Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Khi Vua Chúa Xài OPM

Công chúa Ả rập Saudi và cơn cuồng mua sắm (rồi lừa gạt) hàng hiệu nhiều triệu đôla
The Saudi Princess and the Multi-Million Dollar Shopping Spree
By James Reginato – Vanity Fair – April 7, 2015
Người dịch: Kevin Bùi
Công chúa Saudi Maha Bint Mohammed bin Ahmad al-Sudairi tìm cách xù khoảng 20 triệu USD nợ các cửa hiệu thời trang sang trọng nhất Paris và lờ đi hoá đơn khách sạn khoảng 7 triệu USD. James Reginato lần theo dấu của cô trong bài viết dưới đây.
Đó là một nước cờ cũ – lẻn ra khỏi khách sạn trong đêm khuya để tránh các hoá đơn. Nhưng có vẻ khó khăn một chút khi mà bạn có đoàn tuỳ tùng lên tới 60 người, một hoá đơn phải thanh toán lên tới 7 triệu USD, và một hàng dài các xe hạng sang và các loại xe khác đợi ở ngoài để đón bạn cũng như chở đi cả núi túi xách của bạn. Đó là tình huống xảy ra lúc 3:30 sáng ngày 31/5/2012 khi công chúa Maha bint Mohammed bin Ahmad al-Sudairi được cho biết là tìm cách bỏ trốn từ khách sạn 5 sao Shangri-La, ở quận 16, nơi cô và đoàn tuỳ tùng chiếm 41 phòng trong vòng 5 tháng. Sau một cuộc đối đầu căng thẳng đi kèm các cuộc gọi tới các nhà ngoại giao và quan chức cấp cao, bà được phép rời đi, chuyển tới khách sạn Royal Monceau gần đó, được sở hữu bởi Qatar, một láng giềng thân thiện của Saudi.
Có lẽ công chúa Maha nghĩ rằng bà có thể lẻn đi vì cũng ba năm trước đó tại Paris, theo báo chí, bà cũng suýt thành công trong việc tránh né trả 20 triệu USD sau cơn cuồng mua sắm lịch sử tại các cửa hiệu thời trang trên Đại lộ Montaigne, quảng trường Place Vendome và những nơi khác nữa. Đến khi phải trả tiền, công chúa Maha đã bỏ qua các phương thức thanh toán thông thường, thay vào đó để cho một tuỳ tùng trao cho bộ phận tính tiền một văn bản in nổi dòng chữ “Thanh toán sau” – một cách báo nợ (I.O.U) rất thời thượng. Tuy nhiên, đến một thời điểm nào đó, các chi phiếu bị ngừng lại. “Bà ấy là một khách hàng rất tuyệt vời trong vòng tám năm, nhưng rồi sau đó bà ấy chỉ đơn giản là ngừng trả tiền”, bà chủ cửa hàng đồ lót O Caprices de Lili cho báo chí biết vào tháng 6 năm 2009 khi bà chờ đợi để được trả số tiền gần 100 ngàn USD. Một chủ cửa hàng quần áo mặc ở nhà có tên gọi Key Largo tuyên bố rằng ông bị công chúa nợ số hàng hoá có giá trị lên tới gần 125 ngàn USD.
Thời gian cuối trong lần ở lại Paris năm 2009 – lần này ở khách sạn George V – có ít nhất một trong số 30 chủ nợ đã tới cắm trại nhiều ngày trong sảnh của khách sạn sang trọng này với hy vọng đòi được tiền, trước khi đệ đơn yêu cầu bồi thường. Bất kể hàng núi nợ này, lần ra đi của bà từ khách sạn này có vẻ không bị cản trở. Khách sạn này thuộc sở hữu của người anh em họ của bà, hoàng tử Alwaleed bin Talal (tổng tài sản 30 tỷ USD), và theo một số tờ báo, khoản nợ của bà được thanh toán bởi các quan chức thuộc đại sứ quán Saudi. Nhưng anh rể của bà, nhà vua Abdullah ( đã mất ngày 23 tháng 1 vừa qua), được biết là không vui vẻ gì về hành vi gây tai tiếng của công chúa Maha và trong lần trở về Saudi của bà, đã cho nhốt giữ bà tại gia.
Maha, ở độ tuổi 50, là vợ ba trong số ba bà vợ của Nayef bin Abdulaziz al- Saud. Cặp đôi này – cũng là anh em họ – đã chung sống với nhau tới ba thập kỷ cho tới khi chia tay. Họ có năm con chung, giờ đây có độ tuổi từ 22 tới 30. Vào năm 2009, Nayef (anh em cùng bố khác mẹ với nhà vua Abdullah) xếp thứ nhì trong danh sách kế thừa ngai vàng – và có những khoảng thời gian là người cai trị không chính thức của Saudi khi tình trạng sức khoẻ của cả nhà vua lẫn thái tử lúc đó, Sultan –anh ruột của Nayef – đều không tốt. Nayef được trao ngôi thái tử vào tháng 10 năm 2011 khi Sultan mất; vào đầu năm 2012 ông và Maha li dị. Ốm yếu vì bệnh tiểu đường, ông mất ngày 16 tháng 6 năm 2012, thọ 78 tuổi.
Vào tháng 12 năm 2011, Maha bất chấp chỉ dụ của hoàng gia và “thoát” trở lại Paris, theo tờ The Telegraph. Lần checkout phiền toái của bà tại khách sạn Shangri- La trùng với thời điểm mất của chồng cũ của bà, và theo một số người, cũng là khi bà mất hoàn toàn sự ưu ái từ vua Abdullah. “Nhà vua thực sự đã không chịu đựng nổi công chúa tại thời điểm đó – ông kệ bà muốn làm gì thì làm”, theo một phụ nữ Trung Đông sống tại châu Âu và biết công chúa.
Lần đòi tiền này của các nhà cung cấp còn khó khăn hơn nữa. Tháng 3 năm 2013, một thẩm phán ở Nanterre, phía Tây Paris, đã ra lệnh thu giữ hàng hoá trữ tại hai kho chứa hàng chất đầy số đồ mà bà Maha mua năm 2012, mang ra bán đấu giá để hoàn trả tiền cho các chủ nợ. Kho giấu đồ này được cho biết gồm quần áo, mũ, túi xách, đồ trang sức, các tác phẩm nghệ thuật, trang phục tắm, kính thời trang, thùng thuốc lá, các đĩa mạ vàng, khoảng một ngàn đôi giày phụ nữ, và một số bức ảnh đóng khung chân dung công chúa đội vương miện và đeo mặt nạ lễ hội.
Một trong số các chủ nợ là một công ty dịch vụ sang trọng đã cung cấp cho công chúa các tài xế và các xe sang – khoảng 30 chiếc mỗi ngày, bao gồm hai chiếc Rolls-Royce Phantom. Công ty này bị bỏ rơi với khoản nợ gần 400 ngàn USD, một quan chức của công ty cho phóng viên của tờ Người Paris. “ Chúng tôi chấp nhận rủi ro khi giao dịch với bà ấy, vì đó là một bản hợp đồng hấp dẫn, nhưng cuối cùng đó là thảm hoạ”, ông này cho biết. “Các thủ tục phải tuân theo để được hoàn lại tiền hiển nhiên là sẽ lâu, rất rất lâu”.
Do vậy, kết cục của chuyến đi thị sát gần đây của công chúa tới Paris khiến người ta tò mò. “Hoá đơn được thanh toán trong vòng 48 giờ” sau khi công chúa đi khỏi, một đại diện báo chí của Shangri-La cho biết. “ Chuyện này đã xong. Đây không phải là đề tài mà khách sạn muốn thảo luận”. “ Tất cả đều ổn”, theo lời người quản lý của Key Largo, cửa hàng đồ thể thao đã phải ra toà để đòi lại 125000 USD hồi năm 2009. “Hoá đơn đã được trả”.
Các cửa hiệu cũng rắc rối như chính vị khách Ả rập này, rõ ràng là không có ai muốn mất đi thị trường này. Paris từ lâu đã là điểm đến ưa chuộng của những người Ả rập giàu có. Họ tụ tập chủ yếu ở Quận Tám – nơi có các khu mua sắm cấp cao (như Đại lộ Montaigne). Có lẽ để ở gần với nơi mua sắm, các khách sạn được ưa thích của họ cũng ở quanh đó – George V hoặc Plaza Athénee (sở hữu bởi vua Brunei). “ Hiệu Ritz không là kiểu họ chuộng”, một quý bà có nhiều ảnh hưởng, bạn với gia đình hoàng gia và miêu tả thị hiếu thời trang Ả rập là hào nhoáng và dùng nhiều phụ kiện: “ Họ thích những thứ phô trương như Vuitton hay Chanel. Họ không phải là fan của Hermes. Anh không thể tưởng tượng được số giày mà họ mua đâu. Nhưng nếu anh có lúc nhìn thấy đế giày họ khi họ ngồi vắt chân, thì chúng lúc nào cũng mới. Đó là vì họ không bao giờ bước xuống đường cả”.
Giày dép, cũng như túi xách là loại mặt hàng được phụ nữ ưa chuộng nhất vì ở Ả rập, với bộ đồ che kín của phụ nữ, người khác chỉ nhìn được những phụ kiện này.
Theo những người Trung Đông thân thiết với công chúa Maha, khoản nợ của công chúa được trả – một cách bất đắc dĩ một lần nữa nhằm tránh tai tiếng cho gia đình – bởi một trong số những người anh em ruột của chồng cũ của bà, có thể là Salman, người kế vị ngai vàng từ nhà vua quá cố Abdullah từ tháng 1 năm 2015.
Trong khi đó, bản thân Maha lại bị nhốt tại gia một lần nữa – lần này giám sát chặt chẽ, cũng theo lời quý bà Trung Đông kia. “ Bà ấy không được rời khỏi đất nước một lần nữa”, bà nói thêm. (Các nỗ lực để liên lạc với công chúa Maha để bình luận về chuyện này đều không thành công).
Với vương triều al –Saud cai trị vương quốc Ả rập Saudi ( Xê-Ut) – nơi mà vua Abdulaziz (người sáng lập quốc gia vào năm 1932) có tới 45 con trai với ít nhất 22 bà vợ, có một sự khác biệt căn bản giữa anh em cùng bố khác mẹ với anh em ruột.
Salman và Nayef là hai trong số bảy con trai của vua Abdulaziz với bà vợ được sủng ái của ông, Hassa bint Ahmad al-Sudairi, thuộc gia tộc quyền lực Sudairi đến từ vùng cao nguyên trung phần Nejd của Saudi, cũng là nơi mà hệ tư tưởng Wahhabi chính thống nổi lên khoảng 300 năm trước. Theo một số nguồn tin, Hassa al-Sudairi có thể chỉ khoảng 13 tuổi khi bà được chọn để lấy vị vua tương lai. Sau vài năm, Abdulaziz ly hôn bà để lấy các bà vợ khác – đàn ông đạo Hồi chỉ được phép có cùng lúc bốn bà vợ tại mỗi thời điểm- nhưng ông cũng nhanh chóng kết hôn lại với bà. Họ có 12 con chung và chung sống với nhau cho tới khi ông qua đời vào năm 1953. Những người con trai của họ – được biết đến là Bảy người nhà Sudairi – hình thành một khối anh em ruột đông nhất trong gia đình hoàng gia và do vậy nắm giữ quyền lực khổng lồ. Nhà vua Abdullah (người không có anh em ruột nào) được cho là không ưa gì nhóm này và tìm cách giới hạn quyền lực của họ.
Nhưng với sự lên ngôi của Salman, người nhà Sudairi lại quay về vị trí đỉnh cao quyền lực. Một trong số 10 con trai của Nayef, hoàng tử Mohammed bin Nayef, 55 tuổi – con của Nayef với bà vợ thứ hai, Al Jawhara- mới đây được chọn là Phó Thái tử.
Tiền bạc vẫn chảy tràn trề trong đại gia đình hoàng gia. Vào tháng 5 năm 2013, con trai út của Maha, hoàng tử Fahd, khi đó 21 tuổi đã tổ chức bữa tiệc tốt nghiệp kéo dài 3 ngày tại công viên Disneyland Paris cùng 60 người bạn, với chi phí lên tới 20 triệu USD. (80 vũ công được thuê để tạo ra các màn trình diễn ngoạn mục, với khu Main Street hoá thành đại lộ Paris, còn công viên mở cửa từ sớm và đóng cửa muộn, tới 2 giờ sang chỉ để phục vụ cho bữa tiệc này. Hoàng tử cũng mời Mickey và Minnie đi cùng trên máy bay riêng của mình). Sự thừa thãi rõ ràng là truyền thống của gia đình hoàng gia.
