ suýt xoa nói đất và nhà rộng quá, mà nhà thì chỉ có ba má tôi và 3 đứa em gái. Tôi nói không rộng đâu, bên dượng tôi còn rộng hơn nữa. Nói là làm, tôi rủ anh chèo xuồng qua thăm dượng Út tôi. Dượng tôi người Quảng Ngãi thoạt đầu thấy dân Bắc kì nên có vẻ không hạp mấy, nhưng thấy anh Tr ăn nói rất Nam kì nên dượng khoái liền. Dượng Út tôi nói: thằng này coi bộ được à. Dượng Út hét mấy đứa em bắt hai con gà để đãi khách. Chỉ vài chục phút sau là có gà luộc ăn, rau thơm và bắp chuối đầy đủ (tất cả chỉ từ sau vườn), kèm theo nồi cháo thơm phức. Anh Tr cảm kích lắm. Anh nói ở ngoài Bắc rất khó có được một bữa ăn như thế. Ăn uống xong, dượng Út tôi hỏi cuộc sống ngoài Rạch Giá ra sao, và khi biết anh Tr thiếu gạo (mà thiếu thật), dượng Út tôi liền kêu mấy đứa nhỏ chuẩn bị một bịt gạo cả chục kí-lô cho anh đem về nhà. Các bạn thử tưởng tượng, anh và tôi phải luân phiên vác cái bịt gạo đó 5 km ra Chắc Kha (để đón xe đò về Rạch Giá)! (Thời đó, còn là thanh niên trai trẻ nên tôi mới vác nổi, chứ bây giờ thì sao vác nổi).
Trên đường về cơ quan, anh nói rất nhiều về sự khác biệt giữa hai miền Nam Bắc, và tôi chỉ biết nghe chứ không bình luận gì (do tôi có biết cuộc sống ngoài kia ra sao đâu). Càng ngày anh càng tỏ thái độ chống đối. Bất cứ câu gì của lãnh đạo, anh cũng bỉu môi, nói ngược lại. Anh không còn tin vào hai chữ “giải phóng” nữa, vì anh nghĩ anh mới là người được giải phóng, chứ anh có giải phóng ai đâu. Chính miền Nam đã cho anh biết thế nào là một cuộc sống sung túc, sống chan hoà với nhau (chẳng ai làm chó săn theo dõi ai). Tôi để ý cứ mỗi sáng đọc báo Nhân Dân, anh ngồi tít đằng sau chỉ thẩn thờ hút thuốc. Tôi phải nói thêm rằng thời đó, mỗi sáng đều có người đọc báo Nhân Dân cho cả cơ quan nghe. Chuyện hài hước, nhưng hoàn toàn có thật. (Bây giờ ai mà đọc báo Nhân Dân thì bị xem là tra tấn tinh thần).
Như nói nói trên, anh Tr tuy học không bao nhiêu, nhưng rất quí anh em miền Nam có học. Thời đó, sinh viên mới tốt nghiệp ở Sài Gòn về công tác, các cô cậu vẫn còn phong cách rất “tư sản”. Các nàng thì mang guốc cao gót, ăn mặc tươm tất, rất tiểu thư đài các, khác hẳn các cán bộ gốc du kích hay ngoài Bắc chi viện vốn chỉ mặc áo bà ba (hay các cô ngoài Bắc thì mặc theo kiểu Tàu, áo chemise và quần đen cũn cỡn, trông buồn cười lắm) . Các chàng thì lúc nào áo cũng trong quần trông rất văn minh, khác hẳn với mấy ông “răng đen mã tấu”. Nhưng với nhiều cán bộ cơ quan thì đó là những cái gai trong mắt họ. Cứ mỗi lần họp cơ quan là có người nói xa nói gần chỉ trích “lối sống tư sản” (dĩ nhiên trong đó có tôi), có khi họ nói rất nặng nề. Vậy mà đám thanh niên “tư sản” đó vẫn ne-pas.
Riêng anh Tr thì không bao giờ nói gì; ngược lại anh thích đi theo tụi tôi bù khú, cà phê, cà pháo. Cứ mỗi lần đọc báo có tiếng nước ngoài, anh nhờ tụi tôi giải thích. Anh ham học thật. Anh có nghề xem tướng số, nên cứ mỗi lần xỉn xỉn, anh nhận xét từng cô “tư sản” trong cơ quan. Nào là PP là chân dài (mà dài thật); NB có khuôn mặt sáng, nhưng tướng đi làm hại cô ấy; D ngực bự, nhưng khó nuôi con, v.v. nói chung toàn chuyện đàn ông bù khú vớ vẩn đó mà. Lúc đó, L (là một bác sĩ trí thức nhất) nói với tôi: Tao nghi thằng cha này là đảng cài vào để theo dõi tụi mình, nên coi chừng. Nhưng L nghi oan cho anh ấy, vì anh không còn thiết tha gì với đảng nữa. Có vài lần anh đòi ra khỏi đảng nhưng bị chú Ba N lúc đó là giám đốc chửi cho vài trận nên thôi.
