Bài 4: Cuộc Đào Thoát Ly Kỳ Của Một Tù Nhân
Trốn Trại qua Kampuchia
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thạch (Khóa 20 Võ Bị Đà Lạt) - Nguyễn Hiệp gởi – 20 April 2015
Sau khi ở tù cải tạo đuợc 5 năm, khi tôi đang ở trại Suối Máu Biên Hòa,
thì có một số tù đuợc đua lên trại Tống Lê Chân gần An Lộc Bình Long.
Tôi mừng thầm là nếu đưa tôi lên Tống Lê Chân thì tôi có rất nhiều hy
vọng để trốn trại, vì tôi biết rất rõ vùng đất này.
Đon vị đầu
tiên khi tôi mới ra truờng là Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3, Trung đoàn
9, Sư đoàn 5 Bộ Binh đóng gần sân bay An Lộc Bình Long.Và trong suốt
thời gian phục vụ từ cấp Trung đội lên đến cấp Trung đoàn tôi vẫn ở
trong vùng rừng xanh đất đỏ này.
Giữa tháng 5 năm 1980, họ chuyển
tôi từ trại Suối Máu Biên Hòa lên trại Tống Lê Chân. Đây là một trại tù ở
giữa rừng, gồm các dãy nhà tranh với mấy lớp hàng rào kẻm gai bên ngoài
và một lớp hàng rào tre bao bọc bên trong che kín, không nhìn thấy đuợc
bên ngoài. Ở bốn góc và ngay cổng ra vào là các chòi canh đuợc trí súng
đại liên. Sau khi lên đến trại Tống Lê Chân, chúng tôi liền nghiên cứu
ngay kế hoạch để trốn, vì phải trốn càng sớm càng tốt.
Khi ở trại
Suối Máu Biên Hòa tôi có luợm được một cục nam châm hình trụ to bằng đầu
ngón tay. Theo nguyên tắc của địa bàn thì khi một thanh nam châm đuợc
treo trên sợi chỉ, đuợc quay tự do thì một đầu luôn luôn chỉ về huớng
Bắc, còn đầu kia là huớng Nam. Vì hai đầu giống nhau nên tôi phải dùng
dầu hắc nhựa đuờng để làm dấu đầu huớng Bắc.
Trong thời gian ở tù
chung nhau qua các trại, tôi có quen thân và hay tâm sự với Thu, một
nguời cùng thuộc Sư đoàn 5 Bộ Binh truớc đây và có cùng chung một quyết
tâm là sẽ cùng nhau trốn trại khi có dịp.
Thu cũng cho biết là có
thêm một nguời bạn nữa cũng muốn nhập bọn đó là Bình. Bình là một nguời
rất tháo vát, lanh lợi và đã từng đổ đầu khóa học “Rừng Núi Sình Lầy” ở
trường Biệt Động Quân Dục Mỹ, Nha Trang. Bình đã làm đuợc một cái kềm
để cắt kẻm gai. Kềm này làm bằng hai quai xách của cuộn kẻm gai
concertina, hai quai xách này bằng thép rất cứng. Khi một đầu đuợc đập
dẹp, mủi mài nhọn và đục lổ, thì trông giống nhu luởi dao. Nhưng khi hai
cái luởi dao ghép chập vào nhau và dùng một cây đinh làm trục xỏ xuyên
qua hai lổ, thì biến thành một cái kềm để cắt kẽm gai.
Để chuẩn bị
cho việc trốn trại, mỗi nguời may một túi vải nhỏ bằng loại vải ngụy
trang để đựng đồ mang theo như lon guigoz, mì gói, gạo muối v.v…
Mỗi nguời mang theo một bộ đồ thật tốt, quần tây áo sơ mi bỏ trong bọc
nylon thật kín cho khỏi uớt, để bên trong áo truớc ngực, mặc đồ trận áo
lính cũ bên ngoài. Ngoài ra tôi còn may thêm một cái túi vải nhỏ để cất
giữ cái địa bàn, có dây choàng qua cổ để khỏi rớt mất. Mỗi lần đo là tôi
rút một sợi chỉ từ lai áo trận và nhờ tôi có làm dấu đầu huớng Bắc bằng
dầu hắc nhựa đuờng nên tôi sờ vào là biết để đi cả ban đêm.
Chúng tôi phải kiểm soát lẫn nhau cho thật kỹ, quần áo mặc, túi vải, đồ
đạc mang theo tất cả đều phải đuợc ngụy trang cho tiệp với màu cây lá
trong rừng và không được gây ra tiếng động chạm nào.
Ngoài ra
chúng tôi còn sắp đặt những gì sẽ bỏ lại, thật ít đồ bỏ lại, cố ý ngụy
tạo như là có ý định sẽ đi xa, tức là sẽ đi về huớng Bắc để qua biên
giới Kampuchia.
Buổi chiều hôm đó tôi và Thu cùng ăn chung nhau, đem
tất cả những gì ngon đem ra ăn, ngốn cho thật đầy bụng để lấy sức tối
đi. Tất cả đồ còn lại đem cho hết hoặc chôn dấu. Thu đem cả túi balô
quần áo cho bạn bè. Tôi có cho một nguời bạn cùng khóa là Lương Văn Thìn
mấy gói mì, mà bạn tôi không hiểu tại sao, tuyệt nhiên tôi không có đá
động gì tới chuyện trốn trại.
Suốt trong ba tuần lể liền, Thu đã
phải theo dỏi thật kỹ các toán tuần tra canh gác, giờ nào đi tuần, giờ
nào đổi gác v.v…Sau cùng chúng tôi đã đi đến quyết định giờ xuất phát là
9 giờ tối, khi máy phát điện vừa tắt thì bắt đầu chui ra.
Ở đây mỗi tối có máy phát điện cho công an coi truyền hình, đến 9 giờ thì tắt.
Sau đó họ về sửa soạn độ 15 phút sau là bắt đầu đi tuần. Và theo như
chúng tôi dự tính là phải mất 10 phút để cắt kẻm gai và 5 phút chót phải
bò thật nhanh qua con đuờng tuần tra là khoảng đất trống bên ngoài.
Địa điểm thuận lợi nhứt để chui ra là khoảng giữa hai chòi canh phía sau trại.
Ban đêm họ đứng gác trên chòi canh cao nên không thể thấy rõ ở duới đất
đuợc, theo đúng nguyên tắc canh gác ban đêm là phải ở duới thấp. Còn
ngày đi thì chúng tôi chọn vào cuối tuần trăng, để khi chui ra thì trời
còn tối, đến nửa đem trăng lên dễ thấy đuờng để đi. Chúng tôi chọn đêm
22 ta, âm lịch, vì tin dị đoan sợ đêm 23 ta là không tốt.
Đúng 8 giờ
ruởi tối đêm 22 tháng 4 âm lịch tức là ngày 3 tháng 6 năm 1980, chúng
tôi bắt đầu theo đúng kế hoạch ra ngồi ngoài cầu tiêu, để chuẩn bị cắt
dây lạt của lớp hàng rào tre truớc, để đến đúng 9 giờ khi máy phát điện
vừa tắt là chui ngay.
