Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015

Có Cần “Chính Trị” Khi Kinh Doanh Tại Việt Nam???

(Chú thích của GNA: GNA không có ý định đăng bài dưới đây của tác giả Phan Châu Thành. Lý do chính là ông già Alan không muốn nói nhiều quá đến “cái tôi đáng ghét”, nhất là trên GNA, mọi thảo luận thêm về chuyện Alan sẽ được coi như là bơm thổi PR quá đáng. Vả lại, chuyện thất bại của ông già Alan là chuyện nhỏ, từ tiền bạc đến cảm xúc, Alan không có ý thích nào để nhắc lại một trang sách cũ nhạt nhẽo trong chuỗi phi vụ đầu tư của mình. Tuy nhiên, cuối cùng GNA cho đăng bài này vì vài lý do:
- Tôn chỉ của GNA là đa dạng về góc nhìn để mọi BCA có dịp suy ngẫm;
- Nhiều Emails từ BCA yêu cầu đăng hay share bài này;
- Dù không quen biết, anh Phan Châu Thành là một tác giả mà Alan kính trọng vì những phân tích, bình giải về các inner workings (hoạt động hậu trường) của chính trị và kinh tế VN;
- Sau cùng, câu hỏi chính tác giả muốn truyền đạt là: một doanh nhân hay doanh nghiệp VN có thể thành công trong vị thế “phi chính trị” hay “không bè phái quan hệ” trng môi trường kinh doanh của VN hay không? Anh Thành nghĩ là không thể, riêng Alan thì vẫn giữ quan điểm là khả thi, dù rất khó khăn và ban quản lý phải rất khôn khéo.
Xin nhường lại các comments khác cho bạn đọc)
kinh doanh vn
BCA giải mã thất bại của Alan Phan ở Việt Nam
Phan Châu Thành – 4/4/2015
Tại sao tôi quan tâm đến ông già Alan
Hôm nay ghé GNA, đọc bài “Giải mã thất bại của Alan Phan ở Việt Nam” của chính ông già Alan nói chuyện với và ghi lại bởi Johnny Trần Quang, tôi thấy rầu rầu như đọc về thất bại của chính mình. Tôi đã nghĩ về điều này – thất bại của Alan ở Việt Nam – khá nhiều, đã từng công khai dự đoán (trong các khóa đào tạo kinh doanh của tôi) về nó trước khi nó xảy ra, nhưng sao tôi vẫn cứ buồn. Có lẽ như đa số người biết và quí trọng Alan Phan, tôi không hề muốn ông kinh doanh thất bại ở VN, chỉ mong ông thành công – dù tôi biết đó là điều không thể.
Nhiều năm nay, không nhớ từ khi nào, thường xuyên ghé thăm GNA vì tôi thấy mình gần gũi với những suy nghĩ của bác Alan Phan, tự coi mình là BCA thầm lặng, có thể vì cùng là những doanh nhân độc lập (với hệ thống và đội ngũ “doanh nhân” cộng sản) và cùng có nhiều cố gắng đào tạo và chia sẻ với các bạn trẻ Việt muốn trở thành doanh nhân (cũng độc lập và khác với cách đào tạo của các tổ chức của doanh nhân VN như VCCI…). Tôi đọc và quan tâm đến ông già Alan có lẽ còn vì nhiều học trò của tôi hay nhắc đến ông, hỏi tôi về những điều ông nói, và nói chúng tôi có phong cách gì đó giống nhau? Thay vì đến kết bạn ngay với Alan Phan để xem mình giống Alan Phan thật không, tôi lại chọn tìm hiểu và quan sát ông từ xa, và càng ngày tôi càng quí mến ông.
Trong các khóa giảng của mình, đôi khi tôi lấy Alan Phan như một hình mẫu doanh nhân đích thực của VN vốn rất hiếm hoi, mà người thứ hai thường thì tôi không tìm ra. Hàng năm VCCI chọn ra 100 “doanh nhân tiêu biểu” để trao các loại giải thưởng như “Sao vàng đất Việt” của họ, thì tôi cũng không thể nhìn ra trong số đó một doanh nhân đích thực, và tôi thường chỉ rõ cho học trò thấy lý do tại sao họ không phải là những doanh nhân – vì đa số họ kinh doanh bằng tiền của dân, không phải của họ, còn số ít kinh doanh bằng tiền của mình thì họ lại không có trái tim trung thực của doanh nhân…
Tóm lại, ông gìa Alan như một ngôi sao lạ “xẹt qua” bầu trời kinh doanh u ám của Việt Nam những năm 2005-2015, để lại cho rất nhiều người như tôi niềm quí mến, nhưng chính ông lại ghi nhận thêm một thất bại kinh đoanh, mất khoảng dăm năm và khoảng gần 2 triệu đôla, và tất nhiên là những cơ hội bị bỏ qua… Nhưng…có phải thế không?