Bác ba N cũng là một người khá đặc biệt. Bác ngày xưa có bằng Premiere rồi theo cách mạng, và sau này đi tập kết ra Bắc. Sau 1975, bác N về lại miền Nam. Bác là người cộng sản đàng hoàng, và vì là người có học, nên bác hay bênh vực đám thanh niên “tư sản” bọn tôi. Bác không ưa người miền Bắc, ngoại trừ anh Tr là tài xế cho bác ấy. Có lần tôi bị kiểm điểm vì đeo cái đồng hồ Seiko, tôi nổi nóng đòi nghỉ việc, bác ba N kêu vào office vừa nói vừa chửi: “Đồ ngu, chỉ có một sự việc nhỏ là đòi nghỉ, con nít. Tụi nó nói gì thì kệ cha nội tụi nói, mày cứ im lặng cho tao. Tụi nó cả đời có biết đồng hồ là gì, nên tụi nó ganh đó thôi.” Bác N nói thêm như cảnh cáo: “Tao mà nghe mày nói nghỉ việc nữa là coi chừng tao.” Có vài lần bác N biết trước là cơ quan họp để dằn mặt ai đó trong đám tư sản, bác chủ động có mặt như để dằn mặt lại các cán bộ miền Bắc và cán bộ du kích (hai nhóm này cũng không ưa nhau). Bác làm như thế rất âm thầm, chứ không hề nói gì ra ngoài.
Anh Tr có một cái khiếu rất lợi hại là giả chữ kí. Chữ kí của lãnh đạo nào anh cũng giả được rất hay. Thời đó, khi đi công tác thì phải có giấy giới thiệu của cơ quan mới mua được vé xe đò (loại xe đò ghế toàn làm bằng cây, và phải dùng cái thanh sắt để quay nó mới chạy, chứ không phải đề tự động như bây giờ). Có lần bác ba N và ông trưởng phòng hành chính đi công tác, mà tụi tôi cần vé đi Sài Gòn. May phước là anh Tr không lái xe cho họ lúc đó. Bí quá, nên tôi phải cầu cứu anh Tr giả chữ kí bác Ba N, và hứa sẽ mua quà Sài Gòn về cho anh. Anh nhìn mặt tụi tôi (lúc đó chắc thảm hại lắm) rồi nói: ĐM, giả thì được rồi, nhưng nếu mai mốt tụi mày vui miệng nói ra thì ông già ổng đuổi tao thì sao. (Anh Tr hay gọi bác Ba N là “ông già”). Năn nỉ mãi, anh chịu kí vào giấy giới thiệu, và thế là chúng tôi có chuyến đi Sài Gòn. Sau này, anh còn kí giả để anh em mua xăng dầu đi vượt biên! Do đó, công anh Tr cũng lớn đối với nhiều người.
Anh Tr mê gái miền Nam, và hỏi chúng tôi có cách nào làm mai cho anh một cô. Một vài năm sau (khi tôi đã đi) thì anh cũng thành hôn với một em miền Nam. Nhưng câu chuyện lần đó mới là đổi đời anh. Em này có người trong nhà đi vượt biên. Do đó, đảng khuyên anh không nên cưới em ấy, còn nếu cưới thì phải ra đảng. Sau này, anh nói với tôi: ĐM, tao muốn bỏ lâu rồi, nên nhân dịp này là tao bỏ luôn, tới đâu thì tới. Nhưng trong thực tế, đảng lờ cho anh cưới M. Thế là anh cưới M, và hai người sống bên nhau cho đến nay. Sau khi cưới, anh bỏ nghề tài xế cơ quan, ra bươn chãi làm ăn linh tinh, nhưng hai vợ chồng cũng kì cóp mua được nhà. Thêm viện trợ từ nước ngoài bên vợ, nên hai vợ chồng làm được một doanh nghiệp mua bán trái cây và nông sản rất khá. Anh có một cậu con trai học rất giỏi, nó được học bổng đi học bên Singapore. Anh rất tự hào về cậu con trai đó. Sau này, anh còn “bảo lãnh” cả nhà ngoài Bắc Ninh vào định cư trong Nam.
Bây giờ, mỗi lần gặp anh, lại bù khú với nhau, hỏi chuyện ai còn ai mất, anh hồi tưởng chuyện “mấy thằng thanh niên tư sản” và cười ngất. Anh nói một cách thành thật là cả nhà anh phải cám ơn miền Nam và “mấy thằng mày” cho tao biết thế nào là ăn ở tử tế. Có hôm, anh, tôi và vài người bạn doanh nghiệp của anh đi quán karaoke, trong lúc ngà ngà tôi giả bộ hỏi anh “lúc này anh còn sinh hoạt đảng không”, anh nhìn tôi vừa chửi thề, vừa nói giọng rặt Nam Bộ: “Ở chỗ vui vẻ này câu hỏi của mày làm tao mất vui.”
Nguyễn Văn Tuấn
(Blog Nguyễn Văn Tuấn)

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2015

Ông chủ Kềm Nghĩa và những bài học đắt giá về quản trị

Ông chủ Kềm Nghĩa và những bài học đắt giá về quản trị
Tác giả: Kim Yến – BizLIVE – 21 April 2015
Ranh giới giữa thành bại, được mất quả thật quá mong manh, vì ngoài những bí quyết thành công, chữ “thời” vô cùng quan trọng.
Xuất thân từ người thợ mài kềm vỉa hè, giờ đã sở hữu trong tay ba nhà máy lớn, ba chiếc du thuyền, nhắc lại thời khởi nghiệp, ông Nguyễn Minh Tuấn, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Kềm Nghĩa vẫn xúc động đến ứa nước mắt.
Ranh giới giữa thành bại, được mất quả thật quá mong manh, vì ngoài những bí quyết thành công, chữ “thời” vô cùng quan trọng.