Nhưng không ngờ khi đó chúng tôi thấy ở
ngoài suối có ánh đèn của công an đang đi bắt cá ở duới suối, nên chúng
tôi phải ngưng lại ngay và trở vô ngủ như thuờng lệ.
Qua đêm hôm sau bắt buộc là phải đi chớ không thể nào chần chờ được nữa, vì sợ nếu để lâu dể bị bại lộ.
Lần này cũng đúng 8 giờ ruởi là ra cầu tiêu, vì cầu tiêu là chổ tốt
nhứt để tới sát hàng rào mà không ai để ý.Bình bắt đầu cắt dây lạt của
lớp hàng rào tre và cố vạch ra một lỗ để sẳn sàng chui ra. Lớp hàng rào
tre này đuợc chôn sâu duới đất và sát khít nhau bằng hai lớp tre đan
chéo vào nhau dầy đặc.
Vì vậy rất khó gở ra, phải đào sâu xuống
đất mới vạch ra một lỗ vừa chui và phải làm thật chậm thật kỹ vì sợ ở
chòi canh nó có thể thấy lúc lắc ở đầu ngọn rao` tre.
Khi máy phát
điện vừa tắt bầu trời chụp tối đen là lúc chúng tôi bắt đầu chui, thì
bất ngờ có thêm hai nguời đợi chui trốn theo. Thật hết sức bất ngờ và
không thể nào từ chối đuợc nên chúng tôi đành phải lo bảo bọc nhau cùng
trốn.
Bình chui ra truớc là để cắt kẻm gai rồi đến tôi chui kế,
tiếp theo là hai nguời trốn chui theo và Thu là nguời chui sau cùng. Sau
khi chui ra khỏi lớp hàng rào tre thì gặp lớp hàng rào kẻm gai thứ
nhứt. Nhưng phía duới lớp hàng rào kẻm gai này là rãnh thoát nuớc với
đất bùn xình hôi thúi, nên chui lòn qua đuợc mà khỏi phải cắt.
Đến lớp hàng rào kẻm gai thứ hai thì Bình bắt đầu cắt. Hàng rào kẻm gai
của VC rào thì họ có quá nhiều kinh nghiệm cho nên họ cho rào rất kỹ.
Họ bắt phải đào một cái rảnh sâu xuống đất rồi mới trồng cột sắt lên và
rào kẻm gai ngay từ phía duới rào lên, rồi lấp đất lại, nên không có
cách nào vén lên để chui lòn qua đuợc, mà chỉ có cách duy nhứt là phải
cắt thì mới chui ra đuợc.
Mà cái kềm cắt kẻm gai của Bình biến chế
nên không cắt dễ dàng nhanh chóng đuợc. Khi đang nằm chờ trong đám cỏ
tranh giữa mấy lớp hàng rào với quần áo đầy bùn xìn hôi thúi, tôi nhìn
lên bầu trời đầy sao, cảm thấy như bình tâm chấp nhận những gì đến sẽ
đến, vì không còn cách nào hơn để lựa chọn đuợc nữa.
Bình cắt xong hàng rào này cũng mất 5 phút mới qua đuợc và còn một lớp sau cùng cũng mất 5 phút nữa.
Và cuối cùng chúng tôi chui qua đuợc hết và phải bò thật nhanh, chỉ
dùng cùi chỏ và đầu gối bò thật sát mặt đất như bò hỏa lực, vuợt thật
nhanh qua khoảng đất trống, rồi truờn mình xuống suối. Lúc đó tôi có cảm
giác như tim tôi đập quá mạnh như muốn vỡ lồng ngực. Tiếng thở dồn dập
hổn hển mà tôi nghe rất rõ, và gợn lên sóng nuớc khi ngâm mình trong
nước để lội qua suối.
Qua bên kia bờ suối chúng tôi phải bám theo rể
cây để leo lên vì lòng suối sâu hẩm. Lên khỏi suối là băng mình qua đám
rừng tre, rồi băng qua con đuờng mòn. Con đuờng mòn này đi ra chuồng bò
nên chúng tôi phải tránh xa nơi đây gấp vì sợ có nguời lui tới.
Bất ngờ Thu bị lọt xuống một hố sâu có lẽ là hố rác, tụi tôi phụ nhau
kéo Thu lên. Vừa lên xong là đâm đầu chạy vô phía rừng rậm. Không bao
lâu sau, bỗng nghe tiếng súng đại liên từ các chòi canh nỗ ran trời và
sau đó là những tiếng quát tháo hò hét của đám công an chạy túa ra về
phía chúng tôi, càng lúc nghe càng gần.
Tiếng lên đạn súng AK47
nghe rớp rớp, tiếng hò hét vang động khắp nơi, tiếng chửi rủa hăm dọa
“địt mẹ ra đi không tao bắn chết mẹ hết bây giờ”, nghe rất gần ở ngoài
con đuờng mòn mà chúng tôi vừa mới chạy qua. Vì vậy chúng tôi hết đuờng
chạy, sợ chạy sẽ gây ra tiếng động dễ bị lộ, nên 5 đứa tụi tôi đành phải
chui vô một bụi rậm, nằm rút trong đó.
Sau này được biết là sau
khi chúng tôi chui ra khỏi hàng rào, thì lại có nguời chui trốn theo,
nên bị phát giác bị bắt và bị đánh chết tại hàng rào và họ liền truy
đuỗi theo để bắt chúng tôi.
Chúng tôi cố nằm yên không động đậy. Một
lúc sau nghe tiếng máy điện chạy trở lại và nghe tiếng lào xào ở trong
trại, chắc là VC đang ra lệnh tập hợp điểm danh. Một hồi lâu sau thấy
yên tịnh, không hiểu là họ vẫn còn lục soát hay ngồi núp rình đâu đó hay
là đã đi chổ khác. Nhưng trong lúc đó chúng tôi quyết định là phải bò
đi vì không thể chần chờ ở đây lâu đuợc.
Chúng tôi 5 đứa bắt đầu
bò đi thật chậm, hai tay rồi lại hai chân, đưa lên đặt xuống thật nhẹ
nhàng, nếu lở có một tiếng động nhỏ như tiếng lá cây kêu sột soạt hay
một tiếng cành cây gãy là ngưng lại ngay nghe ngóng rồi mới bò tiếp. Bò
đuợc một lúc lâu chừng một tiếng đồng hồ, tôi nghi là chưa đi đuợc bao
nhiêu, chân tôi bị đứt ngang ở ống quyển máu ra ướt xuống tới vớ, tôi rờ
thấy ướt mới biết, nhưng cũng chẳng thấy đau đớn gì.
Sau đó
chúng tôi bắt đầu đứng dậy để đi cho nhanh ra khỏi chổ này, nhưng vẫn đi
hết sức thật cẩn thận, buớc đi thật nhẹ nhàng im lặng.
Tôi lấy
thẳng huớng Nam mà đi, đi ngược với huớng Bắc là hướng qua biên giới.
Chúng tôi giữ đúng hướng, không đi theo đuờng mòn hay chổ trống, bất kể
là băng qua các đám ôrô duới suối hay bụi lùm gai góc. Và càng lúc nghe
tiếng máy điện ở phía sau lưng càng nhỏ dần.