Có thật ông già Alan Phan đã thất bại ở Việt Nam?
Khoảng từ 2006-2007 Alan Phan đã bị thuyết phục về VN làm duplicate công ty IT về phần mềm database cho các nhà đầu tư chứng khoán – như Sinobull đã khá thành công của ông ở Trung Quốc, ở VN sẽ là Vinabull. Doanh nhân Việt nào lại không muốn thành công ở VN, nhất là những người đã phải bỏ nước ra đi và thành công ở xứ người (Mỹ, Trung quốc…) như Alan Phan hay nhiều NVHN khác. Tôi đã từng quen biết nhiều Việt kiều như vậy, họ về VN khinh doanh với một tấm lòng hoài quốc nhiều hơn “hoài đô”, tức thường không nhất thiết vì kiếm tiền, mà chỉ vì được làm gì đó và làm được gì đó trên đất Việt – mà kinh doanh gì đó là điều họ biết… Có lẽ chính vì thể, đại đã số họ đều thất bại – ít nhất là đa số những người tôi biết. Và họ vẫn luôn ngẩng cao đầu kiểu như Nguyễn Thái Học: “không thành công thì cũng thành nhân!” Từ 1986 đến nay tôi quen và làm việc cùng với khá nhiều doanh nhân “Nguyễn Thái Học”- NVHN – từ Mỹ, Canada, Châu Âu…như thế.
Với Alan Phan, từ cuối 2008 thị trường chúng khoáng VN rơi xuống đáy, và Vinabull không gượng dậy được khi chưa kịp lên đến đỉnh cao nào, cho đến khi ông chấp nhận thất bại và rút về Mỹ.
Chính Alan Phan đã trả lời các câu hỏi của Johnny Trần Quang và sau đó đăng bài về thất bại của mình ở Việt Nam, trong đó ông rất khảng khái và quân tử nhận hầu thết trách nhiệm về mình – là “do thiếu sót của ban quản trị (mà ông đã chọn) và nhà đầu tư (là ông)”.
Nhưng sao tôi lại không thể đồng ý với ông về điều đó – thế tôi có “vô duyên” không? Làm sao tôi hiểu Vinabull hơn ông?! Thậm chí, tôi không đồng ý với Alan Phan về hai điểm quan trọng liên quan đến thất bại của ông ở Việt Nam. Và đó là lý do tôi viết bài này, không biết ông có cho post lên GNA không? (Đã một vài lần ông có đăng lại bài của tôi – PCT, trong mục BCA rồi đấy nhé…). Lần này tôi sẽ gửi thảng cho GNA, với tư cách BCA (tự nhận).
Thứ nhất, ông Alan tin rằng người Việt có thể kinh doanh phi chính trị ở VN?! (Là sai)
Tôi thấy lý do chính của thất bại của Alan ở Việt Nam, nếu có thất bại, thì đó không chỉ là do “thiếu sót của Ban quản trị (chưa đủ năng lực) và các nhà đầu tư (thiếu đam mê)” như ông nêu ra, mà trước hết do ông – nhà đầu tư đã đánh giá sai về môi trường đầu tư, và quyết định sai hoàn toàn ngay từ đầu. Đơn giản là ông dễ tin người Việt (CSVN) trong nước quá nên hiểu sai môi trường đầu tư, và đã quyết định đầu tư…sai – mặc dù ông luôn tỏ ra rất cảnh giác và đa nghi về những số liệu tài chính, kinh tế, thống kê của CSVN….