Ông Tuấn nói với BizLIVE:
- Kềm Nghĩa đang mở rộng thị phần ở Trung Quốc và Dubai. Người Trung Quốc làm kềm rất nhiều, nhưng ở những phân khúc khác. Tìm hiểu về số lượng bán ra trên thế giới, mình chỉ chiếm mấy phần trăm so với họ thôi, nhưng phân khúc của họ là cho người tiêu dùng đại trà, còn mình là phân khúc cho người làm nail chuyên nghiệp.
Định hướng sắp tới của Kềm Nghĩa vẫn là phát triển thị trường quốc tế. Sau khi tham gia các hội chợ, mới phát hiện ra các thương hiệu nội địa muốn bước ra thế giới trước tiên đều chú trọng đầu tư xây dựng thương hiệu toàn cầu.
Nhưng xây dựng thương hiệu toàn cầu là một câu chuyện dài hơi lắm, phải từng bước, từng nước có cách đi khác nhau, mình đâu có nhiều tiền để dàn trải ra nhiều đâu.
Kềm Nghĩa mất hơn 10 năm tham gia hội chợ rồi, được nhiều nước biết đến nhiều, nhưng đa phần họ vẫn lấy hàng từ những thương hiệu đã nổi tiếng. Khi họ sang thị trường Mỹ, Trung Quốc, thấy dân chuyên nghiệp làm nail nhiều người dùng hàng Kềm Nghĩa, họ mới lấy Kềm Nghĩa là nhà phân phối lớn.
10 năm vẫn là non trẻ lắm, phải mất đi nhiều năm, bốn năm gần đây khách hàng mới đặt mua chính thức.
Học thầy, học bạn, học lính của mình
Việc Kềm Nghĩa được chọn là thương hiệu quốc gia có được hỗ trợ gì không từ chính sách của Nhà nước?
(cười) Chẳng có gì…
Từng thuê nhiều nhân sự từ các tập đoàn đa quốc gia về làm tổng giám đốc, giám đốc tài chính… nhưng vì sao ông phải thay đổi liên tục nhân sự chủ chốt?
Tôi đi nhiều được như vậy mà công việc ở nhà vẫn chạy tốt là nhờ những cuộc “cách mạng” lớn về quản trị. Không chỉ có Kềm Nghĩa, mà rất nhiều công ty đã từng thất bại khi thuê CEO từ công ty nước ngoài về, đó là “được” chứ không phải mất.
Mỗi người về làm rối lên cũng nhiều, nhưng họ đều để lại không ít kinh nghiệm quản trị, giúp cho lính của mình trình dộ cũng nâng lên. Tôi mời họ về đây là để xây dựng, không phải là thay người hoàn toàn, vì lính mình ban đầu theo không nổi, họ phải “nương” để đào tạo dần lên chứ không thể đòi hỏi bộ máy ở dưới hoàn thiện ngay như các công ty đa quốc gia. Điều đó làm cho một số đã phải ra đi…
Phải chăng vì thế ông chưa thực sự dám trao quyền?
Đó là những người giỏi, nhưng nghĩ và làm là hai chuyện hoàn toàn khác, xây dựng chiến lược để “xài” tiền rất ngọt mà không chứng minh được hiệu quả, tháng này qua tháng kia khiến cho ai cũng sốt ruột.
Thành phần mới phải “mix” được với bộ máy cũ, chứ làm cho nội bộ phân rã, rồi mình phải đi xử rất mệt.
Tôi đã từng thất bại khi có bước đi sai, tăng giá sản phẩm khi người tiêu dùng vẫn chuộng hàng rẻ, tốn mấy chục tỷ, nên tôi rất thận trọng, tìm sự an toàn. Để một CEO hiểu được sâu xa nghề của mình không dễ, dù họ có sự hiểu biết về quản trị.
Tôi sai lầm ở chỗ khi kinh tế xuống, phải tìm một người giúp mình ở thế thủ, thì lại thuê một CEO marketing luôn vẽ ra những chiến lược tiến công.
Sau khi ông đó nghỉ rồi, kinh tế phục hồi thì tôi lại rước một ông giám đốc tài chính về chuyên ở thế thủ, an toàn thì có, nhưng lại không tiến công.
Đó là những bài học đắt giá đối với tôi. Người Chủ tịch Hội đồng Quản trị cũng cần phải học, học thầy, học bạn, học lính của mình. Tôi đang chọn những người trẻ có tố chất lãnh đạo để đào tạo từ từ, theo tôi đó là con đường tốt nhất.
Đời mình khá lên từ đó…
Cho đến bây giờ, khi đã sở hữu trong tay ba nhà máy lớn, ba chiếc du thuyền, nhắc lại thời khởi nghiệp mà ông vẫn ngậm ngùi…?
Tôi sinh ra ở Tân Bình, thủa ấy còn đồng ruộng mênh mông. Nhà nghèo, mười mấy chị em phải làm đủ nghề kiếm sống, từ bán cà phê, làm thùng thiếc, bán kem…
Học hết trung học thì đất nước giải phóng, tôi theo mẹ lên vùng kinh tế mới. Có lẽ đây là đoạn đời gian nan nhất, những mùa nước ngập trắng đồng, trời rét căm căm vẫn phải đi đập lúa thuê. Những lúc chìm xuồng phải khiêng từng bao lúa lắc cho hết nước, không biết nước mắt của mình đã hòa với nước mưa.