Khi đó nghe có tiếng xe
molotova, loại xe chở quân của VC, chạy đổ ra tứ phía. Chúng tôi phải
đi chậm lại, sửa soạn đồ đạc cho thật gọn gàng, tuyệt đối không đuợc gây
tiếng động và phải quan sát cho thật kỹ.
Mỗi nguời nhìn một huớng,
khi đến chổ trống hay gặp đuờng mòn là dừng lại lủi ngay vô bụi rậm gần
nhứt rồi từ từ quan sát sau. Có nhiều lúc gặp VC đang đi bằng xe đạp,
chạy ngang qua rất gần mà họ không thấy. Mỗi khi muốn băng qua đường mòn
hay trảng trống, chúng tôi dừng lại nghe ngóng quan sát rất kỹ rồi mới
chạy nhanh qua từng nguời một. Bỗng đâu có một tốp nguời Thuợng, vợ
chồng con cái vừa đi vừa nói chuyện lào xào, nên chúng tôi lủi tránh kịp
thời.
Lúc trời sáng hẳn chúng tôi đổi huớng đi về phía Đông tức là
huớng ra quốc lộ 13. Đi trong rừng hoang vắng nhưng thỉnh thoảng nghe có
tiếng đốn cây chặt củi, chúng tôi phải tránh xa ra.
Đi tới chiều
thì gặp con đường lộ đá đỏ, đó là đường vô Minh Thạnh. Chúng tôi chuẫn
bị kỹ rồi băng qua đường cho thật nhanh và lủi vô sâu trong rừng một
khoảng xa rồi dừng lại nghỉ.
Chúng tôi lựa chổ kín đáo để dừng lại
nghỉ, bởi vì từ đêm tới giờ gần một ngày tròn đã đem hết sức lực để cố
vuợt thoát xa vùng nguy hiểm, nên bây giờ thấy thấm mệt, nhứt là vấn đề
nước uống rất là khan hiếm. Tôi mang theo lon guigoz đựng nuớc uống
nhưng đã bị đỗ mất hết vì nắp đậy của lon guigoz không kín chắc, giờ
thấy khát rát cỗ họng
May sao Bình tìm đuợc một giếng nuớc bỏ
hoang, cỏ mọc um tùm, nhìn xuống giếng tối om không thấy nuớc, nhung khi
thòng lon guigoz xuống, múc lên đuợc những lon nuớc thật trong veo,
uống thật ngon thật đã, nhờ đó chúng tôi ăn mì gói với nuớc lạnh.
Xong rồi lấy thêm đầy nuớc rồi đi ngay, tiếp tục lấy hướng Đông để ra Quốc lộ 13.
Trời bắt đầu tối, nhưng khi tiếp tục đi thì nghe có nhiều tiếng súng
trong rừng, chắc có lẻ là họ đi săn, mà cũng có thể là bọn công an, vì
vậy chúng tôi phải dừng lại để tìm cách lẫn tránh.
Chúng tôi ra
giữa đám trảng tranh lớn cao quá ngang đầu, vạch đuờng ra ở giữa đám
tranh, trải một tấm nylon để nằm nghỉ lưng và canh chừng mọi động tĩnh
chung quanh.
Nếu có nguời đi tới thì chúng tôi sẽ thấy dễ dàng để
tìm đường lẫn tránh, nhưng nguợc lại họ sẽ không thấy chúng tôi đuợc vì
tranh cao quá khỏi đầu.
Khi đó hỏi chuyện nhau mới biết tên hai
nguời đi chui theo, đó là Tuờng phi công phản lực A37 và một nguời nữa
tên là Thạch, hình như là nguời Việt gốc Hoa, tôi không biết đơn vị, cả
hai anh đều mang dép nên rất khó đi.
Sáng sớm hôm sau chúng tôi tiếp
tục lên đuờng sau khi xóa mọi dấu vết. Khi đi thỉnh thoảng gặp các bẩy
của nguời Thuợng rất là nguy hiểm, như bẩy cò ke, nếu vuớng chân vào thì
cần bật sẽ bung lên rất là mạnh, có thể làm bị thương, hay bẩy bắn tên
khi đụng vào cần bật thì bao nhiêu mủi tên tẫm thuốc độc sẽ bắn xuống.
Vì vậy khi thấy khả nghi là phải dừng lại xem xét cho thật kỹ rồi tránh
xa ra. Chúng tôi rất khát nuớc vì đi cả ngày mồ hôi ra nhiều mà không
có miếng nuớc uống nên khát dữ lắm.
Gặp một cây nói là trái gấm,
Bình leo lên hái xuống ăn thử, vừa ngứa miệng, vừa khát nước thêm. Có
lần gặp được nước đọng trong các lằn bánh xe bò và trên những lá cây khô
còn đọng nuớc của những trận mưa truớc, chúng tôi góp nhặt lại hớp
những giọt nước đó cho đở khát.
Đến chiều thì trong lúc đang đi bất
chợt gặp một em bé trai độ 11, 12 tuổi đang lang thang trong rừng. Chúng
tôi giả dạng như là cán bộ đi khảo sát địa chất và hỏi em bé ở đâu có
suối, thì em bé đó chỉ về huớng truớc mặt, đi thêm vài chục thuớc là
thấy suối, một con suối rất lớn.
Nhìn ở phía xa kia là một khu
rừng đã đuợc phát quang và có các cây to bị đốt cháy nám đen, một đám
nguời đang cuốc đất làm rẩy, chắc là dân vùng kinh tế mới. Chúng tôi lội
xuống suối uống một bụng nước thật no nê. Sau đó chúng tôi tìm chổ bụi
lùm kín đáo để nấu cơm, nấu bằng lon guigoz, hai đứa thay phiên nhau
quạt để khói đừng bốc lên cao. Chúng tôi ăn bửa cơm này thật là ngon, ăn
cơm nóng với bột ngọt trong gói mì.
Sau khi ăn xong, trời đã xế
chiều, chúng tôi thấy đoàn nguời làm rẩy đi về nhà đi theo hướng Đông,
như vậy là ra Quốc lộ 13, nên chúng tôi đợi cho họ đi hết rồi mới men
theo con đuờng mòn đó để đi cho nhanh. Đi độ chừng một tiếng đồng hồ thì
ra tới ấp, tôi đoán chừng là vùng Tân Khai hay Tàu Ô, nằm cạnh Quốc lộ
13. Thấp thoáng nhìn từ xa thì thấy có lớp hàng rào tre bao bọc, và hình
như có cổng ra vào, giống nhu một trại tập trung, nên chúng tôi không
dám đến gần và cũng không muốn vô đó làm gì.
Sau khi trời xụp tối
thì chúng tôi tiếp tục đi, chúng tôi dự định đi trong bìa rừng theo
đuờng rầy xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh nằm song song với Quốc lộ 13 để đi,
dự định sẽ đi qua khỏi quận Chơn Thành, rồi mới ra đuờng đón xe. Riêng
hai nguời trốn theo là Tuờng và Thạch thì không dám đi nữa, mà họ có cho
địa chỉ nếu ai về đuợc đến Sài Gòn thì nhắn dùm gia đinh họ lên đón.