Được xây dựng là cung điện cho hoàng tử Roland Bonaparte, cháu họ của Napoleon, Shangri-La là một trong số những khách sạn đắt đỏ nhất Paris. ( Giá phòng khởi điểm từ 750 USD, và các phòng hạng sang có thể lên tới 23000 USD cho một đêm). Kết hợp giữa phong cách Pháp cổ điển với nội thất sang trọng, hiện đại theo hướng tối giản, khách sạn này tự hào với dịch vụ tuyệt hảo của họ. Tuy nhiên những dịch vụ này hầu như vô ích đối với công chúa Maha, cho dù hoá đơn của bà lên tới 7 triệu USD. “ Bà ấy mang toàn bộ người của bà ấy theo”, cũng theo lời quý bà Trung Đông kia. “Từ lái xe cho tới hầu phòng, đầu bếp…”.
“Chúng tôi hầu như không bao giờ thấy bà ấy”, người gác cửa tại Shangri-La thì thầm. “Bà ấy sống về đêm. Bà ấy chỉ đi ra ngoài vào ban ngày vài lần trong suốt sáu tháng ở đây… Khi ấy bà ấy được bao bọc bởi khoảng 10 người hối hả đưa bà vào một trong những chiếc xe sang bên ngoài”. Theo một nguồn tin khác, người hầu của công chúa bao gồm cả bồi bàn, thợ cắt tóc, thư ký, vệ sĩ và đông đảo những người khác để khuân vác hành lý cho bà.
Lối sống về đêm như vậy là bình thường với cả giới giàu lẫn nghèo ở Ả rập Saudi, nơi mà ban ngày có thể nóng tới bỏng da. Bởi vậy, một số cửa hiệu sang trọng bậc nhất của Paris mở cửa tới khuya. Chẳng hạn cửa hiệu mang tính biểu tượng của Louis Vuitton ở đại lộ Champs- Elysees, được biết là đã mở lại vào lúc 2 giờ sáng chỉ để phục vụ công chúa. Có lúc trong khi mua sắm, bà muốn ăn và các gói hamburger ăn nhanh cũng được chuyển vào cho bà. (Dior, Dolce&Gabbana, Chaumet và Victoria Casal là một trong số các cửa hiệu hay được bà lui tới).
Dù rằng không nghi ngờ gì việc công chúa Maha là người nghiện mua sắm tầm cỡ thế giới, bà lại không phân biệt đối xử gì với các thương hiệu. “Bà ấy mua ở mọi nơi, từ Hermes cho tới Zara và tất cả các thương hiệu khác trong khoảng đó”, quý bà Trung Đông cho tôi biết.
Quả vậy, Key Largo, nơi bà để lại món nợ 125000 USD, là một cửa hàng thời trang giảm giá tại một khu mua sắm tồi tàn gần Trocadero, chuyên bán giày dép, đồ lót và đồ jeans hạ giá.
Bà hầu như càn quét sạch những gì gặp phải trên đường đi của mình, bất kể nơi nào. Theo quý bà Trung Đông, sau khi công chúa Maha đi thăm Geneva về, bà cần tới bốn chiếc xe tải để chở những gì bà mua về – bà thậm chí còn mua cả một chiếc Lamborghini và một chiếc Ferrari, dù rằng bà không lái xe (Phụ nữ không được phép lái xe ở Ả rập Saudi)
Theo quý bà Trung Đông, người tới thăm bà tại khách sạn, rất nhiều trong số hành lý của công chúa Maha chưa bao giờ được mở ra: “ Có bao nhiêu phòng chất đầy túi lẫn hộp. Nhìn chỗ nào cũng đầy túi với hộp, gần như tất cả đều chưa được mở”.
“ Khi tôi thấy bà ấy trong khách sạn, bà ấy chỉ mặc đồ pajama”, chứ không phải một trong số cả núi đồ bà đã tích luỹ. “ Và bà ấy đem theo năm tới sáu người chỉ để làm việc trong khu bếp, vì khu này cần sẵn sàng 24 giờ mỗi ngày”.
Mặc dầu được biết đến với sự vô cùng lãng phí của mình, công chúa Maha nổi bật như một người biết cảm thông một cách kỳ lạ khi bạn có cơ hội hiểu bà nhiều hơn.
“ Bà ấy có sự duyên dáng và ngọt ngào”, theo lời quý bà mà tôi nói chuyện với. “Nhưng bà ấy là một linh hồn lạc lối. Bà ấy thất học, anh biết đấy, người ta muốn kết hôn với những cô gái càng trẻ càng tốt. Và sau đó những người phụ nữ chẳng biết làm gì ngoài chuyện mua sắm. Điều này làm phụ nữ càng ngốc dại đi, và đó là vấn đề lớn với đất nước ấy – khi đàn ông quyết định mọi thứ”.
Là một người phụ nữ sống động, Maha được cho là đam mê âm nhạc, ca hát và yêu thơ ca, bà cũng thường thích làm thơ – toàn những thứ cấm kị trong văn hoá Wahhabi siêu bảo thủ của Ả rập Saudi. Và một trong những người thi hành trung thành nhất với văn hoá này chính là chồng bà.
Là bộ trưởng bộ nội vụ từ 1975, ông phụ trách cơ quan tình báo và an ninh của vương quốc, thậm chí nắm giữ phần lớn quyền điều khiển lực lượng cảnh sát tôn giáo của quốc gia này. Là một người bảo thủ không khoan nhượng, ông không chấp thuận những cải cách xã hội dù khiêm tốn của nhà vua Abdullah và được biết đến là người bỏ tù và xử tử những người Saudi chống chế độ, theo tác giả Karen Elliott House trong cuốn “ Bàn về Ả rập Saudi : Con người, Quá khứ, Tôn giáo, Các ranh giới và Tương lai”.
Tuy vậy, ít nhất là trong những năm đầu của cuộc hôn nhân với Maha, ông mê mẩn bà. “Ông ấy chiều chuộng, đam mê bà, trao cho bà ấy tất cả những gì bà ấy muốn”, theo lời kể của quý bà Trung Đông, người miêu tả ông ta như một “Kẻ thù của Chúa trời”.
“Ai mà lấy ông ta thì cũng sẽ phát điên”, bà này nói thêm.
Tới một thời điểm nào đó, cuộc hôn nhân bị vấp váp. Khoảng đầu những năm 2000, theo tờ tạp chí Le Nouvel Observateur của Pháp, có những lời đồn đại rằng bà thân thiết với một ca sỹ hát nhạc trữ tình của Saudi, Khalid Abdul Rahman. Được biết đến như “người tình của đêm“, ông được cho là đã phổ nhạc cho một số bài thơ của bà – việc gây tủi hổ tới cùng cực đối với định kiến tôn giáo của Saudi.
Phụ nữ Ả rập Saudi vẫn tiếp tục nằm trong số phụ nữ bị áp chế nhất trên thế giới. Họ hầu như không bao giờ được rời khỏi nhà nếu không có sự giám hộ của đàn ông. Thậm chí hoạt động chính mà những người phụ nữ giàu có được cho là được phép hưởng thụ – mua sắm – cũng rất bị hạn chế. Vì nhân viên bán hàng ở Ả rập Saudi đều là đàn ông, phụ nữ không thể thử quần áo trong cửa hiệu được, do vậy họ phải mang toàn bộ đồ đạc tới nhà vệ sinh của khu mua sắm, nơi được trông giữ bởi phụ nữ. “ Tôi đoán đây là điều khiến cho việc mua sắm quốc tế trở nên hấp dẫn với phụ nữ Saudi – khả năng được bình thường ở mức độ nào đó”, theo House – dù rằng “bình thường” có vẻ không phải là từ chính xác để miêu tả các cuộc thám hiểm mua sắm của công chúa Maha al-Sudairi. Với Salman giờ đây trị vì vương quốc, thậm chí còn có tin đồn là Maha có thể trở về từ trạng thái thất sủng và có thể được tự do như xưa. Hãy đợi đấy, Đại lộ Montaigne.

Đòn đau tỷ giá, xuất khẩu lao đao

Bảo Hân – VEF – 3 April 2015
Đồng Rúp và Euro mất giá liên tục đã ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình sản xuất ở Việt Nam. Hàng hóa nông dân làm ra ùn ứ, tồn kho, giá giảm do lượng hàng xuất khẩu sang hai thị trường này giảm mạnh.
Chấp nhận lỗ hay chịu ế ẩm
Các chuyên gia kinh tế từng nhận định, lệnh cấm vận thương mại từ Mỹ và các nước châu Âu khiến nhiều mặt hàng trên thị trường Nga bị thiếu hụt và mức giá đã tăng lên đột biến. Chính vì vậy, Nga đã gia tăng tìm kiếm đối tác bù lấp lượng sụt giảm và đây là cơ hội đối với Việt Nam, nhất là với các mặt hàng nông, thủy sản. Nhiều ý kiến cũng cho rằng, đồng rúp mất giá không ảnh hưởng nhiều đến tình hình xuất khẩu nông sản của Việt Nam.
Song, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Theo đại diện Hiệp hội rau quả Việt Nam, hết quý I/2015, tình hình xuất khẩu rau quả đang có dấu hiệu chững lại. Một số mặt hàng xuất sang thị trường EU và Nga gặp khó và gần như không xuất được do đồng Euro và đồng Rúp mất giá.
“Một số khách hàng Nga đặt hàng dưa chuột từ cuối năm 2014 nhưng nay vẫn chưa nhận vì giá nhập về tăng gấp đôi, không bán được. Hiện ở miền Bắc còn tồn vài trăm container dưa chuột chế biến từ vụ đông năm ngoái”, vị này dẫn chứng.
Hiệp hội Cà phê Việt Nam cũng cho biết, ngành cà phê cũng đối mặt hai vấn đề: khoảng 20% diện tích cà phê ở Tây Nguyên sẽ mất trắng do hạn hán và kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh
Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, nếu quý I/2014, xuất khẩu cà phê đạt gần 700.000 tấn thì quý I/2015 con số này chỉ còn một nửa, trên dưới 350.000 tấn. Giá cà phê đang trong thời điểm thấp nhất của tháng 12. Nguyên nhân là do giá dầu giảm, các đồng tiền khác mất giá kéo giá cà phê sụt giảm. Trong khi, EU lại nhập tới 38% lượng cà phê của Việt Nam.
Tương tự, ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, phản ảnh, ngành gỗ cũng lao đao vì đồng Euro mất giá. Cụ thể, tháng 1/2015, tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 558 triệu USD, giảm 3,5%. Đến tháng 2, tình hình còn thê thảm hơn khi kim ngạch chỉ đạt 337 triệu USD, tháng 3 tăng được một chút nhưng không đáng kể. Giảm mạnh nhất là tại Hà Lan với 33%, Pháp giảm 27%, Anh giảm 5%,… chủ yếu là các sản phẩm bàn ghế ngoài trời.
Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), ước tính xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong quý I/2015 đạt khoảng 1,27 tỷ USD, giảm 23% so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là mức giảm mạnh nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Đặc biệt, hai mặt hàng thủy sản chủ lực là tôm và cá tra đều giảm khá mạnh. Trong đó, xuất khẩu tôm chỉ đạt 349 triệu USD (giảm gần 30%), xuất khẩu cá tra đạt gần 225 triệu USD, giảm 18%.
Cũng theo VASEP, đồng tiền tại nhiều thị trường nhập khẩu, nhất là châu Âu, bị mất giá mạnh so với USD nên các công ty Việt Nam buộc phải giảm giá bán, khiến giá tôm và cá tra giảm mạnh.
“Doanh nghiệp Việt Nam hoặc phải giảm giá bán để đẩy hàng đi, hoặc chất hàng trong kho chờ giá lên. Nhưng biến động về tỷ giá còn kéo dài chứ không thể giải quyết trong vài tháng tới”, ông Dương Ngọc Minh, TGĐ Công ty Hùng Vương, nhận định.
Với ngành chè, ông Nguyễn Hữu Tài, Chủ tịch Hiệp hội chè, cũng lo lắng khi đồng Rúp trượt giá. Bởi, đối tác Nga ký hợp đồng với DN Việt bằng đồng đô la Mỹ, nhưng khi chè về nước họ thì tiền thu được là đồng Rúp. Việc đồng rúp mất giá do với đồng đô khiến nhiều DN e ngại thanh toán bị chậm trễ, nhiều công ty không muốn nhập hàng vì càng nhập càng lỗ.
Lối thoát nào cho xuất khẩu?
Trước tình hình trên, nhiều chuyên gia nhận định cần có những giải pháp cụ thể cho từng ngành, giúp doanh nghiệp đẩy được hàng đi, tránh để xảy ra tình trạng nông dân không bán được hàng mất sạch vốn.
Tại cuộc họp tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu nông thủy sản mới đây, do Bộ NN-PTNT tổ chức, đại diện VASEP kiến nghị nên giảm lãi suất ngắn hạn bởi DN đang phải vay với mức 7-8%. DN kinh doanh tốt mới vay được 5%.