Ám ảnh trong tâm trí tôi là hình ảnh những ông chủ người Hoa sang trọng, lúc nào cũng nở nụ cười. Và tôi nuôi mộng trở thành ông chủ từ đó.
Vốn liếng ban đầu chỉ có cái bàn gỗ, đe búa, mô tơ trị giá mấy trăm ngàn bày ra ở vỉa hè đường Lê Thánh Tôn, mưa gió gì cũng kiên gan chờ từng người khách…
Lặng lẽ, âm thầm, Kềm Nghĩa đến với người thợ làm móng, biến nghề nail trở thành một phương tiện kiếm sống phổ thông trong mọi tiệm tóc, rồi lan sang Mỹ qua đường xách tay…
Đời mình khá lên từ đó… Ngay tại thị trường Trung Quốc, người Trung Quốc chỉ làm giả kềm mang nguồn gốc xuất xứ “made in Vietnam”, chứ không phải là “made in USA”, chứng tỏ Kềm Nghĩa đã thành công về chất lượng và thương hiệu không chỉ ở thị trường Trung Quốc mà với thế giới.
Tham vọng lớn nhất của ông, có phải là đưa thương hiệu Kềm Nghĩa trở thành số một thế giới về ngành nail?
Hoàn thành sứ mạng trong nước và đưa ra thế giới đòi hỏi mình phải tập trung đầu tư liên tục để đáp ứng theo nhu cầu của những khách hàng khó tính hơn, nhằm xây dựng một dòng thương hiệu cao cấp là chiến lược dài hơi.
Đi đúng mới thành công, vì mình đi sau. Phải để cho người tiêu dùng tự thấy đồ mình tốt, không cần phải nói.
Vui nhất là trong các hội chợ, mình là gian hàng duy nhất treo cờ Việt Nam chỉ bán một loại hàng là kềm.
Nghề làm nail ở Mỹ và các nước khác chủ yếu là người Việt. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Mỹ, hiện có 150000 người Việt có giấy phép làm việc trong ngành công nghiệp nail. Người Việt đang điều hành 27000 trong tổng số 60000 tiệm ở Mỹ. Mỗi năm, ngành nail đạt doanh thu hơn 7 tỉ USD.
Riêng ở bang Florida, người Việt làm chủ 1152/1868 cửa hàng nail. Những cửa hàng nail của người Việt ở Mỹ chính là cầu nối để Kềm Nghĩa bước vào thị trường này một cách vững chắc dù cho đó là con đường hàng xách tay.
Hiện Kềm Nghĩa đang xây dựng 30 đại lý chính thức tại 14 tiểu bang của Mỹ, cùng các cửa hàng ở Hà Lan, châu Âu…
Trước đây Pakistan nổi tiếng về kềm, nhưng tôi tin chỉ mười năm sau, ngành kềm Việt Nam sẽ đứng số một thế giới, vì nó gắn liền với tay nghề người Việt về nail…Anh em trong công ty nhờ thế đời sống cũng khá lên nhiều.
Con ông đi học nước ngoài có về kế nghiệp cha?
Có chứ. Tôi thường cắt nghĩa cho con về con đường của Kềm Nghĩa: “Kế nghiệp cha, con tiết kiệm được 20 năm. Ba làm đến chừng này thôi, lớn hơn không làm được. Con phải làm những việc mà ba không làm được”.
Tôi nghĩ nhiều công ty đã phải bán đi cũng vì lý do đó, họ không làm cho công ty mình lớn hơn được nữa. Bán là con đường thông minh nhất, để cho người khác tài giỏi hơn thay mình điều hành công ty. Tôi thì khác, đến thời điểm này tôi không muốn bán thương hiệu.
“Tôi mê sông nước từ lâu rồi”
Điều gì giúp ông có được sự bình tĩnh để vượt qua những giây phút ngặt nghèo nhất của đời sống, kinh doanh?
Không phải tôi giỏi gì. Thất bại cũng nhiều, nhưng đứng trước thất bại, mình phải cân đối lại tài chính, cân đối sức khỏe của mình, làm thế nào để có thời gian chơi với anh em nhiều hơn. Nếu cân đối tài chính không tốt thì tối ngủ cũng không ngon.
Chơi với anh em cũng giúp tôi nhiều trong việc cân đối tài chính, nhưng do cẩn trọng quá tôi cũng mất cơ hội, như cơ hội lên sàn khi thị trường chứng khoán đang đầy kỳ vọng.
Kinh Đô nếu lên sàn sớm hai năm thì tốt hơn nhiều, còn “bầu” Đức may mắn vừa lên sàn xong thì thị trường rớt xuống liền, nhờ thế có tiền đầu tư qua bất động sản…
Du thuyền có phải là cách chơi khác biệt của ông?
Tôi mê sông nước từ lâu rồi. Thời lập nghiệp ở Đồng Tháp, mơ ước một chiếc thuyền cho riêng mình dường như không tưởng. Giờ có điều kiện rồi cũng muốn tận hưởng thú vui sông nước với bạn bè.
Tôi có ba chiếc du thuyền, mỗi chiếc có một công dụng khác nhau. Hai chiếc đi biển, một chiếc đi sông. Chơi du thuyền cũng cực lắm, phải tìm bến, tìm thợ…nhưng có cái “đã” của nó. Trong không gian ấm cúng ấy mọi người đều quây quần bên nhau giữa mênh mông sông nước, thấy lòng bình yên trở lại.