Chúng tôi ba đứa đi lần mò trong đêm và vì trời tối quá nên không đi
đuợc bao xa, mà đành phải dừng lại nghỉ qua đêm. Sáng sớm hôm sau lên
đuờng đi tiếp, đi cho đến trưa thì dừng lại nghỉ bên cạnh một cái ao nhỏ
xung quanh có cây cối um tùm, dễ ẩn náu để nấu cơm ăn.
Xong rồi
lại đi tiếp, đến chiều chạng vạng tối thì đến một cái ấp khác, một xóm
nhà lô nhô ngoài gần quốc lộ, chúng tôi ở bìa rừng trốn trong hầm hố cũ
đuợc che phủ bỡi những lùm tre rất kín đáo. Buổi chiều dân trong làng đi
lao động về, họ đi ngang qua khá gần chổ chúng tôi đang trốn, tiếng chó
sủa dữ dội nhưng họ không để ý mà chỉ lo đi cho mau về nhà.
Chiều
hôm đó nằm nghe tiếng chó sủa, tiếng trẻ con đùa giởn trên đuờng, nhìn
khói lam chiều từ một mái nhà tranh quyện bay lên không trung mà lòng
tôi cảm thấy buồn vô hạn. Chạnh lòng nhớ đến vợ con, thầm nghĩ đến một
mái ấm gia đình bên vợ hiền con thơ mà tôi uớc mơ đuợc như họ. Được sống
đầm ấm trong một căn nhà tranh vách đất ở một miền thôn quê rừng núi
nào đó. Nhưng nghĩ lại thân phận tôi là một người tù trốn trại, tương
lai rất mờ mịt, không biết ngày mai sẽ ra sao.
Một uớc muốn tầm
thuờng, đuợc làm một nguời dân bình thuờng để sống mà lo cho gia đinh
nuôi vợ nuôi con cũng không đuợc. Tôi buồn cho thân phận bơ vơ lạc lõng
của tôi trong cái xã hội mới này. Hoàn cảnh của tôi thật đúng với câu
“nước mất nhà tan, gia đình ly tán”.
Đêm đó chúng tôi khát nước
vô cùng, cồn cào lên cổ họng. Bình với ý định lẻn vô nhà dân để xin nuớc
uống, nhưng tôi với Thu cản lại, vì bao công trình giờ rủi ro vô gặp
phải nhà của công an thì nguy khốn, đành chịu nhịn khát qua đêm. Nhưng
không ngờ đến khoảng nửa đêm thì trời đỗ xuống một trận mưa thật lớn.
Chúng tôi mừng quá lấy tấm nylon ra căng để hứng nuớc uống. Uống no bụng
xong rồi, đỗ đầy vô lon guigoz mà trời vẫn tiếp tục mưa càng lúc càng
lớn.
Chúng tôi bị lạnh quá phải ôm lấy nhau trên đầu phủ tấm nylon
và mỗi đứa phải lo ôm thật chặt bộ quần áo tốt ở trong bọc nylon, ôm kỹ ở
truớc ngực để giử cho khô. Trận mua này thật lớn thật lâu sau cùng rồi
cũng dứt hẳn.
Vì không thể đi tiếp trong rừng cho đến quân Chơn
Thành, vì đuờng còn xa mà đường rầy xe lửa thì không còn nguyên như
truớc nữa, mà chỉ còn là những đám rừng tre che phủ um tùm rất là khó
đi, chỉ có thể chui lòn duới đám tre gai, cho nên chúng tôi quyết định
là sẽ chia tay nhau ở đây, phân tán ra mỗi nguời tự tìm cách để đi về
Sài Gòn rồi sẽ gặp lại nhau sau.
Trời hừng sáng chúng tôi thay bộ đồ
thật tốt thật tươm tất, đồ đạc còn lại đem chôn dấu trong bụi, xong chờ
cho đến khi nghe có tiếng xe chạy là lần luợt ra đuờng, lựa khoảng
trống giửa hai nhà mà ra đón xe.
Bình lên đuờng trước tiên, một lúc
sau thì đến Thu, và tôi là nguời ra đuờng sau cùng. Khi buớc ra quốc lộ
13 tôi lấy bình tỉnh đi men theo bên đường chờ đón xe. Tôi không thấy
Bình đâu hết mà chỉ thấy Thu đang đi phía truớc tôi một khoảng xa. Có
chiếc xe Lam (xe ba bánh chở hành khách hiệu Lambretta) chạy trờ tới tôi
liền đón để đi, vì xe đã đầy nguời nên tôi phải đeo theo xe đứng ở phía
sau. Thu cũng lên đuợc chiếc xe đi truớc tôi. Xe chạy qua cầu Tàu Ô và
như vậy là đêm qua chúng tôi đã ngủ ở giửa khoảng Tàu Ô – Tân Khai.
Trước kia, đây là đoạn đuờng nguy hiểm nhứt của quốc lộ máu mang số 13
và cũng chính nơi đây đã xảy ra những trận chiến vô cùng ác liệt, mà dấu
vết các hầm hố còn lại rất nhiều, dọc theo bìa rừng trông ra quốc lộ.
Khi xe vô quận lỵ Chơn Thành tôi xuống xe ở đầu ấp Chơn Thành 2 để đi bộ
vô, vì sợ vô tới bến xe sẽ gặp công an
Đi bộ dọc theo con đuờng vào
quận lỵ, tôi nhớ lại các nơi mà ngày xua quen biết như Trại cưa Lê
Quang, Trại cưa Mai Chấn Hung, Lò than ông Năm Thãnh, sau này ông Năm
Thãnh cũng lập thêm trại cưa.
Đi gần đến chợ là đến bến xe và tại
ngả tư đường đi Đồng Xoài có một đồn cảnh sát hồi xưa, bây giờ là đồn
công an Việt Cộng. Tôi dự định đi bộ ra khỏi quận lỵ rồi mới đón xe để
đi Bình Dương. Tôi đi ngang qua dãy phố chợ mà ngày xua có các tiệm ăn
như Nghĩa Thành, Bạch Tuyết, nổi tiếng với món canh chua cá lóc, cá kho
tộ.
Đi ngang qua ngôi chùa, qua cây cầu là gần đến đầu quận lỵ.
Tôi nhìn thấy Thu đang đi phía truớc bỗng dưng đổi huớng qua trái tấp vô
một quán nước.
Tôi nhìn kỹ về phía truớc phía bên phải thì thấy
có một trạm kiểm soát nên tôi cũng đổi hướng qua trái tấp vô một quán
nuớc. Tôi nhớ mài mại hình nhu đây là quán của bà Năm Chích, có cô con
gái ra tiếp. Tôi kêu một ly cà phê, ngồi uống để quan sát coi trạm kiểm
soát đó nó hoạt động như thế nào.
Tôi thấy rõ hai thằng công an
coi tù ở trong trại ra đây chận xét xe để nhìn mặt bắt chúng tôi, hai
tên này đứng bên cạnh trạm kiểm soát tài nguyên.