Ngoài ra, nên tập trung các giải pháp làm sao để giảm giá thành sản phẩm, trong đó phải giảm được cước vận tải. Bởi, nếu tháng 8/2014 giá cước vận tải xuất khẩu đi Mỹ khoảng 2.300-2.400 USD/container thì hiện đã lên tới 3.900 USD.
Tương tự, Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho rằng cước phí vận tải của Việt Nam luôn cao hơn so với các nước trong khu vực. Ví dụ, thời gian qua giá xăng dầu giảm mạnh nhưng cước vận tải không giảm, hoặc giảm không đáng kể. Một số DN vận tải chỉ giảm được 100.000 trên 5 triệu đồng.
Bên cạnh đó, phía ngân hàng cũng nên giảm lãi suất cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp chế biến, có như vậy hàng tồn kho của nông dân mới được giải quyết.
Trước tình hình trên, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát nhận định, tháo gỡ thị trường là giải pháp cấp bách đối với nông nghiệp. Để hoạt động xuất khẩu được thông suốt, Bộ quyết định thành lập Ban chỉ đạo liên quan đến xuất khẩu, trực thuộc Bộ. Đây là nơi tháo gỡ khó khăn vướng mắc của DN nhằm thúc đẩy xuất khẩu, tạo điều kiện cho nông dân sản xuất và tiêu thụ hàng hóa

Có Cần “Chính Trị” Khi Kinh Doanh Tại Việt Nam???

(Chú thích của GNA: GNA không có ý định đăng bài dưới đây của tác giả Phan Châu Thành. Lý do chính là ông già Alan không muốn nói nhiều quá đến “cái tôi đáng ghét”, nhất là trên GNA, mọi thảo luận thêm về chuyện Alan sẽ được coi như là bơm thổi PR quá đáng. Vả lại, chuyện thất bại của ông già Alan là chuyện nhỏ, từ tiền bạc đến cảm xúc, Alan không có ý thích nào để nhắc lại một trang sách cũ nhạt nhẽo trong chuỗi phi vụ đầu tư của mình. Tuy nhiên, cuối cùng GNA cho đăng bài này vì vài lý do:
- Tôn chỉ của GNA là đa dạng về góc nhìn để mọi BCA có dịp suy ngẫm;
- Nhiều Emails từ BCA yêu cầu đăng hay share bài này;
- Dù không quen biết, anh Phan Châu Thành là một tác giả mà Alan kính trọng vì những phân tích, bình giải về các inner workings (hoạt động hậu trường) của chính trị và kinh tế VN;
- Sau cùng, câu hỏi chính tác giả muốn truyền đạt là: một doanh nhân hay doanh nghiệp VN có thể thành công trong vị thế “phi chính trị” hay “không bè phái quan hệ” trng môi trường kinh doanh của VN hay không? Anh Thành nghĩ là không thể, riêng Alan thì vẫn giữ quan điểm là khả thi, dù rất khó khăn và ban quản lý phải rất khôn khéo.
Xin nhường lại các comments khác cho bạn đọc)
kinh doanh vn
BCA giải mã thất bại của Alan Phan ở Việt Nam
Phan Châu Thành – 4/4/2015
Tại sao tôi quan tâm đến ông già Alan
Hôm nay ghé GNA, đọc bài “Giải mã thất bại của Alan Phan ở Việt Nam” của chính ông già Alan nói chuyện với và ghi lại bởi Johnny Trần Quang, tôi thấy rầu rầu như đọc về thất bại của chính mình. Tôi đã nghĩ về điều này – thất bại của Alan ở Việt Nam – khá nhiều, đã từng công khai dự đoán (trong các khóa đào tạo kinh doanh của tôi) về nó trước khi nó xảy ra, nhưng sao tôi vẫn cứ buồn. Có lẽ như đa số người biết và quí trọng Alan Phan, tôi không hề muốn ông kinh doanh thất bại ở VN, chỉ mong ông thành công – dù tôi biết đó là điều không thể.
Nhiều năm nay, không nhớ từ khi nào, thường xuyên ghé thăm GNA vì tôi thấy mình gần gũi với những suy nghĩ của bác Alan Phan, tự coi mình là BCA thầm lặng, có thể vì cùng là những doanh nhân độc lập (với hệ thống và đội ngũ “doanh nhân” cộng sản) và cùng có nhiều cố gắng đào tạo và chia sẻ với các bạn trẻ Việt muốn trở thành doanh nhân (cũng độc lập và khác với cách đào tạo của các tổ chức của doanh nhân VN như VCCI…). Tôi đọc và quan tâm đến ông già Alan có lẽ còn vì nhiều học trò của tôi hay nhắc đến ông, hỏi tôi về những điều ông nói, và nói chúng tôi có phong cách gì đó giống nhau? Thay vì đến kết bạn ngay với Alan Phan để xem mình giống Alan Phan thật không, tôi lại chọn tìm hiểu và quan sát ông từ xa, và càng ngày tôi càng quí mến ông.
Trong các khóa giảng của mình, đôi khi tôi lấy Alan Phan như một hình mẫu doanh nhân đích thực của VN vốn rất hiếm hoi, mà người thứ hai thường thì tôi không tìm ra. Hàng năm VCCI chọn ra 100 “doanh nhân tiêu biểu” để trao các loại giải thưởng như “Sao vàng đất Việt” của họ, thì tôi cũng không thể nhìn ra trong số đó một doanh nhân đích thực, và tôi thường chỉ rõ cho học trò thấy lý do tại sao họ không phải là những doanh nhân – vì đa số họ kinh doanh bằng tiền của dân, không phải của họ, còn số ít kinh doanh bằng tiền của mình thì họ lại không có trái tim trung thực của doanh nhân…
Tóm lại, ông gìa Alan như một ngôi sao lạ “xẹt qua” bầu trời kinh doanh u ám của Việt Nam những năm 2005-2015, để lại cho rất nhiều người như tôi niềm quí mến, nhưng chính ông lại ghi nhận thêm một thất bại kinh đoanh, mất khoảng dăm năm và khoảng gần 2 triệu đôla, và tất nhiên là những cơ hội bị bỏ qua… Nhưng…có phải thế không?
Có thật ông già Alan Phan đã thất bại ở Việt Nam?
Khoảng từ 2006-2007 Alan Phan đã bị thuyết phục về VN làm duplicate công ty IT về phần mềm database cho các nhà đầu tư chứng khoán – như Sinobull đã khá thành công của ông ở Trung Quốc, ở VN sẽ là Vinabull. Doanh nhân Việt nào lại không muốn thành công ở VN, nhất là những người đã phải bỏ nước ra đi và thành công ở xứ người (Mỹ, Trung quốc…) như Alan Phan hay nhiều NVHN khác. Tôi đã từng quen biết nhiều Việt kiều như vậy, họ về VN khinh doanh với một tấm lòng hoài quốc nhiều hơn “hoài đô”, tức thường không nhất thiết vì kiếm tiền, mà chỉ vì được làm gì đó và làm được gì đó trên đất Việt – mà kinh doanh gì đó là điều họ biết… Có lẽ chính vì thể, đại đã số họ đều thất bại – ít nhất là đa số những người tôi biết. Và họ vẫn luôn ngẩng cao đầu kiểu như Nguyễn Thái Học: “không thành công thì cũng thành nhân!” Từ 1986 đến nay tôi quen và làm việc cùng với khá nhiều doanh nhân “Nguyễn Thái Học”- NVHN – từ Mỹ, Canada, Châu Âu…như thế.
Với Alan Phan, từ cuối 2008 thị trường chúng khoáng VN rơi xuống đáy, và Vinabull không gượng dậy được khi chưa kịp lên đến đỉnh cao nào, cho đến khi ông chấp nhận thất bại và rút về Mỹ.
Chính Alan Phan đã trả lời các câu hỏi của Johnny Trần Quang và sau đó đăng bài về thất bại của mình ở Việt Nam, trong đó ông rất khảng khái và quân tử nhận hầu thết trách nhiệm về mình – là “do thiếu sót của ban quản trị (mà ông đã chọn) và nhà đầu tư (là ông)”.
Nhưng sao tôi lại không thể đồng ý với ông về điều đó – thế tôi có “vô duyên” không? Làm sao tôi hiểu Vinabull hơn ông?! Thậm chí, tôi không đồng ý với Alan Phan về hai điểm quan trọng liên quan đến thất bại của ông ở Việt Nam. Và đó là lý do tôi viết bài này, không biết ông có cho post lên GNA không? (Đã một vài lần ông có đăng lại bài của tôi – PCT, trong mục BCA rồi đấy nhé…). Lần này tôi sẽ gửi thảng cho GNA, với tư cách BCA (tự nhận).
Thứ nhất, ông Alan tin rằng người Việt có thể kinh doanh phi chính trị ở VN?! (Là sai)
Tôi thấy lý do chính của thất bại của Alan ở Việt Nam, nếu có thất bại, thì đó không chỉ là do “thiếu sót của Ban quản trị (chưa đủ năng lực) và các nhà đầu tư (thiếu đam mê)” như ông nêu ra, mà trước hết do ông – nhà đầu tư đã đánh giá sai về môi trường đầu tư, và quyết định sai hoàn toàn ngay từ đầu. Đơn giản là ông dễ tin người Việt (CSVN) trong nước quá nên hiểu sai môi trường đầu tư, và đã quyết định đầu tư…sai – mặc dù ông luôn tỏ ra rất cảnh giác và đa nghi về những số liệu tài chính, kinh tế, thống kê của CSVN….
Những năm đó, đọc sách của ông, tìm hiểu cách kinh doanh của ông, tôi đã kết luận được là ông sẽ thất bại ở VN, và sẽ phải về lại Mỹ thôi. Tại sao tôi nói thế? Vì tôi thấy ông chưa thật hiểu những người đang cầm quyền chế độ, tức những kẻ đang điều khiển nền kinh tế VN này. Họ luôn “nói vậy mà không phải vậy”. Còn ông đã luôn cố tách ra và làm ngơ các vấn đề chính trị xã hội ra khỏi kinh doanh – trong từng lời nói, bài viết và có lẽ cả từng hành vi của ông, tưởng rằng như thế thì chính trị sẽ không ảnh hưởng đến việc kinh doanh của ông. Ông đã cố coi tất cả mọi người là bạn bè, trong đó có những nhà cầm quyền cộng sản, tưởng rằng như thế thì họ không phải kẻ thù cho việc kinh doanh của ông… Tôi tin ông làm điều đó với trái tim nhân hậu và ngây thơ, rằng ông chỉ muốn về làm kinh doanh với người Việt và sống (chia sẻ cách kinh doanh) với người Việt trên đất Việt mà thôi, ông sẽ hoàn toàn không làm gì, nói gì chống đối chế độ cả (có thể chỉ phê phán nhẹ nhàng)…
Ông đại diện cho những giá trị và đức tính, cách sống, cách kinh doanh tốt đẹp nhất của một doanh nhân trung thực trong xã hội dân chủ, mà tôi gọi là Content/Nội dung của ông, nhưng ông không để ý (và cố tránh, cố lờ đi) cái Bối cảnh/Context (xã hội do cộng sản VN cai trị bằng lừa dối và bạo lực) mà ông muốn mang Nội dung trên của mình vào ứng dụng. Ông biết rõ là Context và Content đó đối chọi và phủ nhận nhau (hay cụ thể là Context cộng sản phủ nhận Content doanh nhân Alan Phan), nhưng ông “giải quyết” bằng cách lờ Context CS đi, cứ vui vẻ “sống chung với lũ” hy vọng lũ sẽ để mình – Content doanh nhân Alan Phan sống…
Nhưng ông đã lầm to. Đọc bài “Hiện tượng Phạm Thanh Bình” và nhiều bài khác của Alan thì thấy rõ ông không hiểu bản chất cộng sản VN chút nào. Có thể ông đã có 10 năm kinh doanh thành công trong môi trường cộng sản Tàu – nhưng ở đó ông là nhà tư bản từ Mỹ trong mắt CS Tàu chứ không phải là doanh nhân người Việt, còn về VN ông là “Việt kiều yêu nước” mà thôi, phải theo nghị quyết 36 của đảng CSVN chả hạn. Đối với CSVN, yêu nước cũng phải được họ cho phép và đúng cách, nhất là không ai được quyền yêu nước hơn cộng sản (mà khác tức là hơn rồi đấy)…, ví dụ vậy, nói gì đến kinh doanh.
Môi trường kinh doanh (của CSVN) ở VN hôm nay không chấp nhận những doanh nhân và cách kinh doanh chân chính như Alan Phan. Nếu Alan Phan muốn kinh doanh thành công ở VN, Alan Phan phải trở thành những “ranh nhân” như các nhà tư bản đỏ và lũ sân sau rửa tiền cho chúng – điều rõ ràng ông Alan vừa không thể làm, vừa không thể chấp nhận. Khả năng ông Alan thay đổi bối cảnh thì không cố – từ đầu ông đã chủ động chỉ cố chiều theo bối cảnh CS thôi. Thế nên ông thất bại là bình thường, và chắc chắn.