Bày cho bạn bè những cuộc chơi vì cộng đồng cũng mất công mất sức lắm. Duy trì bơi lội, chơi thể thao cũng là cách giúp tôi giữ gìn nội lực của mình.

Đầu tư vào nông nghiệp

Đầu tư vào nông nghiệp: Xơi miếng nạc, gạt miếng xương?
Tác Giả: Đặng Hoàng – Thế Giới Tiếp Thị – 23 April 2015
Thời gian gần đây, hàng loạt đại gia công bố đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy đa số doanh nghiệp nông nghiệp hiện nay chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực kiếm lợi nhuận nhanh là cung cấp đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi…). Rất ít doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất và chế biến nông sản để tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng, có hàm lượng công nghệ, nâng cao giá trị xuất khẩu.
Ông Nguyễn Ngọc Khoa (Hố Nai, Đồng Nai) là một trong số hàng ngàn chủ trại gà đẻ ở Việt Nam đang phải trả tiền mua gà giống cho các công ty nước ngoài. Một con gà đẻ hậu bị được doanh nghiệp nước ngoài nuôi trong thời gian khoảng bốn tháng, có giá bán từ 5 – 7 USD. Nông dân mua gà hậu bị về nuôi thêm một thời gian nữa thì gà đẻ trứng. Tốn chi phí con giống hơn 100.000 đồng, nhưng vòng đời khai thác trứng của con gà chỉ được khoảng 55 – 60 tuần là phải loại. Cứ như vậy, trung bình mỗi năm các doanh nghiệp nước ngoài đưa ra thị trường hàng trăm triệu con gà đẻ hậu bị, thu về số tiền khổng lồ.
Phần ngon nhất: nước ngoài xơi
Không cứ gì giống gà đẻ, ở bất cứ ngành nghề nông sản nào của Việt Nam, cũng đang phải lệ thuộc vào nguồn giống nhập khẩu hoặc nguồn giống “có yếu tố nước ngoài”. Với ngành chăn nuôi, ngoài giống gà đẻ, người nông dân đang lệ thuộc nước ngoài giống gà trắng công nghiệp, giống vịt, giống heo. Ông Nguyễn Văn Ngọc, chủ trại gà ở huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai cho biết trung bình mỗi năm gia đình nuôi ba lứa gà công nghiệp, con giống phải mua của các công ty nước ngoài với giá 13.000 – 14.000 đồng/con một ngày tuổi. Điều trớ trêu, theo người chăn nuôi, chi phí làm giống mà doanh nghiệp nước ngoài bỏ ra chưa đến 20% giá bán giống do họ nắm độc quyền. “Mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 120 – 150 triệu con gà công nghiệp, lợi nhuận từ tiền bán con giống mà doanh nghiệp nước ngoài thu về là rất lớn”, ông Ngọc phân tích.
Công nghệ lai tạo giống, phương pháp di truyền và cách quản lý đàn giống gốc là ba yếu tố mà các trại giống “nhà nước” của Việt Nam không thể bì được với nước ngoài. Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta có đầy đủ các viện, trường, trung tâm… nghiên cứu giống ở tất cả lĩnh vực nhưng chưa bao giờ đáp ứng được nhu cầu thị trường. Ông Trần Quang, một người nuôi cá tra ở huyện Chợ Mới, An Giang kể cuối năm ngoái thấy nuôi cá tra không có ăn ông chuyển sang nuôi cá rô phi đơn tính. Ông lấy giống của viện Thuỷ sản 2 về nuôi.
Lứa đầu cá tăng trưởng tốt, tỷ lệ đẻ trứng ít. Đến lứa hai
thì tỷ lệ đẻ trứng lên đến 50%. “Cá rô phi đơn tính mà đẻ thì con nào con nấy bằng ba ngón tay, không làm philê được”, ông Quang nói. Sau đó, ông Quang phải nhập con giống từ Trung Quốc.
Báo cáo đánh giá thường niên về các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp của phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam cho biết, trong số hơn 3.500 doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp, có đến hơn 90% thuộc loại nhỏ và vừa và có rất ít doanh nghiệp đầu tư vào chuỗi khép kín.
Khi đầu tư vào Việt Nam, các đại gia nước ngoài nắm trình độ khoa học di truyền, có cách làm bài bản, thường nhập giống cụ kỵ, ông bà từ tập đoàn mẹ, sau đó nhân ra giống bố mẹ hoặc thương phẩm để bán cho nông dân. Ông Nguyễn Ngọc Trung, một chủ trại heo ở Bến Cát, Bình Dương nói những trại heo như ông phải mua giống bố mẹ theo giá heo hơi ngoài thị trường cộng thêm 2,5 triệu đồng/con tiền bản quyền công nghệ. “Họ bán con giống cho nông dân với giá quá cao nhưng lại hạn chế vòng đời khai thác”, ông Trung nói.
Trong khi các cơ sở nhân tạo giống của nhà nước lạc hậu, đi sâu vào từng lĩnh vực nông nghiệp, hầu như cũng chưa có một doanh nghiệp nội địa nào đầu tư chuyên sâu vào công nghệ lai tạo con giống. Tất cả đều do các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nắm giữ. Hiện nay, nông dân và doanh nghiệp phải mua tôm giống thể chân trắng (tôm post) của nước ngoài với giá 100 đồng/con, so với Thái Lan thì giá cao hơn 40 đồng, Ấn Độ là 30 đồng nhưng tỷ lệ sống của ta chỉ có 30%, còn Thái Lan và Ấn Độ từ 70 – 80%.