Những năm đó, đọc sách của ông, tìm hiểu cách kinh doanh của ông, tôi đã kết luận được là ông sẽ thất bại ở VN, và sẽ phải về lại Mỹ thôi. Tại sao tôi nói thế? Vì tôi thấy ông chưa thật hiểu những người đang cầm quyền chế độ, tức những kẻ đang điều khiển nền kinh tế VN này. Họ luôn “nói vậy mà không phải vậy”. Còn ông đã luôn cố tách ra và làm ngơ các vấn đề chính trị xã hội ra khỏi kinh doanh – trong từng lời nói, bài viết và có lẽ cả từng hành vi của ông, tưởng rằng như thế thì chính trị sẽ không ảnh hưởng đến việc kinh doanh của ông. Ông đã cố coi tất cả mọi người là bạn bè, trong đó có những nhà cầm quyền cộng sản, tưởng rằng như thế thì họ không phải kẻ thù cho việc kinh doanh của ông… Tôi tin ông làm điều đó với trái tim nhân hậu và ngây thơ, rằng ông chỉ muốn về làm kinh doanh với người Việt và sống (chia sẻ cách kinh doanh) với người Việt trên đất Việt mà thôi, ông sẽ hoàn toàn không làm gì, nói gì chống đối chế độ cả (có thể chỉ phê phán nhẹ nhàng)…
Ông đại diện cho những giá trị và đức tính, cách sống, cách kinh doanh tốt đẹp nhất của một doanh nhân trung thực trong xã hội dân chủ, mà tôi gọi là Content/Nội dung của ông, nhưng ông không để ý (và cố tránh, cố lờ đi) cái Bối cảnh/Context (xã hội do cộng sản VN cai trị bằng lừa dối và bạo lực) mà ông muốn mang Nội dung trên của mình vào ứng dụng. Ông biết rõ là Context và Content đó đối chọi và phủ nhận nhau (hay cụ thể là Context cộng sản phủ nhận Content doanh nhân Alan Phan), nhưng ông “giải quyết” bằng cách lờ Context CS đi, cứ vui vẻ “sống chung với lũ” hy vọng lũ sẽ để mình – Content doanh nhân Alan Phan sống…
Nhưng ông đã lầm to. Đọc bài “Hiện tượng Phạm Thanh Bình” và nhiều bài khác của Alan thì thấy rõ ông không hiểu bản chất cộng sản VN chút nào. Có thể ông đã có 10 năm kinh doanh thành công trong môi trường cộng sản Tàu – nhưng ở đó ông là nhà tư bản từ Mỹ trong mắt CS Tàu chứ không phải là doanh nhân người Việt, còn về VN ông là “Việt kiều yêu nước” mà thôi, phải theo nghị quyết 36 của đảng CSVN chả hạn. Đối với CSVN, yêu nước cũng phải được họ cho phép và đúng cách, nhất là không ai được quyền yêu nước hơn cộng sản (mà khác tức là hơn rồi đấy)…, ví dụ vậy, nói gì đến kinh doanh.
Môi trường kinh doanh (của CSVN) ở VN hôm nay không chấp nhận những doanh nhân và cách kinh doanh chân chính như Alan Phan. Nếu Alan Phan muốn kinh doanh thành công ở VN, Alan Phan phải trở thành những “ranh nhân” như các nhà tư bản đỏ và lũ sân sau rửa tiền cho chúng – điều rõ ràng ông Alan vừa không thể làm, vừa không thể chấp nhận. Khả năng ông Alan thay đổi bối cảnh thì không cố – từ đầu ông đã chủ động chỉ cố chiều theo bối cảnh CS thôi. Thế nên ông thất bại là bình thường, và chắc chắn.
Bởi vì, Context luôn mạnh hơn Content, Bối cảnh luôn chiến thắng Nội dung. Nếu Context và Content không đồng nhất thì phải thay đổi Context trước đã, rồi mới đưa Content (tương ứng) vào đó.
(Bản thân tôi đã từng dành hàng hơn chục năm cố gắng mọi cách để “kinh doanh phi chính trị” như ông Alan, và thất bại, nên tôi mạnh dạn chia sẻ điều này).
Thứ hai, ông Alan Phan đã không hề thất bại ở Việt Nam
Vâng, đối với tôi, và rất nhiều người khác, ông Alan Phan đã không hề thất bại ở Việt Nam. Ngược lại, ông đã thành công, và thành công rất lớn, chưa một NVHN nào về nước kinh doanh và thành công như Alan Phan! Rồi người Việt sẽ còn vinh danh và cảm ơn Alan Phan rất nhiều – mà tôi, PCT, không phải người đầu tiên và càng không phải người cuối cùng tin như thế.