Bởi vì, Context luôn mạnh hơn Content, Bối cảnh luôn chiến thắng Nội dung. Nếu Context và Content không đồng nhất thì phải thay đổi Context trước đã, rồi mới đưa Content (tương ứng) vào đó.
(Bản thân tôi đã từng dành hàng hơn chục năm cố gắng mọi cách để “kinh doanh phi chính trị” như ông Alan, và thất bại, nên tôi mạnh dạn chia sẻ điều này).
Thứ hai, ông Alan Phan đã không hề thất bại ở Việt Nam
Vâng, đối với tôi, và rất nhiều người khác, ông Alan Phan đã không hề thất bại ở Việt Nam. Ngược lại, ông đã thành công, và thành công rất lớn, chưa một NVHN nào về nước kinh doanh và thành công như Alan Phan! Rồi người Việt sẽ còn vinh danh và cảm ơn Alan Phan rất nhiều – mà tôi, PCT, không phải người đầu tiên và càng không phải người cuối cùng tin như thế.
Dường như, sứ mệnh của ông Alan Phan sau mấy chục năm đã kinh doanh thành công ở xứ người, là về VN để giúp các doanh nhân trẻ học hỏi và tạo một hình ảnh doanh nhân Việt đích thực cho người Việt trong bối cảnh kinh tế định hướng XHCN của VN, thông qua các hoạt động phi kinh doanh của ông. Ông đã có rất nhiều cuộc hội thảo, buổi nói chuyện, gặp mắt hàng vạn danh nhân và các daonh nhân tương lai, đã viết hơn chục cuốn sách chỉ xoay quanh các vấn đề VN và kinh doanh là chính rất ám ảnh người Việt, và nhất là ông bỏ công sức thời gian cho trang blog nổi tiếng và rất giá trị nhiều mặt (kinh tế, xã hội, đào tạo,, van hoa…) là Góc Nhìn Alan… Tức là Alan đã một mình định hướng lại cả môi trường kinh doanh của CSVN hôm nay vậy. Đó là đóng góp cục kỳ to lớn của Alan Phan (so far) cho nền kinh tế VN hôm nay mà tôi và rất nhiều người Việt, các bạn trẻ Việt, rất trân trọng và đề cao, và cảm ơn thầm lặng nữa (vì dụ: tôi muốn lắm nhưng không làm được thế).
Giống như loài ong đi lấy mật hoa về nuôi mình nhưng chúng không hề biết sứ mệnh lớn lao của chúng đối với sựu sồng trên Trái đất là thụ phấn cho hoa giúp muôn loài thực vật kết quả đơm trái, sinh sôi phát triển và bảo tồn giống loài, rồi từ thực vật là nguồn thức ăn đầu tiên trong chuỗi thức ăn của muôn loài động vật mà sự sống sinh sôi… Mật hay phấn hoa của Alan Phan là công việc kinh doanh ở VN như công ty Vinabull, nhưng sứ mệnh của Alan Phan lại là góp phần gây dựng nên văn hóa kinh doanh và lớp doanh nhân VN mới phi cộng sản, hậu cộng sản… Chí có thế hệ doanh nhân đó mới có thể làm VN hóa rồng (sau thời cộng sản) mà thôi.
Sứ mệnh đó là tuân theo Law of Recession Effects – Định Luật Hiệu ứng Động. Định luật Hiệu ứng động phát biểu rằng, một vật trong chuyển động thì tác động lên vật khác cũng trong chuyển động theo hướng vuông góc với hướng chuyển động ban đầu.
Khi con ong đập cánh bay từ bông hoa này đến bông hoa khác để lấy mật, những cái vỗ cánh ấy đã thổi những hạt phấn hoa đã tách ra và rung rinh bay đi (theo hướng vuông góc với hướng bay của ong) vào nhụy hoa và làm hoa được thụ phấn… Khi Trái đất trong chuyển động của nó trong Vũ trụ chịu lực hút theo trọng lực của Mặt trời cũng đang trong chuyển động, thì tạo thành chuyển động xoay vòng quanh mặt trời (vuông góc với hướng của lực hút trọng trường và lực ly tâm)… Với các doanh nhân như Alan Phan, với mỗi người chúng ta nói chung, thì chuyển động đầu tiên là Nghề nghiệp hay sự nghiệp và chuyển động Recession “vuông góc” là Sứ mệnh, là Nghiệp, là Hiệu ứng Động Vĩnh cửu… Nghiệp của Alan là những việc “phụ” mà Alan Phan làm thêm khi kinh doanh ở VN như dạy học, nói chuyện, viết sách, chia sẻ, và sống như một doanh nhân (không tha hóa đỏ mình đi)…
Nghề nghiệp hay sự nghiệp thì kết thức theo đời người, nhưng Nghiệp hay Sứ mệnh thì tự động truyền tiếp vào những vòng sau, đến vĩnh cửu… Sứ mệnh của con người luôn luôn được tự động truyền cho các thế hệ sau.
Lần nữa: Tại sao tôi viết bài này?
Là vì các bạn thấy đấy, tôi không đồng ý với Alan Phan về đánh giá nguyên nhân thất bại (kinh doanh) của ông ở Việt Nam.
Nếu điều đó chỉ ảnh hưởng đến ông Alan, tức chả ảnh hưởng gì mấy, thì tôi sẽ không lên tiếng làm gì – vì ông Alan Phan đã rút ra bài học (để rút kinh nghiệm hoặc để tránh) rồi, đã bỏ qua và nghĩ đến chuyện khác, chuyện tiếp rồi. Doanh nhân là thế mà.
Nhưng với ông Alan Phan thì không thể đơn giản thế được, bởi vì cái Sứ mệnh mà ông không tự mang vào mà có như tôi nói ở trên, đánh giá của Alan Phan về “thất bại” của ông ở VN có thể gây ngộ nhận cho hàng ngàn bạn trẻ (như chính Johnny Quang) muốn nói gương Alan, rằng nếu họ làm theo Alan nhưng với Ban quản trị tránh được những thiếu sót của Vinabull (điều họ tin sẽ làm được) và nhà đầu tư sẽ đeo bám và đam mê hơn Alan (điều họ chắc chắn sẽ làm được), thì họ chắc chắn sẽ thành công ở VN? Rất tiếc rằng: Không! Đó là ngộ nhận chết người, ngộ nhận Yên Bái của các doanh nhân!
Quan điểm của tôi là, những ai muốn làm doanh nhân chân chính thôi, tức chỉ kinh doanh và không hề muốn thay đổi chính trị như Alan đã cố gắng làm, sẽ không thể thành công một cách chân chính ở VN được, vì bối cảnh chính trị không cho phép Alan và họ làm thế. Nếu họ “thành công”, họ đã bán linh hồn cho quỉ dữ, không còn là doanh nhân đích thực với nghĩa đúng và cao đẹp của từ Doanh nhân nữa.
Tại sao ư? Bởi nếu những NVHN như Alan Phan thành công, người Việt trong nước sẽ thấy rõ ngay những hình ảnh tương phản đối lập giữa họ với các “doanh nhân đỏ” đang “thành công” bằng tham nhũng và cướp phá đất nước – vậy ai là thành công đây? Đích thực phải là các doanh nhân đang “chủ đạo và định hướng” nền kinh tế chứ! Thế cho nên, mọi cách làm khác phải sai hoặc không được tồn tại trong bối cảnh kinh tế VN – có nhờ cả sự vô tình tiếp tay của cả xã hội đã bị băng hoại mọi mặt này nữa (là các đối tác, bạn hàng, khách hàng, nhân viên, các cơ quan quản lý… của chính những Vinabull), thế thôi. Như là công đân VN không được phép yêu nước hơn và khác các đảng viên CSVN vậy.
Có nghĩa là, dù doanh nhân Alan Phan không quan tấm đến chính trị (bề ngoài thôi) thì chính trị (dân chủ) vẫn định hình doanh nhân Alan Phan rồi. Và doanh nhân Alan Phan định hình lại bối cảnh, theo cách khác, theo Định luật Hiệu ứng Động hay Hiệu ứng Vĩnh cửu, tức là qua thực hiện Sứ mệnh hay cái Nghiệp doanh nhân của Alan Phan…
Với mọi doanh nhân đều thế, nên không thể nói doanh nhân nên tránh xa chính trị được đâu, bác Alan Phan ạ! Đó là chưa nói, doanh nhân tránh xa chính trị chỉ như đà điểu rúc đầu vào cát bỏng thôi – trong hoàn cảnh VN hiện nay thì đó vừa là tự sát vừa là trốn chạy Sứ mệnh của doanh nhân Việt với đất nước, với dân tộc Việt.
Phan Châu Thành

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Tháng Tư mãi là nỗi buồn!

Tháng Tư mãi là nỗi buồn!
Cao Huy Huân – VOA – 8 April 2015
Bước sang tháng Tư, không khí của những ngày định mệnh lịch sử bắt đầu rộ khắp các tuyến đường, con phố, bờ sông. Năm nay đặc biệt hơn vì đây là cột mốc lần thứ 40. Bởi lẽ, những cột mốc ý nghĩa luôn nhắc người ta nhìn lại quảng đường chúng ta đã đi suốt mấy chục năm ròng.
Sài Gòn những năm 1975, vốn mệnh danh là “hòn ngọc Viễn đông”, từng là giấc mơ của Lý Quang Diệu những ngày đầu thành lập Singapore. Bốn mươi năm sau, các khẩu hiệu treo đầy đường phố nêu cao thông điệp về một Sài Gòn đầy thành tích. Kẻ đứng trên những con số tăng trưởng kinh tế “đầy tranh cãi” sau 40 năm cười “ngặt nghẽo”. Tôi chưa bao giờ phủ nhận một Sài Gòn mở rộng sau 40 năm – nay trở thành trung tâm kinh tế của cả nước, thu hút đầu tư mạnh từ trong và ngoài nước với chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hay các dự án viện trợ chính thức (ODA) khiến nhiều nước khác phải ganh tỵ. Tốc độ phát triển chóng mặt của những con số phát triển GDP Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung luôn khiến giới quan sát, ngay như các vị lãnh đạo cấp bộ trưởng, cũng phải giật mình. Nhưng xin thưa! nếu “gói ghém” thành tích của Sài Gòn, có lẽ cũng chỉ dừng ở chữ “tiềm năng”. Trong khi hàng tá vấn đề cho đến nay, Sài Gòn vẫn loay hoay, bế tắc, và sẽ còn tiếp tục loay hoay, bế tắc, nếu chính quyền vẫn cứ hoạt động một cách luộm thuộm như nhiều năm qua họ vẫn làm.
Trước hết hãy bàn về kết cấu hạ tầng, đô thị – điều khiến mấy chục triệu dân cứ mãi phàn nàn, rồi lại phàn nàn một cách vô vọng. Bốn mươi năm các vị mở rộng Sài Gòn cả về chiều rộng địa lý lẫn về chiều sâu kinh tế – xã hội. Các áp lực dân số, chênh lệch giàu nghèo, môi trường, tệ nạn xã hội, sức ép hạ tầng cơ sở, văn hóa đô thị… là không thể tránh khỏi. Để rồi người dân Sài Gòn – vốn đã “già trước khi giàu” – nay phải quẩn quanh bên một “thành phố ao làng” với hàng loạt các hệ lụy nhức nhối: ngập nước ngày càng nặng; ô nhiễm (khói, bụi, tiếng ồn, nguồn nước) ngày càng trầm trọng hơn; văn hóa tiểu nông, lúa nước lũ lượt kéo nhau vào Sài Gòn, trong khi cái mà các vị lãnh đạo gọi là “văn minh thành phố” lại chính là việc bê-tông hóa các tuyến đường vốn được cây xanh bao phủ, là hầm vượt sông tốn kém nghìn tỷ đồng vốn có thể được thay thế bằng nhiều cây cầu khang trang hơn, là các đề xuất dự án “ăn trước – chặn sau” theo kiểu nhóm lợi ích, ví như học sinh tiểu học phải trang bị máy tính bảng khi đến trường. Để rồi bọn trẻ, dù nhiều gia đình khó khăn cũng phải vét tiền của lo cho con “sang nước ngoài tỵ nạn giáo dục”. Nhà ổ chuột cho dân ở, trong khi nhà cao ốc thì chỉ biết để chuột “định cư” do hệ quả bong bóng bất động sản vỡ…
Mỗi thế hệ lãnh đạo Mỹ, EU, Nhật Bản hay Singapore đều để lại dấu ấn bằng những công trình tầm cỡ phục vụ lợi ích của dân. Tổng thống Mỹ Barack Obama với hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân (dù bị phe nhà giàu tranh cãi), Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe với cải cách kinh tế Abenomics vực dậy Nhật Bản, đặc biệt sau thảm họa kép 2011. Hay như Lý Quang Diệu với gần 50 năm xây dựng một đảo quốc Singapore bị Malaysia “bỏ rơi” trở thành con rồng châu Á. Trong khi Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung, các vị nhận không biết bao nhiêu vốn ODA đổ vào đầu tư hạ tầng, ưu tiên phát triển cơ sở vật chất phục vụ đời sống hiện đại hóa, để rồi số công trình hạ tầng phục vụ lợi ích cho dân đạt chuẩn quốc tế chỉ nằm trên đầu ngón tay bởi sự đục khoét bằng đủ các kiểu tham nhũng: lót tay, hối lộ, bôi trơn, lại quả. Các nhóm lợi ích thì xem vốn ODA vẫn là thứ tiền phải “giải ngân cho kịp” để “ăn”, trong khi dân phải mang tiếng “xin”, chấp nhận những “cảnh cáo” từ phía đối tác mà mới nhất là Nhật Bản, rằng “còn tham nhũng sẽ cắt tiền ODA”.