Chọn miếng ngon, dễ làm
Trong ngành trồng trọt, chẳng hạn như cây lúa có giá trị xuất khẩu cao nhất cũng chưa có doanh nghiệp nào đầu tư vào tất cả các khâu. Công ty cổ phần thuốc bảo vệ thực vật An Giang chỉ đơn thuần là bán thuốc bảo vệ thực vật, gần đây làm cánh đồng mẫu lớn, xây dựng nhà máy xay xát nhưng sản phẩm cuối cùng là hạt gạo của công ty này vẫn chưa có chỗ đứng trên thị trường do họ chưa nghiên cứu, lai tạo ra giống lúa chất lượng. Cách nay hơn tuần, người viết gặp giám đốc doanh nghiệp người Ba Lan, ông này tới công ty Vietfarm tìm mua một số loại nông sản như gạo, mì lát, bã mì ép viên, trứng gà… xuất khẩu sang thị trường châu Âu, Iraq. Sau khi lên tận nhà máy ở Tây Ninh xem một số sản phẩm mì ép viên của Vietfarm, ông này đồng ý lấy hàng, nhưng khi được giới thiệu thêm mặt hàng gạo thì ông từ chối với lý do gạo Việt Nam không ngon bằng Thái Lan và Campuchia. Hiện nay, trung bình mỗi tháng doanh nghiệp này lấy 40 container gạo Thái Lan và Campuchia xuất sang thị trường châu Âu, trong đó có Ba Lan với giá trung bình 650 – 700 USD/tấn.
Từ câu chuyện trên có thể thấy, không khó để hiểu vì sao nông sản Việt Nam vẫn chủ yếu bán thô và nhiều lúc nguồn cung bị dư thừa, ế ẩm. Cách tiếp cận của doanh nghiệp khi đầu tư vào nông nghiệp thường chọn “miếng ngon”, dễ làm. Hoàng Anh Gia Lai đầu tư nuôi bò nhưng lại chọn cách kiếm lợi nhuận nhanh nhất là nhập bò về vỗ béo. Tập đoàn Hoà Phát vừa công bố đầu tư 300 tỉ đồng vào chế biến thức ăn, đây cũng là lĩnh vực đầu vào dễ kiếm ăn nhất. Tìm hiểu sâu thêm, chẳng hạn như ngành chăn nuôi, thử tìm trên Google doanh nghiệp bán thuốc thú y, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, trong vài giây bạn sẽ có trong tay danh sách hàng ngàn nhà cung cấp. Ông Nguyễn Ngọc Trung, chủ trại heo ở Bến Cát, Bình Dương kể câu chuyện có ngày ông tiếp năm nhân viên bán hàng của các công ty tiếp thị thuốc thú y cho đến thiết bị chuồng trại, con giống… Tất cả sản phẩm này đều nhập khẩu và các công ty cạnh tranh giá bán, khuyến mãi, có nơi còn cho nông dân đi nước ngoài.
“Nông dân chúng tôi cần nhất là đầu ra sản phẩm thì không có doanh nghiệp nào đứng ra giúp…”

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975: Người Việt Gốc Me

Bài 6: Người Việt gốc me”
Tác giả: Hoàng Ngọc Trâm – Việt Báo – 16 Mar 2015
Sau tháng tư năm 1975, gia đình tôi trải qua những thay đổi lớn. Ba tôi là trụ cột kinh tế của gia đình, nhưng ông là một công chức của Việt Nam Cộng Hòa, nên tất nhiên ông không thể làm việc dưới chế độ Cộng Sản. Từ đó, gia đình tôi bắt đầu những năm tháng đầy khốn khó.
Gần nhà tôi có một người hàng xóm gọi là “chú Hường” hành nghề chích thuốc dạo, nhưng chú ấy bí mật hoạt động nằm vùng cho Cộng Sản; trước 30/4/1975 chú Hường thường được gọi đến nhà chúng tôi để chích thuốc mỗi khi có người bệnh, và chú rất thích ba tôi vì ba tôi đã đối xử rất tử tế và rộng rãi với chú. Sau 30/4/1975, chú Hường đến nhà và nói thật với ba tôi rằng chú là Cộng Sản và đang làm việc với chính quyền địa phương, nhưng vì chú quý trọng ba tôi, nên chú sẽ giúp cho ba tôi thoát khỏi đợt “tập trung cải tạo”, bằng cách chú sẽ không ghi tên ba tôi vào danh sách “ngụy quân – ngụy quyền”, mà thay vào đó, chú đưa ba tôi vào danh sách “tình nguyện” đi khai khẩn vùng “kinh tế mới” Phú Nhơn; và chú dặn ba tôi hãy khai trong lý lịch là hành nghề giáo viên trước 30/4.
Vì vậy, ba tôi cùng với hai anh lớn trong gia đình phải “cắt hộ khẩu” để đến sống tại vùng “kinh tế mới” Phú Nhơn. Ba tôi vẫn là chủ của căn nhà mà má tôi, tôi và các em tôi đang sống, nhưng vì đã “cắt hộ khẩu”, nên mỗi lần ba tôi và các anh tôi về thăm nhà, thì má tôi phải đi trình báo cho tổ trưởng dân phố biết, nếu không thì trong đêm đó, ba tôi và các anh tôi sẽ bị bắt đến đồn công an vì “tạm trú bất hợp pháp”!