Dường như, sứ mệnh của ông Alan Phan sau mấy chục năm đã kinh doanh thành công ở xứ người, là về VN để giúp các doanh nhân trẻ học hỏi và tạo một hình ảnh doanh nhân Việt đích thực cho người Việt trong bối cảnh kinh tế định hướng XHCN của VN, thông qua các hoạt động phi kinh doanh của ông. Ông đã có rất nhiều cuộc hội thảo, buổi nói chuyện, gặp mắt hàng vạn danh nhân và các daonh nhân tương lai, đã viết hơn chục cuốn sách chỉ xoay quanh các vấn đề VN và kinh doanh là chính rất ám ảnh người Việt, và nhất là ông bỏ công sức thời gian cho trang blog nổi tiếng và rất giá trị nhiều mặt (kinh tế, xã hội, đào tạo,, van hoa…) là Góc Nhìn Alan… Tức là Alan đã một mình định hướng lại cả môi trường kinh doanh của CSVN hôm nay vậy. Đó là đóng góp cục kỳ to lớn của Alan Phan (so far) cho nền kinh tế VN hôm nay mà tôi và rất nhiều người Việt, các bạn trẻ Việt, rất trân trọng và đề cao, và cảm ơn thầm lặng nữa (vì dụ: tôi muốn lắm nhưng không làm được thế).
Giống như loài ong đi lấy mật hoa về nuôi mình nhưng chúng không hề biết sứ mệnh lớn lao của chúng đối với sựu sồng trên Trái đất là thụ phấn cho hoa giúp muôn loài thực vật kết quả đơm trái, sinh sôi phát triển và bảo tồn giống loài, rồi từ thực vật là nguồn thức ăn đầu tiên trong chuỗi thức ăn của muôn loài động vật mà sự sống sinh sôi… Mật hay phấn hoa của Alan Phan là công việc kinh doanh ở VN như công ty Vinabull, nhưng sứ mệnh của Alan Phan lại là góp phần gây dựng nên văn hóa kinh doanh và lớp doanh nhân VN mới phi cộng sản, hậu cộng sản… Chí có thế hệ doanh nhân đó mới có thể làm VN hóa rồng (sau thời cộng sản) mà thôi.
Sứ mệnh đó là tuân theo Law of Recession Effects – Định Luật Hiệu ứng Động. Định luật Hiệu ứng động phát biểu rằng, một vật trong chuyển động thì tác động lên vật khác cũng trong chuyển động theo hướng vuông góc với hướng chuyển động ban đầu.
Khi con ong đập cánh bay từ bông hoa này đến bông hoa khác để lấy mật, những cái vỗ cánh ấy đã thổi những hạt phấn hoa đã tách ra và rung rinh bay đi (theo hướng vuông góc với hướng bay của ong) vào nhụy hoa và làm hoa được thụ phấn… Khi Trái đất trong chuyển động của nó trong Vũ trụ chịu lực hút theo trọng lực của Mặt trời cũng đang trong chuyển động, thì tạo thành chuyển động xoay vòng quanh mặt trời (vuông góc với hướng của lực hút trọng trường và lực ly tâm)… Với các doanh nhân như Alan Phan, với mỗi người chúng ta nói chung, thì chuyển động đầu tiên là Nghề nghiệp hay sự nghiệp và chuyển động Recession “vuông góc” là Sứ mệnh, là Nghiệp, là Hiệu ứng Động Vĩnh cửu… Nghiệp của Alan là những việc “phụ” mà Alan Phan làm thêm khi kinh doanh ở VN như dạy học, nói chuyện, viết sách, chia sẻ, và sống như một doanh nhân (không tha hóa đỏ mình đi)…
Nghề nghiệp hay sự nghiệp thì kết thức theo đời người, nhưng Nghiệp hay Sứ mệnh thì tự động truyền tiếp vào những vòng sau, đến vĩnh cửu… Sứ mệnh của con người luôn luôn được tự động truyền cho các thế hệ sau.
Lần nữa: Tại sao tôi viết bài này?
Là vì các bạn thấy đấy, tôi không đồng ý với Alan Phan về đánh giá nguyên nhân thất bại (kinh doanh) của ông ở Việt Nam.
Nếu điều đó chỉ ảnh hưởng đến ông Alan, tức chả ảnh hưởng gì mấy, thì tôi sẽ không lên tiếng làm gì – vì ông Alan Phan đã rút ra bài học (để rút kinh nghiệm hoặc để tránh) rồi, đã bỏ qua và nghĩ đến chuyện khác, chuyện tiếp rồi. Doanh nhân là thế mà.