Thứ hai, không khỏi xót xa khi nhìn vào các ngành công nghiệp mũi nhọn và các ngành công nghiệp ưu tiên. Trong tầm nhìn chiến lược phát triển công nghiệp từ nay đến năm 2020, Sài Gòn đã xác định ba ngành mũi nhọn của công nghiệp bao gồm: i) Cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tàu, thiết bị toàn bộ, máy công nghiệp, cơ điện tử); ii) Thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin; iii) Sản phẩm từ công nghệ mới (năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số).
Phải khẳng định đây đúng là “ba mũi nhọn” quan trọng, không chỉ Việt Nam, mà nhiều quốc gia khác như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản cũng từng trải qua. Nhưng sau 40 năm giải phóng thì nay là lúc ai cũng hốt hoảng khi chúng ta chỉ còn 5 năm để đạt ba mục tiêu mũi nhọn trên. Nhưng xin thưa, 5 năm là một con số “viển vông và không tưởng” khi hiện tại Sài Gòn đang đứng sau vạch số 0. Nghĩ làm gì đến công nghệ cao siêu khi ngay cả con ốc vít, hay các phụ kiện nhỏ nhất phục vụ ngành công nghiệp lắp ráp, cho đến nay gần như Việt Nam đều phải nhập khẩu. Khái niệm “công nghiệp phụ trợ” – ngành công nghiệp cơ bản của mọi ngành công nghiệp đã được đưa ra thảo luận và đầu tư – ra đời từ hơn chục năm trước ở Việt Nam, nhưng các vị lãnh đạo vẫn để nó dậm chân tại chỗ, mệt mỏi, thoi thóp và rồi chết đứng, nhường chỗ cho hàng hóa tiểu ngạch, chính ngạch của Bắc Kinh.
Xin phép được hỏi các vị “bao nhiêu doanh nghiệp phụ trợ mới có thể làm ra một chiếc xe hơi?” Xin thưa! Trên dưới 200 doanh nghiệp con “trợ sức” từng chi tiết máy mới có một chiếc ô tô mà các vị lãnh đạo ngồi mỗi ngày đến công sở. Cho nên có vị nào dám cam đoan sau 5 năm nữa, khi rào cản thuế quan phải hạ xuống dưới bước chân của gã khổng lồ WTO hay các thể chế mậu dịch tự do tương tự, một chiếc ô tô “lắp ráp in Vietnam” có thể sống trước ô tô ngoại nhập? Báo chí mấy hôm nay đưa tin “ô tô Việt Nam vẫn loay hoay lắp ráp để… chờ chết”, chứ Sài Gòn đừng bàn đến công nghiệp công nghệ cao – chỉ tổ khiến dân chờ, đợi, mỏi mòn và thất vọng.
Trong khi đó, bảy ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển của Sài Gòn là: dệt may, da dày, nhựa, chế biến nông lâm thuỷ sản, khai thác chế biến nhôm, thép, hoá chất cũng đã và đang hấp hối. Xưa nay, không ít các vị lãnh đạo vẫn cứ sống trong mớ bong bóng “rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu”, cho rằng Sài Gòn có nhân công giá rẻ, gần các khu tài nguyên. Để rồi khi công nghệ cao ngoại nhập khỏa lấp đi sức lực của đôi bàn tay không chỏng chơ, chai sượn của những người dân nghèo khốn khổ, thì các doanh nghiệp nội địa bắt đầu xếp hàng phá sản, đá bể toàn bộ chén cơm của hàng trăm nghìn người thất nghiệp. Hãy nhìn các doanh nghiệp nội địa ngành dệt may, mía đường, sữa,… liên tục “than trời trách đất” trong những năm qua trước áp lực của các doanh nghiệp ngoại đến từ Lào, Campuchia sẽ thấy chúng ta đang yếu đến cỡ nào.
Cuối cùng, xin hãy thẳng thắn nói về môi trường đầu tư. Chỉ chưa đầy một tháng, Việt Nam nhận liên tiếp ba sự kiện “choáng váng”. Một là, Nhật Bản tuyên bố “cắt viện trợ ODA nếu có thêm bất kỳ một dự án tham nhũng nào tại Việt Nam. Hai là, tập đoàn POSCO (Hàn Quốc) bị điều tra tham nhũng, hối lộ nhà thầu Việt Nam trong các dự án cao tốc giai đoạn 2009-2012. Ba là, Ngân hàng Thế giới (World Bank) tuyên bố cấm hoạt động trong vòng một năm đối với Tập đoàn Louis Berger Group (LBG, Mỹ) vì dính líu đến các hành vi hối lộ trong hai dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ tại Việt Nam. Công ty mẹ của LBG cũng bị hạn chế quyền đấu thầu đối với các dự án của Ngân hàng Thế giới vì không quản lí được các hoạt động “chung chi, hối lộ quan chức” mà LBG đã thực hiện trong hai dự án: Giao thông Nông thôn 3, và Đầu tư Ưu tiên Cơ sợ Hạ tầng Đà Nẵng do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Tất nhiên, không ai điểm mặt chỉ tên Sài Gòn, nhưng những vấn nạn tương tự: thủ tục kinh doanh, đầu tư rườm rà, phức tạp mở đường cho các nghi thức “lót tay”, hay “lại quả”. Đó là chưa kể đến các vụ bê bối về tham nhũng, lừa đảo trong hệ thống ngân hàng; hối lộ trong hệ thống cảnh sát giao thông… Tất cả làm giảm đáng kể tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Sài Gòn.
Một Sài Gòn mà hàng triệu dân mơ ước bất kể phải nếm mật nằm gai trong suốt 40 năm qua phải theo đuổi tám mục tiêu: i) Hệ thống cung cấp nước và vệ sinh môi trường (Water supply and sanitation); ii) Giao thông vận tải (Traffic and transport); iii) Năng lượng (Energy); iv) Chức năng đô thị (Urban functions); v) Kiến trúc (Architecture); vi) Quản lý chất thải (Waste Management); vii) Quy hoạch cảnh quan (Landscape Planning); viii) Hợp tác giữa khối nhà nước và khối tư nhân (Public and private stakeholders).
Nhưng rồi trước mắt họ, con đường từ nhà đến nơi làm việc đang đối diện quá nhiều rủi ro từ hệ lụy tích tụ suốt 40 năm: Đó là một con đường đầy khói bụi, lô cốt dựng khắp nơi, dây điện chằng chịt, nước ngập úng với lượng rác thải khổng lồ. Thỉnh thoảng lại gặp vài ba anh cảnh sát giao thông “nghiêm khắc” rất thích bắt lỗi đèn xi-nhan, lấn tuyến dù con đường nhỏ hẹp và biển báo đánh đố người dân – những kẻ ngoài việc đóng thuế nuôi quan chức phải tự nguyện trả thêm ít tiền “lót tay” nếu không muốn bị “vạch ví” giữa đường. Và cũng trên con đường ấy, những chiếc xe hơi sang trọng, vẫn âm thầm và lạnh lùng lướt qua những mảnh đời cơ cực phải lam lũ đội nắng trên đầu, lội mưa tới bụng và trong hai hốc mắt sâu hoắm vẫn mong chờ bữa ăn chiều có đủ cháo, rau.
Vậy đấy, chẳng biết sau những ngày tiệc tùng mừng 40 năm chiến thắng, có vị quan chức nào giật mình thốt lên “đã 40 năm rồi cơ đấy” khi thấy tại quảng trường độc lập vẫn còn không ít kẻ lang thang nhặt lấy từng chiếc lọ, cái lon để bán kiếm tiền mà quên mất “ngày độc lập phải vui lên”.
Cao Huy Huân

Người Việt Thích Nổ

Người Việt Thích Nổ
Nguyễn Hưng Quốc – VOA – 14April.2015
Năm 2011, nhân các thảm họa xảy ra tại Nhật, giới cầm bút hay nói đến văn hóa ứng xử của người Nhật, từ đó, ít nhiều liên hệ đến người Việt.
So sánh người Việt và người Nhật, chắc chắn chúng ta thua nhiều thứ. Nhưng có một điều chúng ta nhất định không thua: tật nổ.
Tôi không nói đến từng cá nhân. Từ góc độ cá nhân, ở đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp những kẻ khoác lác. Người Việt Nam chưa chắc đã hơn. Thậm chí còn thua nữa là khác. Ở đây, tôi muốn nói đến người Việt với tư cách một tập thể.
Sống ở Úc khá lâu, tôi chỉ nghe người Úc, từ giới chính trị gia đến giới trí thức hay giới bình dân, hay nói Úc là một quốc gia may mắn (lucky country), nhưng thường thì người ta nhấn mạnh thêm: May mắn, chưa đủ; Úc cần phải trở thành một quốc gia giàu kỹ năng (clever country), hoặc, hơn nữa, một quốc gia giàu sáng kiến (smart country). Đất rộng và nhiều tài nguyên thiên nhiên, chưa đủ; người Úc cần có chiến lược thật sáng suốt để khai thác và tận dụng những của cải Trời cho ấy.
Ở Việt Nam thì ngược lại. Ở đâu chúng ta cũng nghe những tiếng nổ um trời. Trên báo chí. Trên tivi. Trên các đài phát thanh. Về địa thế thì Việt Nam nằm ở điểm giao lưu của hai nền văn hóa cổ kính và lớn nhất châu Á: Trung Hoa và Ấn Độ. Về thiên nhiên thì “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Về lịch sử thì đánh thắng hết đế quốc này đến đế quốc khác. Về đảng và lãnh tụ thì là “đỉnh cao trí tuệ của nhân loại”. Còn về con người thì toàn là anh hùng, ra ngõ là gặp ngay anh hùng, khiến cả thế giới đều ngưỡng mộ; ngưỡng mộ đến độ nhiều người ngoại quốc cứ mơ ước có một phép lạ nào đó biến mình thành… người Việt Nam.
Nhiều người đã phê bình cái tính thích nổ ấy. Sớm, thẳng thắn và cay đắng nhất là Nguyễn Duy trong bài thơ “Nhìn từ xa… Tổ quốc” sáng tác năm 1988, trong đó có mấy câu:
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?
[…]
Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
[…]
Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…
Tuy nhiên, ở đây, tôi sẽ không bàn đến khoảng cách giữa những điều người ta tuyên truyền và thực tế. Tôi chỉ muốn tập trung vào một sự nghịch lý khác: trong sự khoác lác của người Việt, đặc biệt của bộ máy tuyên truyền, có cái gì như thiếu tự tin, nếu không muốn nói thẳng ra là tự ti. Mà thật ra, về phương diện tâm lý, sự khoác lác thường xuất phát từ sự tự ti hơn là tự hào thực sự. Và vì tự ti cho nên khi khoác lác, người ta hay cầu cạnh đến một số thế lực khác, chủ yếu là từ người ngoại quốc.
Chuyện báo chí Việt Nam đánh bóng tên tuổi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cách đây mấy năm là một ví dụ điển hình (1). Người Việt khen nhau, người ta thấy chưa đủ. Người ta cần một người ngoại quốc. Nếu không có người ngoại quốc có thẩm quyền thì người ta bắt đại một ông chuyên về rác và các loại chất phế thải. Nếu không có thật thì người ta bịa. Tiêu biểu nhất là vụ Vũ Hạnh bịa ra cái tên A. Pazzi, một người Ý, khi in cuốn Người Việt cao quý ở Sài Gòn vào năm 1972. Sau này, Vũ Hạnh tiết lộ là động cơ chính thúc đẩy ông viết cuốn sách ấy là để kích động lòng tự hào dân tộc, từ đó, gián tiếp tiếp sức cho phong trào phản chiến và chống Mỹ do cộng sản chủ trương lúc ấy. Nhưng để kích động lòng tự hào dân tộc mà lại phải mượn một cái tên ngoại quốc, kể cũng mỉa mai quá, phải không?