Mỗi khi xe đến
đó, tài xế vô trình giấy tờ cho trạm kiểm soát tài nguyên ở bên trong,
thì hai tên công an đứng bên ngoài đi ra lục soát xe. Tôi đoán chắc là
nó sẽ bố trí chận xét ở đây để bắt tù trốn trại, vì đây là quân lỵ gần
nhất, mà muốn ra khỏi quận thì phải đi ngang qua trạm kiểm soát này. Nếu
đi bằng xe đạp, xe thồ, mặc đồ như nguời đi làm cây làm củi trong rừng
thì mới lọt qua đuợc. Còn nếu bây giờ băng vô trong rừng để đi bọc qua
thì cũng sợ gặp phải nguời lạ mặt họ dể nghi ngờ, vì mình mặc đồ sạch sẽ
tươm tất quá.
Tôi còn đang phân vân không biết phải làm cách nào
để qua khỏi trạm kiểm soát này, thì thấy Thu đi nguợc trở lại, ngang
qua chổ tôi. Thu trở lại bến xe để đón xe đi, còn Bình thì không còn
thấy tâm dạng đâu hết, chắc là đã đi thoát rồi.
Tôi ngồi chờ một hồi
thì thấy chiếc xe lô chạy trờ tới, tôi nhìn thấy Thu ngồi ở băng sau
cùng. Xe tới trạm kiểm soát thì ngừng lại, trong khi nguời tài xế vô
trình giấy tờ thì một tên công an đi ra nhìn vào xe, một lúc sau thì tài
xế trở ra và nó cho xe chạy đi. Tôi mừng cho Thu đã thoát nạn, giờ đây
chỉ còn lại một mình tôi, tôi không còn biết cách nào khác hơn là trở
lại bến xe để đón xe đi. Đây là chổ nguy hiểm nhứt mà tôi cố tránh nhưng
không đuợc nên đành phải liều mạng.
Khi vô bến xe thì thấy có một
chiếc xe lô, loại xe nhỏ để chở khách, tôi thấy xe trống trơn chưa có
ai, tôi lên ngồi băng sau cùng. Ngồi một lúc lâu thấy nóng ruột nên mới
hỏi bác tài là xe chừng nào chạy, ông ta nói chờ khách lên đầy thì đi,
mà thuờng là khách ở trong Minh Thạnh ra nhiều. Tôi hơi lo vì khách ở
trong Minh Thạnh ra có thể là công an trong trại ra đi phép.
Ngồi
một hồi lâu thì chợt có một tốp người đi buôn than họ lên gần đầy. Bỗng
tôi thấy có hai đứa nhỏ độ hơn 11 tuổi tay cầm một con gà, tay xách một
giỏ đồ, tôi liền nhanh miệng kêu hai em bé đó vô ngồi gần bên tôi và
tôi phụ xách dùm đồ, làm như vậy thấy đở trống trải vì có hai em nhỏ che
đở phần nào.
Khi xe chạy tới trạm kiểm soát thì dừng lại, bác
tài vào trình giấy tờ trong trại kiểm soát tài nguyên. Tôi thấy một
thằng công an, đứng bên cạnh trạm kiểm soát, buớc ra để nhìn mặt nguời
trên xe.
Nó nhìn vào băng truớc, trên đó có hai nguời ngồi, tôi
nghe tiếng quát tháo của tên công an là hai nguời ngồi đằng truớc là
“tại sao đầu tóc để dài bù sù nhu cao bồi du đảng, đâu đưa giấy tờ coi”.
Sau khi coi xong giấy tờ hai người phía truớc là nó liệng vô xe rồi ra
lệnh cho đi một cách thật oai quyền. Cũng vừa lúc bác tài đã trở ra xe,
bác tài liền rồ ga cho xe chạy đi, mà lòng tôi vui mừng khắp khởi vì vừa
thoát được một trạm kiểm soát thật là vô cùng nguy hiểm.
Xe chạy
qua khỏi Tham Rớt, Bầu Bàn, Bầu Lòng rồi đến quận Bến Cát, ở đây cũng
có trạm kiểm soát nhưng là trạm kiểm soát tài nguyên nên không có gì trở
ngại.
Xe chạy về tới Chánh Hiệp Bình Dương, một trạm kiểm soát rất lớn, nơi cửa ngỏ vô thành phố nên xe đậu nối đuôi nhau rất dài.
Chiếc xe tôi đi là xe nhỏ chở than lậu nên tài xế đã biết cách vô trình
giấy tờ và nộp tiền mải lộ là xong ngay. Xe đi tiếp vô thành phố vào
đậu ở bến xe, tôi xuống xe cũng vẫn còn nắm tay hai em bé vô mua giấy xe
để về Sài Gòn, vì hai em bé đó cũng về Sài Gòn. Tôi thấy người ta sắp
thành hàng dài để chờ mua vé xe, tôi cũng sắp vô hàng chờ đợi.
Nhưng khi tôi nhìn kỹ lại thì thấy mỗi nguời khi mua vé xe đều phải
trình ra một thứ giấy tờ gì đó, hình như là giấy phép đi đuờng hay là
giấy căn cuớc, mà trong mình tôi thì không có thứ giấy tờ nào nên tôi
hơi sợ, nên mới nói với hai em nhỏ là cứ sắp hàng để mua vé về Sài Gòn
truớc đi còn tôi thì sẽ đi sau. Tôi bỏ ra ngoài tìm đường khác để đi,
chớ khi mua vé họ hỏi đến giấy tờ là mình không biết trả lời ra sao, vì
trong mình tôi không có thứ giấy tờ nào hết.
Tôi vào quán nước
kêu ly nuớc đá chanh vừa uống vừa quan sát để tính kế. Bỗng chợt thấy xe
Honda ôm, tôi liền nghĩ ra phương cách hay nhứt để đi về Sài Gòn là
bằng xe ôm.
Tôi dự định là sẽ về nhà của chị Đồ ở Phú Thọ. Trong
những lần đi thăm nuôi, vợ tôi thường đi chung với chị Đồ nên hai gia
đinh rất thân nhau và trước khi trốn trại tôi có dọ hỏi anh Đồ địa chỉ
nhà cho thật kỷ, thật đầy đủ chi tiết đuờng đi nước buớc, làm sao vô
nhà, đi vô ngỏ hẻm nào v.v….
Tôi chỉ hỏi chơi chơi chứ không cho anh
biết ý định trốn trại của tôi. Anh lái xe ôm ra giá đi Sài Gòn là 50
đồng, tôi không có đủ tiền nhưng tôi nói với anh là đưa tôi về đến nhà
tôi lấy tiền rồi trả sau. Sau khi bằng lòng giá cả anh ta mới đi đổ xăng
và trở lại đón tôi. Trên đuờng đi tôi cũng nói thêm với anh là tôi vừa ở
vùng kinh tế mới về, bị mất hết giấy tờ nên nhờ anh chạy làm sao để
tránh các trạm kiểm soát.