Nhưng với ông Alan Phan thì không thể đơn giản thế được, bởi vì cái Sứ mệnh mà ông không tự mang vào mà có như tôi nói ở trên, đánh giá của Alan Phan về “thất bại” của ông ở VN có thể gây ngộ nhận cho hàng ngàn bạn trẻ (như chính Johnny Quang) muốn nói gương Alan, rằng nếu họ làm theo Alan nhưng với Ban quản trị tránh được những thiếu sót của Vinabull (điều họ tin sẽ làm được) và nhà đầu tư sẽ đeo bám và đam mê hơn Alan (điều họ chắc chắn sẽ làm được), thì họ chắc chắn sẽ thành công ở VN? Rất tiếc rằng: Không! Đó là ngộ nhận chết người, ngộ nhận Yên Bái của các doanh nhân!
Quan điểm của tôi là, những ai muốn làm doanh nhân chân chính thôi, tức chỉ kinh doanh và không hề muốn thay đổi chính trị như Alan đã cố gắng làm, sẽ không thể thành công một cách chân chính ở VN được, vì bối cảnh chính trị không cho phép Alan và họ làm thế. Nếu họ “thành công”, họ đã bán linh hồn cho quỉ dữ, không còn là doanh nhân đích thực với nghĩa đúng và cao đẹp của từ Doanh nhân nữa.
Tại sao ư? Bởi nếu những NVHN như Alan Phan thành công, người Việt trong nước sẽ thấy rõ ngay những hình ảnh tương phản đối lập giữa họ với các “doanh nhân đỏ” đang “thành công” bằng tham nhũng và cướp phá đất nước – vậy ai là thành công đây? Đích thực phải là các doanh nhân đang “chủ đạo và định hướng” nền kinh tế chứ! Thế cho nên, mọi cách làm khác phải sai hoặc không được tồn tại trong bối cảnh kinh tế VN – có nhờ cả sự vô tình tiếp tay của cả xã hội đã bị băng hoại mọi mặt này nữa (là các đối tác, bạn hàng, khách hàng, nhân viên, các cơ quan quản lý… của chính những Vinabull), thế thôi. Như là công đân VN không được phép yêu nước hơn và khác các đảng viên CSVN vậy.
Có nghĩa là, dù doanh nhân Alan Phan không quan tấm đến chính trị (bề ngoài thôi) thì chính trị (dân chủ) vẫn định hình doanh nhân Alan Phan rồi. Và doanh nhân Alan Phan định hình lại bối cảnh, theo cách khác, theo Định luật Hiệu ứng Động hay Hiệu ứng Vĩnh cửu, tức là qua thực hiện Sứ mệnh hay cái Nghiệp doanh nhân của Alan Phan…
Với mọi doanh nhân đều thế, nên không thể nói doanh nhân nên tránh xa chính trị được đâu, bác Alan Phan ạ! Đó là chưa nói, doanh nhân tránh xa chính trị chỉ như đà điểu rúc đầu vào cát bỏng thôi – trong hoàn cảnh VN hiện nay thì đó vừa là tự sát vừa là trốn chạy Sứ mệnh của doanh nhân Việt với đất nước, với dân tộc Việt.
—
Phan Châu Thành

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Tháng Tư mãi là nỗi buồn!

Tháng Tư mãi là nỗi buồn!
Cao Huy Huân – VOA – 8 April 2015
Bước sang tháng Tư, không khí của những ngày định mệnh lịch sử bắt đầu rộ khắp các tuyến đường, con phố, bờ sông. Năm nay đặc biệt hơn vì đây là cột mốc lần thứ 40. Bởi lẽ, những cột mốc ý nghĩa luôn nhắc người ta nhìn lại quảng đường chúng ta đã đi suốt mấy chục năm ròng.
Sài Gòn những năm 1975, vốn mệnh danh là “hòn ngọc Viễn đông”, từng là giấc mơ của Lý Quang Diệu những ngày đầu thành lập Singapore. Bốn mươi năm sau, các khẩu hiệu treo đầy đường phố nêu cao thông điệp về một Sài Gòn đầy thành tích. Kẻ đứng trên những con số tăng trưởng kinh tế “đầy tranh cãi” sau 40 năm cười “ngặt nghẽo”. Tôi chưa bao giờ phủ nhận một Sài Gòn mở rộng sau 40 năm – nay trở thành trung tâm kinh tế của cả nước, thu hút đầu tư mạnh từ trong và ngoài nước với chỉ số đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), hay các dự án viện trợ chính thức (ODA) khiến nhiều nước khác phải ganh tỵ. Tốc độ phát triển chóng mặt của những con số phát triển GDP Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung luôn khiến giới quan sát, ngay như các vị lãnh đạo cấp bộ trưởng, cũng phải giật mình. Nhưng xin thưa! nếu “gói ghém” thành tích của Sài Gòn, có lẽ cũng chỉ dừng ở chữ “tiềm năng”. Trong khi hàng tá vấn đề cho đến nay, Sài Gòn vẫn loay hoay, bế tắc, và sẽ còn tiếp tục loay hoay, bế tắc, nếu chính quyền vẫn cứ hoạt động một cách luộm thuộm như nhiều năm qua họ vẫn làm.