Những chuyện mượn danh và uy tín của người ngoại quốc để tự khen mình hoặc để chứng minh điều gì đó là đúng nhan nhản trên sách báo và ở các hội trường tại Việt Nam. Trong viết lách, nhiều người cho việc trích dẫn một tác giả Việt Nam khác là xoàng. Trích dẫn, phải trích dẫn một tác giả ngoại quốc mới là sang. Không đọc được ngoại ngữ thì trích dẫn qua trung gian của một tác giả Việt Nam khác nhưng lại giấu nhẹm tên tuổi tác giả Việt Nam ấy đi!
Chán.

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975 (Bài 2)

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975
Bài 2: ‘Con bà phước, cái bang’ Galang
Sông Tiền – Người Việt- 9 April 2015
Tôi đặt chân đến trại tỵ nạn Galang vào trưa ngày 1 Tháng Sáu năm 1990 sau đúng 2 tháng rời Việt Nam.
Ðoàn tàu chúng tôi đến trại với 655 thuyền nhân trên hai chuyến tàu định mệnh được nhập chung từ nhiều chiếc ghe vượt biển khác nhau đã đến được đất liền Mã Lai nhưng bị hải quân nước này gom lại và xua đuổi sang Nam Dương.
Hồi tưởng lại chuyến hải trình gian khổ và những ngày tháng bất ổn trong quá trình thanh lọc ở trại tỵ nạn mà cảm thấy thật thấm thía cho hai chữ thuyền nhân.
Như bao thuyền nhân khác đến trại tỵ nạn sau ngày đóng cửa đảo định mệnh 17 Tháng Ba năm 1989, tất cả chúng tôi đều phải trải qua một quá trình ‘thanh lọc’ để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của mình.
Chúng tôi đến Galang vào thời điểm thuyền nhân trôi tấp vào Mã Lai Á bị dồn đẩy sang Nam Dương ồ ạt nên số lượng thuyền nhân trên đảo từ năm 1989 không quá 3,000 người đã tăng đột biến lên hơn 14,000 trong vòng chưa đầy một năm. Tình trạng quá tải không có chỗ ở cho người tỵ nạn là một chuyện khá nhức đầu cho các nhân viên Cao Ủy và phòng kỹ thuật.
365 người chúng tôi được đưa thẳng vào Galang 2 và sống lây lất vật vạ tạm thời bên trong hội trường của văn phòng Cao Ủy và dọc theo hành lang của phòng xã hội. Nhìn cảnh những người “say sóng” nằm ngồi dọc theo hành lang các văn phòng của Cao Ủy Tỵ Nạn và toán JVA được các anh chị thiện nguyện viên của phòng xã hội và gia đình Phật Tử Long Hoa cũng như thanh niên Công Giáo trợ giúp nấu và chia nhau những tô mì gói nóng để đỡ đói qua ngày trong thời gian chờ đợi những nhân viên của phòng kỹ thuật dựng lên các barrack bằng plastic trên các nền barrack cũ của Zone F nó ám ảnh và theo tôi mãi trong những giấc mơ cho đến ngày hôm nay.
Galang, quán trọ trước cổng thiên đường đã không thật sự đến với chúng tôi, những thuyền nhân kém may mắn đã chậm chân đến trại sau cái ngày oan khiên mà Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại áp dụng để ngăn chặn làn sóng thuyền nhân bỏ nước ra đi tỵ nạn Cộng Sản ngày càng dâng cao. Sau những ngày dài chờ đợi và mất ngủ chúng tôi được đưa vào sống trong những barrack được lợp bằng plastic mới được dựng lên trong khu Zone F bốn bề gió lộng theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của nó.
Trải tấm chiếu Cao Ủy trên nền xi măng lòi lõm của barrack để xí chỗ xong là chúng tôi phải nghĩ đến việc sinh tồn trong những ngày dài sắp tới. Mỗi thuyền nhân được phát một đôi dép Cao Ủy, một cái mền và một chiếc chiếu, một cái tô, một cái chén và một cái ly bằng nhựa, mỗi 5 người được phát một cái lò xô nấu ăn bằng dầu, một cái can 5 lít đựng dầu hôi. Khẩu phần lương thực nghe đâu đã bị cắt giảm nên hàng tuần chúng tôi mỗi người chỉ được phát 3 gói mì, 2.8 kg gạo, 100 gram đậu xanh, 100 gram đậu nành, 100 gram đường và 100 gram đồ tươi có thể là bí rợ hay rau cải. Mỗi đầu tháng chúng tôi được cấp 9 lon cá mòi loại nhỏ, và 4 lít dầu ăn, có tháng Cao Ủy thay thế bằng ba hộp thịt hộp mà chúng tôi gọi là pa tê, khi thì 3 lon cá mòi loại lớn. Ăn cá mòi và tắm nước suối từ trên rừng chảy xuống được chứa trong những cái hộc được đào sẵn ở dưới hạ nguồn nên đã có rất nhiều người bị ghẻ ngứa, chúng tôi đã phải thức dậy thật sớm để sắp hàng lấy số ở bệnh viện Galang 2 chờ được chích thuốc vào mỗi sáng.
Với sức trẻ của tuổi minor vị thành niên, nhóm con “bà phước” không có thân nhân ở nước ngoài không cách gì chúng tôi có thể tồn tại và sống nổi với khẩu phần lương thực hạn hẹp mà Cao Ủy đã cấp phát thông qua nhà cầm quyền Indo, những người bạn của chúng tôi phải gom lại tìm cách mưu sinh để sống còn trong những ngày dài ở trại.
Có một câu chuyện làm cho tôi còn nhớ mãi là trong những ngày còn say sóng khi mới đến đảo. Tôi có theo chân mấy người bạn đi dạo ngoài chợ Galang 2 tình cờ được gặp lại dì Hai Ngọc Châu là bạn rất thân của mẹ tôi đã vượt biên và đến đảo vào năm 1987. Dì dượng và gia đình các anh chị lẽ ra đã đi định cư từ rất lâu nhưng vì dượng Hai bị bệnh phổi khá nặng nên đã bị các phái đoàn từ chối khi phỏng vấn và còn kẹt lại và đang chờ đi Pháp vào Tháng Tám năm 1990.
Mặc dù gia đình của dì lẽ ra phải đi Mỹ vì dượng Hai là cựu quân nhân của QLVNCH. Dì Hai và các anh chị đã rất thương và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong khoảng thời gian này. Thấy chúng tôi tơi tả không có quần áo mặc dì mua vải nhờ chị Một và chị Bưởi là người con dâu và người quen của dì may đồ cho chúng tôi, lâu lâu dì mua thịt heo rừng và đồ ăn ngoài chợ đem vào tiếp tế cho chúng tôi.
Mặc dù đã sắp đi định cư và đã hứa cho người khác cái thùng phi đựng nước cũng như cái tủ đựng đồ, nhưng vì thấy hoàn cảnh quá thê thảm của chúng tôi mà dì Hai đã trả tiền lại cho người ta để xin lại cho chúng tôi có cái thùng phi đựng nước uống và có tủ để đựng đồ. Thật quý vô cùng những tấm lòng vàng.
“Bún, bún đây, ai ăn bún đổi cá, đổi gạo không? Num bờ chốc tê, Num bờ chốc đo ko tê,” những tiếng rao lanh lảnh ở Galang 1 và Xóm Miên ngày nào vẫn còn âm vang và là động lực mạnh mẽ giúp cho tôi vượt qua hết những khó khăn và vấp ngã sau này khi đã được định cư tại Hoa Kỳ.
Tôi đến với cái nghề bán bún và biết làm ra tiền đầu tiên trong đời từ trại tỵ nạn Galang qua chú Trung và anh Hùng cùng tàu của tôi. Cuộc sống ở trại khổ quá mà không có liên lạc được với thân nhân ở nước ngoài để viện trợ cứu đói, chú Trung và anh Hùng con của chú Tư Xị đã đột phá tìm cách làm quen với anh Nhân chủ lò bún ở gần Suối Zone F Galang 2 để xin lãnh bún đem đi bán dạo vòng quanh các barrack ở Galang 2.
Chú Trung thấy hoàn cảnh anh em con bà phước của chúng tôi thê thảm quá nên chú kêu lại hỏi thăm tụi tôi có chịu đi bán bún không rồi chú hỏi xin ông chủ lò bún cho chúng tôi lãnh bún đi bán ngoài Galang 1. Tôi, Ðức và 3 anh em Ðành, Ðạt và Chín nhận lời, thế là mấy anh em chúng tôi hàng ngày vào sáng sớm thay nhau gánh bún từ Galang 2 đem ra Galang 1 bán và đổi cá, gạo kiếm tiền mưu sinh trên đảo.
Là những công tử bột chưa nếm bụi trần gian, trại tỵ nạn Galang đã nhào nặn cho chúng tôi trở nên cứng cáp và trưởng thành hơn. Có những ngày mưa gió mà gánh bún thì còn nặng trĩu trên vai, chúng tôi len lỏi qua khỏi khu vực bệnh viện Galang 1 (lúc này đã được trưng dụng làm chỗ ở cho thuyền nhân) đi hoài mà gánh bún thì vẫn chưa vơi chúng tôi bạo gan tìm ra khu xóm Miên (vào cuối năm 1990 đã có gần 1,500 người Cambodia vượt biển đi tỵ nạn) lần đầu tiên món Num Bờ Chốc xuất hiện ở Làng Miên gánh bún ngày hôm đó được mua hết trong vòng 30. Thừa thắng xông lên sau đó anh em chúng tôi tăng số lượng bún lên gấp đôi, hàng ngày gánh ra bán thêm ngoài xóm Miên.
Chúng tôi học thêm tiếng Miên qua chị Hồng đi chung tàu. Chị Hồng là em vợ của chú Y Giang NiekDam là ‘leader’ tàu của chúng tôi, từ đó việc giao tiếp với bà con người Miên được dễ dàng hơn.
Có một câu chuyện bây giờ nghĩ lại rất là tức cười cho sự khờ khạo của tuổi trẻ chúng tôi, vì không quen ai ở ngoài Galang 1 nên chúng tôi cứ gánh hai thùng bún thật nặng đi thẳng ra xóm Miên bán trước, khi qua khỏi Cổng Chùa Quan Âm Tự đến gần khu vực Suối Miên, phần vì hai gánh bún quá nặng phần mệt nên chúng tôi quyết định chui vào một bụi cây ở gần đó giấu một thùng bún và gánh thùng bún còn lại trực chỉ xóm Miên. Trên đường về lại Galang 1 chúng tôi tấp vào lấy cái thùng bún giấu trong bụi cây, cả hai chúng tôi đã cười thật giòn và thật lâu khi nghĩ đến cảnh trở lại chỗ giấu thùng bún mà kiếm không ra vì cắc cớ có ông nào đi ngang tấp vào tè bậy mà thấy thùng bún và vác luôn về thì anh em chúng tôi chắc sẽ khóc bằng tiếng Miên luôn.
Có những người Miên thật tốt bụng khi thấy anh em chúng tôi bận quần áo tả tơi trong lúc vất vả mưu sinh đã kêu lại cho quần áo lành lặn để bận, buôn bán một thời gian thì chúng tôi bắt đầu có những mối tốt, họ đặt bún của chúng tôi hàng ngày để nấu món Bún Cá bán trong làng Miên. Anh em chúng tôi thay nhau mỗi ngày vào buổi chiều gánh bún đi bỏ mối ngoài làng Miên, khi thì 15 kg khi thì 10 kg tùy theo ngày. Thấy chúng tôi làm ăn được người chủ lò bún sinh lòng tham, anh ta tăng giá bún lên và sắm xe đạp chở bún ra ngoài làng Miên giành mối và bán sỉ với giá rẻ hơn. Bất mãn anh em chúng tôi không tiếp tục đi bán bún nữa. Sau này một số anh em trong nhóm con bà phước đã phải đi đánh bắt cá ngoài biển, bán bánh mì, bán cà rem, đào giếng mướn và một vài đứa thì làm nghề báo thư mà chúng tôi gọi đùa là những tay chuyên Bóp Cổ Thiên Hạ.
Galang là một trường đời đầy thử thách đã rèn luyện và huấn nhục chúng tôi được cứng cáp và trưởng thành hơn, từ cách đối nhân xử thế đầy tình người cho đến nhân tình thế thái bạc bẽo của cuộc đời chúng tôi đều được học từ trại Galang, có những bài học rất đắt giá và có những bài học không phải trả tiền mà chúng tôi may mắn được học qua những kinh nghiệm đau thương của bạn bè và chính cá nhân mình.
Trong những năm tháng đầu tiên ở trại tỵ nạn, chúng tôi lam lũ cực nhọc mưu sinh nhưng tinh thần thì rất vui và không có nhiều lo nghĩ cho đến khi bắt đầu có kết quả thanh lọc vào những đợt đầu tiên cho những đồng bào đến trại vào những ngày đầu tiên kể từ sau ngày đóng cửa đảo, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại vì muốn chặn đứng làn sóng thuyền nhân vượt biển tìm tự do nên đã tạo ra rất nhiều chuyện bất công trong vấn đề xác định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân.