Anh ta nói là tụi công an nó chỉ xét
coi có buôn đồ lậu, chứ như ông đi mình không, thì không có gì để xét
thì đừng có lo. Tôi nghe mừng trong bụng và trong lúc đi đuờng tôi có
hỏi chuyện thì anh có cho biết hồi truớc anh là lính của Sư đoàn 5 Bộ
Binh. Nghe biết vậy thôi chứ tôi cũng không có hỏi thêm gì về chuyện
ngày trước.
Xe chạy qua các trạm kiểm soát Búng, Lái Thiêu rồi
Bình Triệu. Thấy xe kẹt đậu dài dài để chờ xét, còn xe Honda ôm này chạy
qua hết mà không bị hỏi han gì và sau cùng vô Sài Gòn qua ngả cầu cư xá
Thanh Đa rồi qua cầu Phan Thanh Giản và chạy trên đường Phan Thanh Giản
để về Phú Thọ.
Nhìn quang cảnh thành phố Sài Gòn sau 5 năm trở lại,
tôi cảm thấy như bơ vơ lạc lỏng, như lạc vào một thế giới nào xa lạ
lắm. Đây không phải là thủ đô Sài Gòn năm xua, một thời đã từng đuợc
mệnh danh là một “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Nay tôi thấy trên đuờng toàn là
xe đạp, mà nguời nguời trông lam lũ tả tơi, không cuời không nói, với
dáng vẻ buồn thiu ảm đạm, thật đúng với câu “nguời buồn mà cảnh có vui
đâu bao giờ”.
Khi đến Phú Thọ, xe Honda chạy vào con hẻm nhỏ, một
số con nít chạy theo. Khi xe vô đúng số nhà mà tôi đã học thuộc lòng,
tôi gỏ cửa và chị Đồ ra mở cửa. Khi thấy tôi chị buột miệng la lên:
“Ủa anh Thạch mới đuợc thả về, còn ông Đồ của tôi đâu”. Tôi lật đật nói
nhanh là tôi mới đuợc thả về và xin muợn chị 50 đồng để trả tiền xe.
Chị vô lấy tiền cho mượn ngay để trả tiền xe. Khi xe đi rồi và đám con
nít đa tản đi hết rồi thì tôi mới nói thiệt với chị là tôi trốn trại và
nhờ chị về báo tin cho vợ tôi hay. Chị hốt hoảng cho biết là mới vừa
tuần truớc đây thằng em trai của chị vừa mới vuợt biên đã đi thoát được.
Nhà chị đang bị công an phường khóm điều tra theo dỏi, cho nên chị
không dám chứa tôi trong nhà, mà bảo tôi ra ngoài đuờng đón xe autobus
để ra bến xe Xa Cảng miền Tây, ở Phú Lâm, rồi sẽ tính sau.
Truớc
khi đi tôi còn hỏi muợn chị đôi giày, vì đôi giày tôi đang đi là loại
giày đi rừng nên đi trong thành phố coi không tiện. Chị cho tôi muợn đôi
giày sandal và còn đôi giày đi rừng của tôi thì chị nói là chị sẽ đem
lên cho anh Đồ trong lần thăm nuôi tới.
Tôi ra khỏi hẻm ra ngoài
đuờng thì thấy có một quán hủ tiếu, tôi liền tấp vô ăn một tô hủ tiếu,
uống một ly cà phê sửa, rồi mới ra đón xe autobus để đi ra Xa Cảng miền
Tây.
Khi ra đến bến xe Xa Cảng miền Tây, tôi thấy cả một rừng nguời
hỗn độn la liệt khắp nơi. Họ trải chiếu, trải tấm nylon hay kê tấm ván
tùm lum tứ tung không theo một lề lối nào cả. Hỏi ra mới biết đây là
những nguời bỏ vùng kinh tế mới trở về, nhà cửa bị tịch thu không nơi
nương tựa đành phải sống lang thang đầu đuờng xó chợ bến xe.
Sau
khi thấy cảnh hổn độn này tôi nghĩ thầm là mình có thể trà trộn để ngủ
tạm qua đêm ở đây. Trong khi đó thì chị Đồ đạp xe đạp từ Phú Thọ vô Gia
Định để báo tin cho vợ tôi biết. Sau này gia đinh kể lại là khi chị Đồ
vào nhà, chị rất lo sợ có nguời theo dõi, nên chị kéo vợ tôi ra phía sau
nhà, không cho mấy đứa con tôi lại gần, rồi chị mới nói cho vợ tôi hay
là tôi đã trốn trại.
Tôi đang ngồi uống nuớc đá chanh ở xe nuớc đá
và định chổ ngủ qua đêm, thì bỗng thấy chị Đồ đạp xe đạp ra tới. Chị đưa
cho tôi 50 đồng và một giấy cử tri của vợ tôi gởi và căn dặn tôi sáng
mai ra mua vé xe đò để về Mỷ Tho.
Sáng sớm hôm sau trước khi ra bến
xe tôi đi tìm nhà của Thạch, là một trong hai nguời trốn chui theo.
Thạch và Tường thì còn ở lại trong rừng và có dặn là nếu ai có thoát về
đuợc Sài Gòn thì báo tin cho gia đình họ biết tin, để tìm cách lên đón.
Địa chỉ của Thạch thì tôi nhớ lờ mờ là ở gần Phú Lâm nên tôi sẳn dịp ghé qua báo tin.
Lúc đó trời còn lờ mờ chưa sáng hẳn, đuờng vắng vẻ. Khi đi ngang qua
trạm xe chửa lửa có vài tên công an đang đứng nói chuyện ở phía truớc,
tôi cố giử bình tỉnh khi đi ngang qua.
Sau cùng tôi tìm đuợc nhà
của Thạch, tôi gỏ cửa một hồi thì có nguời ra mở cửa nhưng với dáng vẻ
bực bội vì tôi đánh thức họ quá sớm.
Tôi hỏi có phải là nhà của
Thạch không, thì họ không trả lời mà đóng ập cửa lại làm tôi ngần ngừ
một lúc, vì tiếc là không báo tin cho gia đinh Thạch được. Tôi cũng
không biết là có đúng nhà không, hay là họ sợ không dám tiếp tôi. Cho
đến sau này tôi cũng không biết tin tức gì về hai nguời trốn chui theo,
có thoát đuợc không và bây giờ ra sao.
Tôi trở ra bến xe ngồi xếp
hàng chờ để mua vé xe về Mỷ Tho, trong túi có 50 đồng và thẻ cử tri nên
thấy hơi yên tâm. Một hàng rất dài ngồi chờ mua vé xe rồi từ từ nhích
lần lên. Tôi ngồi chòm hỏm hai tay bó gối gục đầu rồi thiếp đi lúc nào
không hay. Bỗng đâu có nguời vỗ vai kêu tên tôi, tôi giật mình nhìn lên
thì thấy chị Đồ, chị bảo tôi vô quán nước ở bên kia đuờng để gặp bà xã
tôi. Vừa mừng vừa lo, chỉ sợ công an theo dõi vợ tôi để đón bắt tôi nên
tôi hơi luỡng lự. Chị Đồ vô đứng thế chổ tôi để mua vé xe.