Hồi đó tôi còn nhỏ, chưa hiểu gì nhiều về chính trị và pháp luật, nhưng tôi vẫn cảm thấy lạ lùng và thường hay tự hỏi “Nhà này của ba và các anh tôi, họ đã sống tại đây với chúng tôi suốt bao nhiêu năm, vậy mà giờ đây mỗi lần về thăm nhà thì họ phải đi báo cáo cho tổ trưởng dân phố biết để làm gì nhỉ? Bây giờ ba và các anh của tôi không còn quyền gì trong căn nhà này nữa sao?” Thắc mắc như vậy nhưng tôi cũng chẳng hỏi ai vì lúc nào tôi cũng thấy má tôi tất bật, còn ba và các anh thì thỉnh thoảng mới về nhà, ai cũng bận bịu, lo lắng về một điều gì đó.
Sau một năm sống tại kinh tế mới Phú Nhơn, ba và các anh tôi đã bỏ hết sức để cày cuốc trồng trọt, nhưng đất ở đó chỉ toàn là sỏi đá, tốn tiền mua hạt giống để trồng bắp và các loại đậu nhưng không thu hoạch được gì. Trồng khoai mì, khoai lang, nhưng cũng chẳng đủ để ăn, ba và các anh tôi phải đi vào rừng đốn củi, đốt than, rồi phải xuống Vạn Giã làm thợ chài lưới trên các ghe kéo giã để kiếm tiền. Tiền thu được chỉ đủ sống qua ngày và trả tiền xe về thăm nhà, lâu lâu mới đem về nhà được vài ký gạo.
Không thể chịu nổi cuộc sống quá khổ cực, mất tự do, mà không thấy một tương lai nào sáng sủa cho bản thân và các con, ba tôi quyết định vượt biển, dù biết rằng vượt biển là phải đối diện với tù tội hoặc đối diện với cái chết vì những trận bão tố khủng khiếp bất ngời ngoài biển khơi. Tuy nhiên, ông thà chết chứ không thể cam chịu một cuộc sống như trong địa ngục trần gian.
Thế là ba tôi hợp tác với một nhóm bạn thân, người góp của, kẻ góp công để tổ chức vượt biển. Những người bạn thân của ba tôi thì lo việc mua ghe và mọi phí tổn khác. Ba tôi và hai người anh lớn của tôi thì lo việc tìm bãi, chôn dầu, cất giấu nước và lương thực… Và cuộc vượt biển đã được thực hiện vào mùa thu năm 1977. Ba tôi cùng người anh kế của tôi và các bạn của ông đi thoát được, nhưng vì một phần kế hoạch bị thất bại bất ngờ vào phút chót, nên anh cả của tôi đã bị rớt lại cùng một số người.
Vì ba tôi và các anh tôi không có hộ khẩu chung với má tôi, nên chính quyền điạ phương không phát hiện ngay được sự vắng mặt của ba tôi và anh tôi. Sau đó, khi họ bắt đầu nghi ngờ rằng ba và anh tôi đã vượt biển, thì họ cũng không có lý do gì để làm khó dễ má tôi, vì khi họ gọi má tôi lên phường để gặng hỏi chuyện vượt biển của ba và anh tôi, thì má tôi đã trả lời: “Tôi không biết gì về chồng con tôi cả. Họ đã cắt hộ khẩu đi kinh tế mới hai năm rồi. Khi nào họ về thăm nhà thì tôi gặp được họ, còn thường ngày thì tôi nghĩ là họ đang sống tại kinh tế mới Phú Nhơn. Nếu các ông có biết tin gì về chồng con tôi thì cho tôi hay với.”
Thế nhưng, cũng vì không có cùng hộ khẩu với má tôi, mà anh cả của tôi phải trở thành “người Việt gốc me”.
Bị rớt lại sau chuyến vượt biển ấy, anh cả của tôi không còn chỗ ở. Về lại căn nhà lá ở kinh tế mới ư? Công an ở địa phương đó sẽ bắt anh ngay. Về nhà với má và các em ư? Lại càng bất khả, vì công an khu vực ở đây đã từng bắt nhốt anh cả của tôi nhiều lần với lý do “anh không có hộ khẩu tại nhà này, anh không được sống tại đây”. Nay lại thêm tình nghi rằng anh đã tham gia vượt biển, thì chắc chắn họ sẽ bắt anh ngay lập tức, nếu họ thấy anh lảng vảng về nhà má tôi.
Thế rồi từ đó, trừ những ngày, những tháng và những năm bị nhốt trong các trại giam và nhà tù, thì anh cả của tôi phải lang thang ngủ nhờ ở nhà người quen này một đêm, nhà bạn bè khác một đêm, còn những hôm anh lén về nhà để thăm má, thì anh phải leo lên ngủ trên mái nhà, vì nếu ban đêm công an có ập đến soát nhà, thì anh hy vọng rằng họ có thể không thấy anh, hoặc anh có thể dễ tẩu thoát hơn.