Thảm cảnh chèn ép buộc những cô gái Việt phải hiến thân để đánh đổi tấm vé công nhận là tỵ nạn chính trị xảy ra ngày càng nhiều. Nhà cầm quyền Nam Dương có toàn quyền quyết định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân nên vô tình đã tiếp tay cho những nhân vật đang nắm vai trò sinh sát trên đảo lộng hành mặc sức chà đạp nhân phẩm và tiết hạnh của người phụ nữ Việt Nam trong khoảng thời gian khủng hoảng này.
Ðã có rất nhiều trường hợp cả gia đình phải tốn rất nhiều tiền để hối lộ các giới chức cầm quyền và họ còn bị bắt ép phải hiến dâng con gái dưới tuổi vị thành niên của họ cho những tên phó hay trưởng đảo cũng như những nhân vật coi về phần an ninh và thanh lọc.
Ðã có nhiều trường hợp lường gạt để lấy tiền của thuyền nhân khi hối lộ với chính quyền địa phương dẫn đến giết người để bịt miệng, vụ án ở Suối Chùa Kim Quang mà hai anh Sáu Koler và Nguyễn Văn Viễn là nạn nhân của những tên sát nhân này.
Bất công và đau khổ dày xéo tâm can của những thuyền nhân Galang, sau khi nhận kết quả rớt thanh lọc, anh Diệp Quang Huy đã gặp luật sư người Phi để tư vấn cho vấn đề khiếu nại của mình, bị tên Phi lùn xúc phạm, anh Diệp Quang Huy đã tẩm dầu tự thiêu ngay trước văn phòng Sơ Vấn Galang 2.
Minor Lưu Thị Hồng Hạnh đã đậu thanh lọc nhưng bị rút giấy đậu vì là minor đã phẫn uất tự thiêu ngay trong barrack của mình. Những thảm trạng của thuyền nhân thật là bi thương đã xảy ra rất nhiều vào thời điểm 1991-1996.
Giá trị của hai chữ tự do đã được đánh đổi bằng máu và nước mắt, bằng đói khát của những ngày lênh đênh trên biển, bằng sự tủi nhục của thân xác phụ nữ Việt trên biển và trong đất liền, bằng sự rẻ khinh và xua đuổi của các quốc gia tạm trú, bằng những nấm mồ hoang lạnh trên các trại tỵ nạn của không biết bao nhiêu ngàn thuyền nhân đã bỏ mình nơi rừng sâu, đảo vắng.
Và hơn hết là bằng sự đấu tranh tuyệt thực biểu tình của hơn 4,500 thuyền nhân tại Galang, hơn 2,000 thuyền nhân tuyệt thực ngất xỉu phài vào cấp cứu tại bệnh viện Galang 2, hơn 20 thanh niên đã đâm bụng tự sát không thành. Anh Phạm Văn Châu đã tự thiêu trong buổi sáng biểu tình và được đưa sang Pinang chết mất xác. Anh Lê Xuân Thọ đã tẩm dầu tự thiêu và đâm bụng chết tại chỗ biểu tình được đồng bào quàn và giữ xác trong quan tài tại chỗ biểu tình cho đến ngày cuối cùng sau khi bị cảnh sát đặc nhiệm của Indo trấn áp.
Cuộc biểu tình suốt 179 ngày đêm của thuyền nhân Galang chống cưỡng bức hồi hương và đòi hỏi công bằng cũng như quyền tự do tỵ nạn chính trị của mình là cuộc biểu tình dài nhất và bi thương nhất trong lịch sử của thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam. Là thuyền nhân vượt biển tìm tự do chúng ta không được phép quên chúng ta là ai và tại sao chúng ta đang ở khắp nơi trên thế giới này.
Galang một trời tâm sự…
Loạt Bài Về Saigon SAU 1975
GNA: Loạt bài về Saigon TRƯỚC 1975 đã gây nhiều phản hồi: những người dân Saigon cũ và mới nhìn lại những hình ảnh cũ và nhận ra một “biển dâu” thực sự đã thay đổi cuộc đời của chục triệu người và không gian sống của họ đã chìm khuất hoàn toàn vào một “hành tinh” khác.
Để tìm một góc nhìn khác, GNA sẽ lần lượt cho đăng lại những mẩu chuyện và hình ảnh về Saigon SAU 1975. Lăng kính của Đảng và Nhà Nước thì chúng ta đã quá rõ, GNA không cần đăng lại nơi đây (đã có hơn 700 loa phường khắp xứ lảm nhảm hàng ngày). Chúng tôi sẽ chỉ ghi lại những suy ngẫm, hồi ức và tâm tư của những NGƯỜI DÂN (Saigon cũ hay nhập cư mới) để chúng ta có chút đồng cảm về một giai đoạn lịch sử vô cùng khác biệt của Saigon.
GNA sẽ tránh đề cập về chính trị, lãnh tụ hay lịch sử. Chỉ có những mảnh đời rất DÂN, rất Saigon. (Xin các BCA khó tính tha lỗi cho tính cẩn thận của GNA với những điều cấm kỵ liên quan đến quyền lực).
Tuy nhiên, để các dư luận viên im mồm, chúng tôi xin nhắc lại trước hết quan điểm của chính phủ về ngày đại thắng 30/4:
“Theo kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015) vừa được UBND TP HCM ban hành, thành phố sẽ tổ chức khánh thành các công trình: cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm trước ngày 15/3; tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 30/3……..
Các điểm bắn pháo hoa gồm: khu vực đường hầm sông Sài Gòn (quận 2); Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược (huyện Củ Chi); Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã Ba Giồng (huyện Hóc Môn); Khu di tích Láng Le – Bàu Cò (huyện Bình Chánh); Sân bóng đá huyện Cần Giờ; Công viên lịch sử – Văn hóa Dân tộc (quận 9) và Công viên Văn hóa Đầm Sen (quận 11)……
Trước đó, Thủ tướng đã phê duyệt Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước. Theo đó, các bộ, ngành trung ương sẽ chủ trì lễ mitting tại lễ đài ngã tư Lê Duẩn – Pasteur, Công viên 30/4 (quận 1). Thời gian tổng duyệt vào lúc 7h ngày 26/4 và chính thức diễn ra lúc 7h ngày 30/4, trong lễ mitting sẽ có tiết mục thả bong bóng và chim bồ câu.
Sau đó sẽ là lễ diễu binh, diễu hành với sự tham dự của khối nghi trượng, các khối diễu binh (các khối đi tay không, các khối đi có súng, có khí tài) và các khối diễu hành quần chúng.”

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

Những Dự Án Tỷ Đô “Đầu Voi Đuôi Chuột”

Những đổ vỡ tỷ đô
Hoàng Phương – Diễn đàn doanh nghiệp – 22 Mar 2015
Dự án Thép Guang Lian (Dung Quất) vừa có những động thái mới khiến dư luận có dự cảm không lành…
Một cách vô cùng bất ngờ, sau 5 năm theo đuổi việc xin nâng vốn đầu tư lên 4,5 tỷ USD, chủ đầu tư Dự án Thép Guang Lian (Dung Quất) mới đây đã quyết định xin giảm vốn xuống chỉ còn 2 tỷ USD, đồng thời xin phân kỳ đầu tư thành 4 giai đoạn.
Từ chuyện Thép Guang Lian xin giảm vốn
Quyết định giảm vốn của chủ đầu tư hiện tại của Dự án (Tập đoàn E-United – Đài Loan) xuất phát từ việc cuối năm ngoái Tập đoàn JFE (Nhật Bản) tuyên bố không đeo đuổi dự án này nữa. Vậy là sau hai năm tốn công, phí sức của cả JFE lẫn các cơ quan chức năng địa phương và Trung ương, Dự án Thép Guang Lian vẫn lỡ dở. Thép Guang Lian chính thức được cấp chứng nhận đầu tư từ năm 2006, đầu tiên là cho Tập đoàn Tycoons (Trung Quốc), sau đó có thêm sự tham gia của E-United (Đài Loan), với tỷ lệ góp vốn tương ứng là 10% và 90%. Nhưng sau khi khởi công và thực hiện một số hạng mục như đóng cọc xây dựng, ký túc xá cho người lao động thì đến năm 2010, dự án tạm dừng lại để chờ giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh lên 4,5 tỷ USD.
Trước việc đất dự án bị bỏ hoang nhiều năm, dư luận Quảng Ngãi đã không khỏi bức xúc. Cơ quan quản lý nhà nước cũng sốt ruột. Mọi chuyện phần nào được giải tỏa khi đầu năm 2012, JFE, tập đoàn thép lớn thứ 6 toàn cầu và thứ hai ở Nhật Bản, quyết định ký biên bản ghi nhớ về việc nghiên cứu hợp tác đầu tư dự án. Nếu quyết định tham gia dự án, JFE gần như sẽ nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của E-United.
Sự xuất hiện của đại gia Nhật Bản khiến cả cơ quan chức năng, người dân đều kỳ vọng. Nhưng cuối cùng, sau hai năm nghiên cứu, đề xuất hàng loạt chính sách ưu đãi đầu tư, xin thêm đất, điều chỉnh quy hoạch cảng chuyên dụng… thậm chí còn tính đến phương án nâng vốn đầu tư của dự án lên 7,5 tỷ USD, JFE bất ngờ rút lui. E-United lại quay về tiếp quản việc nghiên cứu đầu tư dự án và cuối cùng quyết định xin giảm vốn đầu tư dự án xuống còn 2 tỷ USD.
Đến những đổ vỡ tỷ USD
Guang Lian cho đến nay chưa thể nói là đổ vỡ. Nhưng sự long đong lận đận của dự án này trong gần 10 năm qua khiến dư luận không khỏi nghi ngờ về năng lực tài chính của chủ đầu tư. Và kèm theo đó là dự cảm không lành đối với dự án này, giống như đối với không ít dự án tỷ USD khác.
Hiện Việt Nam có khoảng hơn 30 dự án FDI quy mô tỷ USD đã được cấp chứng nhận đầu tư, nhưng số dự án đã đi vào hoạt động chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ngoài các dự án của Samsung ở Thái Nguyên, Bắc Ninh hoạt động ổn định và mang lại hiệu quả cao, còn có thể nhắc tới các Dự án Hồ Tràm Strip (4 tỷ USD ở Bà Rịa – Vũng Tàu), Thép China Steel Sumikin (1 tỷ USD ở Bà Rịa – Vũng Tàu), hay Intel (1 tỷ USD, TP.HCM), LG (1,5 tỷ USD, Hải Phòng), Nhiệt điện Mông Dương 2 (1,95 tỷ USD, Quảng Ninh) đã đi vào hoạt động.
Bên cạnh đó, còn có Lọc hóa dầu Nghi Sơn (9,9 tỷ USD, Thanh Hóa), Liên hợp Thép Formosa (9 tỷ USD, Hà Tĩnh), Lọc hóa dầu Vũng Rô (3,2 tỷ USD, Phú Yên)… đang trong quá trình xây dựng. Trong khi đó, nếu kể các dự án đã bị thu hồi hay đang trong diện bị cảnh báo thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư thì danh sách này rất dài. Đó là Liên hợp Thép Cà Ná (Ninh Thuận), 9,8 tỷ USD; Bãi biển Rồng (Quảng Nam), 4 tỷ USD; Thành phố Sáng tạo Nam Phú Yên (Phú Yên), 1,68 tỷ USD; Công viên Thế giới kỳ diệu (Bà Rịa – Vũng Tàu), 1,3 tỷ USD… đã bị thu hồi.
Chưa kể, hàng loạt dự án vẫn đang “giậm chân tại chỗ”, như Nam Hội An (Quảng Nam), 4 tỷ USD; Thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya (Đồng Nai), 2 tỷ USD; Thép Kobelco (Nghệ An), 1 tỷ USD; Saigon Atlantis Hotel (Bà Rịa – Vũng Tàu), 4,1 tỷ USD; Starbay (Phú Quốc, Kiên Giang), 1,6 tỷ USD; Nhiệt điện Hải Dương (Hải Dương), 2,25 tỷ USD; Bus Centre (Bình Định), 1 tỷ USD… Những dự án này đều đã nhiều lần bị chính quyền địa phương cảnh báo thu hồi giấy chứng nhận đầu tư. Bên cạnh đó, Dự án New City (Phú Yên), vốn đầu tư 4 tỷ USD, cuối cùng năm ngoái cũng đã phải xin điều chỉnh xuống chỉ còn 1 tỷ USD.
Rõ ràng, số dự án tỷ USD bị đổ bể hoặc chậm triển khai đang lớn hơn nhiều so với những dự án đã và đang triển khai, để lại không ít nhức nhối, xót xa.