Tôi vô
quán để gặp bà xã tôi, vợ tôi đã kêu đủ thứ đồ ăn nào hủ tiếu, bánh bao,
xiếu mại v.v…. Bà xã tôi kêu tôi ăn đi ăn đi. Tôi hỏi coi có ai biết
hay theo dõi gì không, thì thấy không có dấu hiệu gì. Ba đứa con tôi
đang ở nhà chưa hay biết gì về chuyện này. Sau này kể lại mới biết là
chúng nó đói khổ lắm, đâu có được ăn hủ tiếu bánh bao như thế này.
Từ ngày tôi đi tù tới giờ gia đình suy sụp, có bao giờ dám ăn các món
cao lương mỹ vị này đâu và tôi cũng quên hỏi mời vợ tôi cùng ăn, bà xã
tôi cứ kêu tôi ăn đi ăn đi.
Phần thì lo sợ công an nó theo dõi, phần
thì không biết là về Mỷ Tho rồi sẽ làm gì, nên tôi cố nhét cho đầy bụng
rồi đi liền. Tôi dặn vợ tôi là đừng có xuống Mỷ Tho, mà nên ở nhà lo
cho mấy đứa con còn nhỏ dại, đừng để bị nguy hiểm cho cả hai, rồi không
ai lo cho các con.
Tôi trở ra chổ mua vé xe thì chị Đồ đã mua vé
xong xuôi và chị còn cẫn thận mua cho tôi tờ báo Nhân dân, chị bảo lên
xe đọc báo này nguời ta tưởng là cán bộ. Tôi lên xe ngồi gần băng phía
sau. Xe chạy qua hết các trạm kiểm soát một cách dễ dàng vì ở mỗi trạm
bác tài đều biết thủ tục đầu tiên, là tiền đâu. Qua Bình Chánh, Bến Lức,
Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Trung Lương rồi vô thành phố Mỹ Tho.
Xe vô đến bến, tôi xuống xe và vô tìm đứa em gái tôi. Vợ tôi có cho biết
là em gái tôi bây giờ làm ở tổ hợp may mặc phuờng 4 ở bến xe này. Mới
vừa vô gặp mặt em tôi, nó mừng rỡ rồi la lớn “Ủa anh Tư mới đuợc thả
về”. Tôi hơi bối rối vì sát bên cạnh tiệm may là đồn công an phường 4,
có một số công an đang đứng gần đó sợ nó nghe được.
Tôi giả bộ
như thiệt nói một hơi là anh mới đuợc thả về bây giờ em có rảnh ra quán
uống nuớc. Em tôi lật đật xin phép bà hội truởng hợp tác xã rồi đi liền.
Ra tới quán nuớc tôi mới nói thiệt với em tôi là tôi trốn trại. Em tôi
giật mình mặt tái xanh vì quá bất ngờ. Tôi dặn dò em tôi về nhà cho má
hay và coi chung quanh có ai không rồi cho anh biết để anh về nhà.
Em tôi đạp xe đạp chạy về báo tin xong trở lại làm việc, còn tôi một
mình đi bộ về nhà. Má tôi đã biết truớc nên đã mở cửa sẳn chờ. Khi vô
nhà tôi đi thật nhanh và đi thẳng ra phía sau nhà vì sợ lối xóm nhìn
thấy.
Sau đó em tôi đi làm về có mua cho tôi một dĩa cơm suờn và hôm
sau là cơm tấm bì chả và mua hủ tiếu bánh bao v.v…. toàn là các món ăn
ngon đắt tiền mà tôi cũng quên hỏi là em tôi đi may lương tháng bao
nhiêu. Má tôi thì già yếu không có làm gì ra tiền. Hồi truớc Má tôi đi
may đồ quần áo ở trong nhà thương Mỷ Tho, nhưng đã nghỉ lâu rồi.
Sau này mới biết là ở nhà không có đủ tiền để mua gạo, đôi khi còn phải
bán máu để đổi lấy mấy bát cơm, thì nói gì đến thức ăn sang trọng.
Thì ra em tôi chạy qua Chợ Củ để xin Cô tôi. Cô Ba tôi có mở tiệm ăn,
Cô rất thương tôi, vì vậy khi hay tin tôi về, cô tôi liền gởi cơm và đồ
ăn rất ngon qua cho tôi. Ở đây đuợc mấy ngày thì vợ tôi xuống thăm tôi
làm cho tôi càng thêm lo sợ, vì sợ công an theo dõi.
Tôi mới tính tìm đuờng vuợt biên chớ ở đây lâu thế nào cũng bị bại lộ.
Mà tìm đuờng dây để vượt biên không phải là chuyện dễ dàng. Phần thì
không có tiền, phần thì không dám đi lại nên cũng không biết cách nào để
vuợt biên, mà tội vuợt biên lúc đó bị coi như là tội phản quốc, chạy
theo đế quốc, bọn công an biên phòng bắt đuợc là chỉ có chết. Hồi đó đã
có xảy ra những cảnh vuợt biên bị đổ bể, bị công an tàn sát như ở cầu
Chữ Y Sài Gòn, như ở bãi biển Vũng Tàu, nhu ở kinh Chợ Gạo hay ở cửa
biển Gò Công v.v….Họ tàn sát không nương tay, mặc cho tiếng khóc trẻ
thơ, hay những lời van xin lạy lục, của những nguời khốn khổ cùng đuờng.
Tôi dự định nếu không tìm được đuờng đi bằng ghe tàu, thì như đã hẹn
với Thu và Bình, là sau một tháng chúng tôi sẽ gặp lại nhau, để bàn tính
để đi bằng đuờng bộ.
Vợ tôi lại xuống một lần nữa và lần này có cả
đứa con gái đầu lòng của tôi. Coi như vậy là tôi ở đây đuợc một tuần lể
và vợ tôi đem tiền xuống lần này là để mua vé xe cho tôi đi Cà Mau vào
sáng sớm mai, vì hy vọng ở Cà Mau dễ kiếm đuờng vượt biên hơn.
Bất ngờ ngay buổi chiều hôm đó vào khoảng 7 giờ, thì có một người anh bà
con cô cậu, đi cùng với một nguời bạn, xuống thăm để từ giã Má tôi, để
sáng sớm mai họ lên đường đi Kampuchia, và từ đó sẽ tìm đuờng vuợt biên,
và anh muốn xin địa chỉ của em tôi, hiện đang sống ở Mỹ, để anh liên
lạc khi cần.
Thật là một điều quá may mắn cho tôi vì sau khi anh
biết tôi vừa mới trốn về nên anh kéo tôi đi theo luôn. Thế là phải trở
về Sài Gòn ngay trong đêm nay để sáng sớm mai lên đuờng đi Kampuchia.
Tôi từ giã Má tôi và để đứa con gái đầu lòng ở lại với Bà Nội.
Tôi
và vợ tôi đi theo Long và Nghĩa ra đón xe để về Sài Gòn. Tôi ra đi mà
lòng buồn vô hạn, rồi không biết sẽ đi tới đâu trên buớc đuờng bôn ba vô
định này.
Ở lại Mỷ Tho thì không được, mà đi qua Kampuchia thì
cũng không biết ra sao, thật là đau lòng truớc cảnh chia tay, rồi đây
không biết có còn được gặp lại nhau.