Có một đêm anh cả tôi ngủ trên mái nhà, bị nhiễm lạnh, trẹo cả bắp thịt sau cổ. Sáng sớm, anh nằm trên mái nhà mà quằn quại vì đau đớn. Má tôi phải nhờ hàng xóm giúp khiêng anh xuống đất…
Mỗi lần lén về nhà, anh cả tôi thường đi ban đêm. Vậy mà có lần anh cũng bị công an bắt ngay nơi góc đường gần nhà. Lần đó anh bị nhốt 12 ngày tại đồn công an phường để họ điều tra về “các hành vi phản động” của anh. Má tôi phải nhờ cậy người quen giúp cho “chạy chọt” thì họ mới thả anh ra và đe doạ rằng: “Không bao giờ được lảng vảng về khu vực này một lần nào nữa.”
Khi không còn chỗ để ngủ nhờ một đêm, và cũng không dám lẻn về nhà má nữa, thì anh cả tôi phải đi ngủ ở thềm nhà ga, ở bến xe đò, ở trong các sạp chợ… Có rất nhiều đêm, anh tôi cùng một người bạn thân đã thuê chiếu ngủ tại ga Nha Trang, dưới những hàng cây me. Má tôi có dẫn tôi đến đó thăm anh, và tôi thấy có rất nhiều gia đình cũng đang sống lây lất màn trời chiếu đất quanh sân ga và trong cái công viên tồi tàn dơ dáy trước ga.
Thuở đó, chúng tôi đùa với nhau, gọi anh cả tôi cũng như bạn anh ấy và những người sống lây lất ở ga Nha Trang là những “người Việt gốc me”. Má tôi đã khóc hết nước mắt khi nhìn thấy con mình vô tội mà phải sống lang thang ngoài đường như thế.
Rồi sau bao nhiêu lần vượt biên không thành, bao nhiêu lần vào tù ra khám, anh cả của tôi và người bạn thân của anh ấy cũng thành công. Giờ đây đại gia đình chúng tôi sống tại Úc. Ở đất nước tự do này, chúng tôi có thể cư ngụ bất cứ nơi đâu chúng tôi muốn, mà chẳng bao giờ cần báo cáo cho một chính quyền địa phương nào cả. Chúng tôi có một cuộc sống thực sự an lành, tự do và hạnh phúc.
Một lần, cách đây không lâu, vài bạn người Úc của tôi nhìn thấy bức hình những người Việt Nam nằm bên lề đường, gần đó có một tấm bảng viết những dòng chữ gì đó, thì họ tò mò hỏi tôi về ý nghĩa của bức hình ấy. Tôi giải thích cho họ rằng đó là bức hình chụp cảnh những người Việt Nam bị chính quyền tham nhũng chiếm nhà, cướp đất, nên không còn chỗ ở, phải sống lây lất bên lề đường; còn những dòng chữ đó mang ý nghĩa chua chát rằng “trên đất nước độc lập, tự do này thì chúng tôi phải nằm co bên vệ đường để ngủ qua đêm”.
Tôi giải thích thêm cho họ biết rằng “độc lập – tự do – hạnh phúc” là cái phương châm luôn luôn gắn liền với tên của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Rồi tôi kể cho họ nghe câu chuyện của gia đình tôi. Thật là khó
khăn để giải thích các bạn Úc hiểu vấn đề “hộ-khẩu” ở Việt Nam, vì ở Úc chưa bao giờ có khái niệm về “hộ-khẩu”. Sau khi nghe tôi kể chuyện, họ vô cùng ngạc nhiên và nói: “Thực là buồn cười, chính phủ Việt Nam đã hành động hoàn toàn trái ngược với cái phương châm mà họ đưa ra. Nước Úc đâu có cần phải đưa ra một phương châm như vậy, nhưng nước Úc lại thực sự có độc lập, tự do và hạnh phúc. Chúng tôi càng ngày càng hiểu lý do tại sao các bạn đã bỏ nước ra đi…” Rồi họ vui vẻ nói thêm: “Bây giờ, gia đình bạn là người-Úc-gốc-Việt”!
Từ 1975 cho đến nay, bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng ở Việt Nam giờ đây vẫn có rất nhiều người không còn nhà cửa, vì đất đai của họ đã bị “quy hoạch” hay “cưỡng chế” bởi một chính quyền tham nhũng. Nhiều người không được đền bù, và nhiều người chỉ được đền bù bằng một giá rất thấp, không đủ cho họ đi mua một chỗ khác để ở. Trong khi đó, những vùng đất bị “quy hoạch” hay “cưỡng chế” sẽ nhanh chóng biến thành tiền bạc, đất đai, nhà cửa, khách sạn… của tầng lớp cai trị.
Không có nhà để ở, họ đành ở trên lề đường, ngủ tạm ở bất cứ nơi nào họ có thể. Giờ đây, khắp nơi trên đất nước Việt Nam, rất nhiều hàng cây cao đã bị đốn sạch. Thỉnh thoảng tôi thầm nghĩ: “Có còn những hàng cây me bên những nhà ga để họ đến trải chiếu ngủ đỡ vào ban đêm như anh cả tôi và bạn của anh ấy ngày xưa không? Hay họ phải ngủ dưới gầm cầu, trong ống cống… trong những đêm lạnh lẽo?”
Xem tấm hình chụp cảnh những người dân oan mất nhà mất đất ở An Giang nằm dọc theo những vệ đường với tấm bảng ghi khẩu hiệu “DÂN AN GIANG – ĐỘC LẬP TỰ DO NẰM CO VỆ ĐƯỜNG VÌ MẤT NHÀ ĐẤT”, tôi buồn và xót xa làm sao. Bây giờ chúng ta gọi họ là “người Việt gốc …” gì nhỉ?
3/2015 HNT