Và bài học quản lý
Cho tới nay, năm 2008 vẫn là năm kỷ lục trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam, với hơn 72 tỷ USD. Đó cũng là năm nhiều dự án tỷ USD được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhất. Nhưng nhìn lại thì nhiều trong số này đã bị thu hồi hoặc chậm triển khai, khiến dư luận bức bối.
Nhiều dự án quy mô nhỏ nhưng khi bị thu hồi cũng tốn nhiều thời gian để xử lý hậu quả
Bức bối là phải khi đất đai bị hoang hóa kéo dài, lãng phí tài nguyên quốc gia. Bức bối khi các cơ quan quản lý dường như vẫn đang giơ cao đánh khẽ, bởi chuyện “gia hạn” thu hồi dự án không có gì lạ. Nhiều dự án, như Starbay, Saigon Atlantis, Thành phố mới Nhơn Trạch… đã năm lần bảy lượt bị địa phương “dọa” thu hồi giấy phép và cũng đủ điều kiện để thu hồi nhưng rồi cuối cùng vẫn để đó.
Thấy vậy, dư luận bức xúc là đúng. Nhưng bên trong, cơ quan quản lý cũng có những cái khó của mình. Nhiều dự án quy mô dù nhỏ, nhưng khi bị thu hồi cũng tốn nhiều thời gian để xử lý hậu quả. Ví như dự án Guang Lian, nếu thu hồi, thì hơn 330 ha đất đã giao, hơn 73 triệu USD nhà đầu tư đã đầu tư phải xử lý ra sao? Đó là câu chuyện không đơn giản. Nếu lại có đến hàng chục dự án như thế thì càng thêm khó khăn…
“Nhiều khi cũng phải thông cảm với các chủ đầu tư, họ cũng rất quyết tâm làm, nhưng vì khủng hoảng kinh tế vừa qua mà chưa thu xếp được tài chính”, một vị lãnh đạo địa phương nói. Điều này là đúng! Nhưng GS-TSKH. Nguyễn Mại, vị chuyên gia kỳ cựu về FDI cũng đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng, với những dự án chậm triển khai cần phải nhanh chóng thu hồi để dành cơ hội cho nhà đầu tư khác. Với những dự án đã xác định là không thể triển khai nên được thu hồi sớm, dành đất cho các dự án khác. Và quan trọng hơn, cần thẩm định kỹ ngay từ khi nhà đầu tư đến để đề xuất đầu tư, tránh tình trạng nhà đầu tư chỉ “xí phần” rồi để đấy nhằm mua bán lòng vòng dự án để kiếm lời.
Điểm mặt những dự án ‘đầu voi đuôi chuột’ ở Thủ đô
VTC – 21 Oct 2014
Hàng loạt các siêu dự án được giới thiệu hoành tráng với số vốn đầu tư lên tới hàng trăm triệu USD, nhưng đến nay vẫn “bất động”, cỏ mọc um tùm.
Dự án Booyoung Vina
Siêu Dự án Booyoung Vina (Nguyễn Trãi, Hà Nội) “đắp chiếu” nhiều năm qua được coi là trái đắng của thời kỳ huy động vốn kiểu “mỡ nó rán nó”.
Được bàn giao mặt bằng sạch từ năm 2007, nhưng đến nay, dự án Booyoung Vina tại khu đô thị Mỗ Lao vẫn chỉ là bãi đất, tường rào sắt xây quanh. Dự án có tổng mức đầu tư 171 triệu USD và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng trong năm 2010.
Thế nhưng, gần 7 năm trôi qua, dự án Booyoung Vina do Công ty TNHH Booyoung Việt Nam – Hàn Quốc làm chủ đầu tư vẫn nằm im lìm, trở thành một bãi đất hoang rộng lớn.
Tọa lạc tại mặt tiền đường Nguyễn Trãi (Hà Đông, Hà Nội) và nằm ngay bên trái đường vào Khu đô thị Mỗ Lao, khu đất của dự án Booyoung Vina được đánh giá là mảnh “đất vàng” cho phát triển bất động sản. Nhưng hơn 7 năm trôi qua kể từ khi được cấp đất sạch, khu đất này vẫn nằm im lìm.
Sau lễ “tái khởi công” rầm rộ hồi tháng 7/2011, dự án lại tiếp tục trở về điểm xuất phát. Vài chiếc cần cẩu ngày khởi công đã rời khỏi hiện trường, để lại bãi đất trống ngổn ngang. Những khu đất còn lại được quây tôn cho thuê làm điểm đỗ xe hoặc dùng để tập kết vật liệu xây dựng.
Nói là “tái khởi công” bởi tháng 2/2007, Công ty TNHH Booyoung đã tổ chức một lễ khởi công xây dựng Khu chung cư quốc tế Booyoung hoành tráng, rầm rộ.
Tại buổi lễ, chủ đầu tư dự án đã vẽ ra một tương lai rất hoành tráng: Khu chung cư quốc tế Booyoung dự kiến gồm các chung cư cao tầng hiện đại, với 553.683 m2 diện tích sàn xây dựng trên tổng diện tích đất 43.127 m2 tại Khu đô thị mới Mỗ Lao, Hà Đông. Khu chung cư sẽ có 6 toà nhà cao 30 tầng và 3 tầng hầm.
Sau đó, Công ty TNHH Booyoung đã có văn bản đề nghị xin điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư, với nội dung xin chuyển quyền đầu tư dự án sang cho nhà đầu tư mới là Booyoung Housing Co., Ltd (Hàn Quốc) – công ty con trực thuộc Công ty TNHH Booyoung (Hàn Quốc).
Đầu tháng 7/2011, Bộ Xây dựng đã có công văn phúc đáp Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội góp ý cho hồ sơ đăng ký điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư của Công ty TNHH một thành viên Booyoung Việt Nam.
Theo Bộ Xây dựng, để có cơ sở xem xét, nhà đầu tư cần bổ sung biên bản thỏa thuận về việc chuyển quyền đầu tư dự án Khu chung cư quốc tế Booyoung, trong đó quy định rõ: nhà đầu tư mới phải kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến Công ty TNHH Booyoung (Hàn Quốc); tuân thủ các điều khoản quy định tại giấy chứng nhận đầu tư đã cấp và các quy định của pháp luật khác có liên quan; việc chuyển quyền đầu tư dự án không làm phát sinh lợi nhuận.
Như vậy là, sau khi được điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư và tái khởi công vào ngày 12/7/2011, dự án lại nằm im.
Không chỉ nằm bất động, hồi năm 2010, khi Chính phủ đồng ý cho phép 244 đồ án trên địa bàn Hà Nội được phép tiếp tục triển khai, Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội đã yêu cầu các chủ đầu tư nộp đồ án, hồ sơ để rà soát khớp nối, nhưng dự án Booyoung Vina là một trong 101 đồ án quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng không nộp hồ sơ để rà soát khớp nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Dự án nằm bất động trong suốt một thời gian dài đã khiến các cơ quan chức năng phải có văn bản nhắc nhở.
Tháng 5/2013, UBND Thành phố Hà Nội đã có văn bản nhắc nhở các quận, huyện tăng cường giám sát các dự án bất động sản có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa phương. Trong đó, Khu chung cư quốc tế Booyoung của Công ty TNHH Booyoung Việt Nam đã được điểm mặt chỉ tên như một dự án chậm tiến độ.
Mặc dù dự án chậm tiến độ, nhưng mới đây Công ty TNHH MTV Booyoung Việt Nam – Chủ đầu tư dự án Booyoung Vina (Mỗ Lao, Hà Đông) lại có đơn gửi Bộ Xây dựng xin điều chỉnh cơ cấu căn hộ.
Theo đó, chủ đầu tư xin được điều chỉnh cơ cấu các tòa nhà CT-02, CT-03, CT-04, CT-05, CT-06, CT-07 của dự án.
Căn cứ đơn đề nghị, Bộ Xây dựng thống nhất với đề xuất của chủ đầu tư và đề nghị UBND TP Hà Nội chỉ đạo các cơ quan chức năng của TP, căn cứ vào các quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-BXD hướng dẫn việc điều chỉnh cơ cấu căn hộ các dự án nhà ở thương mại,dự án đầu tư xây dựng khu đô thị và chuyển đổi nhà ở thương mại sang làm nhà ở xã hội hoặc công trình dịch vụ hoàn tất các thủ tục cho chủ đầu tư.
Đại dự án Geleximco
“Đại dự án” Geleximco – Lê Trọng Tấn do Tập đoàn Geleximco làm chủ đầu tư, thuộc địa bàn quận Hà Đông và Hoài Đức.
Khu Đô thị mới Lê Trọng Tấn nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô, diện tích 135 ha, theo quy hoạch bao gồm: nhà đa chức năng, siêu thị, sân golf, trường học, phòng khám đa khoa, khu tổ hợp thể dục, thể thao, nhà ở, biệt thự, chung cư… Với tổng số vốn đầu tư 3.000 tỷ đồng, và được triển khai xây dựng từ năm 2007. Tuy nhiên, đến nay đã 6 năm, dự án chỉ mọc lên một vài dãy nhà xây thô rồi bỏ hoang, cùng với đó là hàng trăm ha đất tại dự án này chưa xây dựng.
Thời “hoàng kim” giá đất nền, nhà xây thô chuyển nhượng trên thị trường có khi lên đến 80 triệu đồng/m2 thì đến nay giảm sâu tới 50% với mức giá dao động từ 22 – 25 triệu đồng/m2. Giá nhà liền kề trên trục đường chính còn 50 – 55 triệu đồng/m2.
Hình hài về một siêu đô thị vẫn chỉ long lanh trên giấy. Trong khi chờ siêu đô thị mọc lên đất hoang còn được người dân tận dụng thả trâu bò.
Khu đô thị Văn Phú
Tọa lạc giữa quận Hà Đông, đầu tư hơn 1900 tỉ đồng xây dựng trên 94,1ha, khu đô thị mới Văn Phú được khởi công từ năm 2007 được kì vọng sẽ là một khu đô thị mới hiện đại, giúp giải quyết vấn đề nhà ở cho hàng ngàn người. Tuy nhiên nhiệt của khu đô thị ngày càng giảm xuống cùng với sự trầm lắng của thị trường bất động sản.
Các khu nhà dù hoàn thành cũng vắng bóng người ở. Thậm chí nhiều khu nhà đã từng rất có giá trị nay để cỏ mọc khắp nơi như một căn nhà hoang. Có khu lộ sự xuống cấp. Nhiều đoạn tường bị nứt, cửa kính vỡ, nền nhà sụt xuống… khu đô thị sang trọng càng vắng vẻ, nguội lạnh.
Có vị trí mặt tiền khá đẹp, nằm ngay cạnh trục đường Lê Văn Lương kéo dài, khu đô thị mới Văn Khê (Hà Đông, Hà Nội) khi mới xây dựng cũng kỳ vọng sẽ trở thành một khu đô thị mới hiện đại với các loại hình nhà ở liền kề, biệt thự và chung cư cao tầng đạt chuẩn đô thị loại 1. Tuy nhiên cho đến nay, khu đô thị đã được đưa vào sử dụng nhiều biệt thự, nhà liền kề tại đây đang bị bỏ hoang rêu mốc, cỏ mọc um tùm vây lấn.
Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây
Một dự án bất động sản hỗn hợp khác nằm giữa ngã tư Trần Phú – Yết Kiêu cũng bị cơ quan chức năng “soi” lần này là dự án Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây.
Dự án được giới đầu tư bất động sản đánh giá là có vị trí đắc địa vào bậc nhất trên địa bàn quận Hà Đông nhưng điều đáng buồn là sau gần 6 năm được chấp thuận đầu tư, đến thời điểm hiện tại, hiện trường dự án vẫn là một bãi đất trống, chưa có hạng mục xây dựng nào được tiến hành.
Theo quy hoạch chi tiết được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) phê duyệt, dự án có quy mô 29 tầng với tổng vốn đầu tư 29,2 triệu USD. Tuy nhiên, sau đó phía chủ đầu tư đã lập hồ sơn đề nghị điều chỉnh quy mô dự án với 2 toà tháp cao 45 tầng và 4 tầng hầm với tổng vốn đầu tư 50 triệu USD cho “xứng tầm” với Thủ đô Hà Nội mở rộng.
Khu vực chiếm đất của dự án Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây nguyên là khu trụ sở của Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ làng nghề Hà Nội và một phần Khu tập thể Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Hà Tây (cũ).
Năm 2009, Công ty TSQ Việt Nam đã cương quyết yêu cầu chính quyền quận Hà Đông tổ chức cưỡng chế, di dời các đơn vị này để lấy mặt bằng xây dựng dự án. Tuy nhiên, sau khi các tổ chức, cá nhân di dời thì toàn bộ khu đất lại bị bỏ hoang từ đó đến nay.
Theo VTC