Trong đêm đó hai bà cháu đã
tụng niệm suốt đêm để cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được bình an.
Trời đã tối lúc đó khoảng 9 giờ đêm nên không còn xe chạy về Sài Gòn.
Chúng tôi đón chiếc xe lôi đạp để đi vô ngã ba Trung Lương, hy vọng ở đó
sẽ có nhiều xe miền Tây lên, dể đón hơn.
Ông xe lôi, đạp không
muốn nổi, vì trên xe có tới 4 nguời, nên chúng tôi phải thay phiên nhau
nhảy xuống để đẩy phụ, nhứt là khi lên dốc cầu Trung An, thì phải nhảy
xuống hết rồi qua cầu mới nhảy lên lại.
Vô tới ngã ba Trung Lương là
trời đã tối, nên không còn thấy xe miền Tây nào hết, mà chỉ thấy có một
chiếc xe hàng bị hư máy và nguời tài xế đang sửa chửa. Chúng tôi mon
men lại gần tìm cách làm quen rồi dọ hỏi xin quá giang về Sài Gòn, nhưng
ông tài xế nhìn chúng tôi như nghi kỵ điều gì nên lắc đầu trả lời một
cách sẳn giọng là xe đang hư mà làm sao cho quá giang đuợc, vì vậy chúng
tôi lại lủi thủi đi tiếp.
Ở đây có một trạm công an khá lớn để
xét xe từ miền Tây lên, nên có nhiều công an ở đồn bót này, nên trong
đêm tối mà đi lang thang ở đây cũng nguy hiểm lắm. Tình cờ có một chiếc
xe lô chạy từ Mỷ Tho lên huớng về Sài Gòn, chúng tôi mừng quá đón ngoắc
lại nhưng xe không ngừng mà chạy luôn một khoảng, rồi bỗng đâu xe dừng
lại và lùi lại cho chúng tôi quá giang.
Bác tài chỉ cho đi quá giang
một quãng đuờng lên đến Tân Hương để đón xe khác mà đi, vì xe này đi về
nhà để nghỉ nên không có đi Sài Gòn. Trong khi xe đang chạy và qua tài
giao thiệp của anh Long, cũng là lơ xe, nên anh biết nhiều nguời trong
nghề xe đo nên câu chuyện dần dần trở nên thân mật và bác tài dần dần có
cảm tình với chúng tôi. Và sẳn đó anh Long đề nghị bao xe đi Phú Lâm
rồi bận về anh sẽ phụ giúp tìm khách cho chuyến trở về.
Vợ tôi
móc trong túi ra đếm còn 200 đồng nên đề nghị bao xe 200 đồng và nhờ anh
Long nói thêm vô, nên sau cùng bác tài chịu đi Phú Lâm với giá 200
đồng.
Thật là hết sức may mắn, chớ nếu tới Tân Hương chưa chắc gì
có xe để đi, mà nếu không lên kịp Sài Gòn trong đêm nay thì ngày mai xe
sẽ đi sớm rồi, sẽ mất đi một dịp may hiếm có ngàn vàng.
Khi xe
chạy qua khỏi trạm công an Tân Huong một quảng, thì gặp một tốp công an
ra chận đuờng. Tôi thấy nguy vì trên xe không có ai khác, chỉ có gia
đinh tôi, nên rất khó xoay sở trà trộn. Tôi có ý dò hỏi bác tài coi tính
sao, nhung bác tài cho biết là xe không có ngừng đâu vì tụi này là tụi
chuyên chận xe dọc đuờng để ăn cuớp, bác tài rất rành về bọn này. Tôi
nghe thế cũng thấy mừng thêm, vì thà là chạy luôn nó có bắn theo cũng
khó trúng.
Bác tài cho xe giảm tốc độ rồi khi đến gần bọn chúng thì
tống hết ga vuợt nhanh qua, nên chúng trở tay không kịp, nên xe chạy
vuợt qua một cách êm xuôi.
Nhưng tôi lại lo cho trạm kiểm soát kế
tiếp sợ tụi nó gọi máy báo lên chận bắt xe lại thì còn nguy hiểm hơn.
Tôi hỏi ý bác tài thì bác tài nói là tụi nó đâu có máy móc gì đâu mà báo
đừng có lo, nên tôi càng yên tâm tin tuởng bác tài muôn phần. Xe qua
khỏi Tân An, Bến Lức, Bình Chánh rồi vào Phú Lâm một cách êm xuôi. Sau
khi trả tiền xe xong xuôi là chúng tôi chạy đi ngay vì trời đã tối rồi
mà còn phải chạy lo kiếm mượn tiền để đi.
Chúng tôi về nhà của Nghĩa
cũng ở gần đó, vợ chồng tôi muợn chiếc xe đạp để đạp vô Phú Thọ. Vô tới
nhà chị Đồ là đúng nửa đêm, giờ giới nghiêm. Chị Đồ không có sẳn vàng
chị rút chiếc nhẩn đang đeo trên tay 2 chỉ vàng đưa cho tôi mượn đở.
Tôi đạp xe đạp chở vợ tôi trở về nhà của Nghĩa trong lúc đã quá giờ
nghiêm nên cũng sợ bị hỏi giấy tờ hay bị bắt lại thì trể chuyến xe sáng
sớm mai đi. Tôi đạp xe lên dốc cầu Minh Phụng không nỗi, vợ tôi phải
xuống xe đẩy phụ qua cầu, nguời của tôi lúc đó rất là ốm yếu xanh xao.
Về tới nhà Nghĩa, là chúng tôi phải đi ngay đến chổ đậu xe, để kịp chui
vô trong xe sắp xếp truớc khi trời sáng. Đây là chiếc xe hàng dân sự bị
VC trưng dụng để chở chiếu qua Nam Vang tiếp tế cho bộ đội VC bên
Kampuchia. Long là lơ xe của chiếc xe này nên mới dấu Nghĩa và tôi vô
trong đống chiếu mà tài xế không hay biết gì.
Sau khi sắp lại
đống chiếu, vạch ra một lổ vừa đủ để hai đứa tôi chui vô, xong rồi Long
mới gác hai cây gỗ đà ngang trên đầu rồi sắp chiếu phủ kín lên như cũ
rất là kín đáo.
Chúng tôi đem theo một bình nước và hai ổ bánh mì với một gói muối.
Ngoài hai chỉ vàng của chị Đồ cho muợn, vợ tôi đưa luôn chiếc nhẫn cuới
đang đeo ở tay đưa cho tôi, như vậy tôi mang luôn hai chiếc nhẫn cuới.
Lúc đó cũng khoảng 3,4 giờ sáng, vợ tôi và má của Nghĩa cũng vẫn còn
ngồi đâu đó để chờ sáng ra xe chạy. Long ngồi ở ngoài nên có cho tụi tôi
biết là vợ tôi và má của Nghĩa khóc nhiều lắm, vì không biết chúng tôi
đi làm sao, vì không ai có tiền hay có vàng đem theo, không biết rồi sẽ
đi đến đâu. Riêng tôi thì tôi quyết ra đi mặc dầu không biết ra sao,
nhưng vẫn c