Trước hết hãy bàn về kết cấu hạ tầng, đô thị – điều khiến mấy chục triệu dân cứ mãi phàn nàn, rồi lại phàn nàn một cách vô vọng. Bốn mươi năm các vị mở rộng Sài Gòn cả về chiều rộng địa lý lẫn về chiều sâu kinh tế – xã hội. Các áp lực dân số, chênh lệch giàu nghèo, môi trường, tệ nạn xã hội, sức ép hạ tầng cơ sở, văn hóa đô thị… là không thể tránh khỏi. Để rồi người dân Sài Gòn – vốn đã “già trước khi giàu” – nay phải quẩn quanh bên một “thành phố ao làng” với hàng loạt các hệ lụy nhức nhối: ngập nước ngày càng nặng; ô nhiễm (khói, bụi, tiếng ồn, nguồn nước) ngày càng trầm trọng hơn; văn hóa tiểu nông, lúa nước lũ lượt kéo nhau vào Sài Gòn, trong khi cái mà các vị lãnh đạo gọi là “văn minh thành phố” lại chính là việc bê-tông hóa các tuyến đường vốn được cây xanh bao phủ, là hầm vượt sông tốn kém nghìn tỷ đồng vốn có thể được thay thế bằng nhiều cây cầu khang trang hơn, là các đề xuất dự án “ăn trước – chặn sau” theo kiểu nhóm lợi ích, ví như học sinh tiểu học phải trang bị máy tính bảng khi đến trường. Để rồi bọn trẻ, dù nhiều gia đình khó khăn cũng phải vét tiền của lo cho con “sang nước ngoài tỵ nạn giáo dục”. Nhà ổ chuột cho dân ở, trong khi nhà cao ốc thì chỉ biết để chuột “định cư” do hệ quả bong bóng bất động sản vỡ…
Mỗi thế hệ lãnh đạo Mỹ, EU, Nhật Bản hay Singapore đều để lại dấu ấn bằng những công trình tầm cỡ phục vụ lợi ích của dân. Tổng thống Mỹ Barack Obama với hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân (dù bị phe nhà giàu tranh cãi), Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe với cải cách kinh tế Abenomics vực dậy Nhật Bản, đặc biệt sau thảm họa kép 2011. Hay như Lý Quang Diệu với gần 50 năm xây dựng một đảo quốc Singapore bị Malaysia “bỏ rơi” trở thành con rồng châu Á. Trong khi Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung, các vị nhận không biết bao nhiêu vốn ODA đổ vào đầu tư hạ tầng, ưu tiên phát triển cơ sở vật chất phục vụ đời sống hiện đại hóa, để rồi số công trình hạ tầng phục vụ lợi ích cho dân đạt chuẩn quốc tế chỉ nằm trên đầu ngón tay bởi sự đục khoét bằng đủ các kiểu tham nhũng: lót tay, hối lộ, bôi trơn, lại quả. Các nhóm lợi ích thì xem vốn ODA vẫn là thứ tiền phải “giải ngân cho kịp” để “ăn”, trong khi dân phải mang tiếng “xin”, chấp nhận những “cảnh cáo” từ phía đối tác mà mới nhất là Nhật Bản, rằng “còn tham nhũng sẽ cắt tiền ODA”.
Thứ hai, không khỏi xót xa khi nhìn vào các ngành công nghiệp mũi nhọn và các ngành công nghiệp ưu tiên. Trong tầm nhìn chiến lược phát triển công nghiệp từ nay đến năm 2020, Sài Gòn đã xác định ba ngành mũi nhọn của công nghiệp bao gồm: i) Cơ khí chế tạo (ô tô, đóng tàu, thiết bị toàn bộ, máy công nghiệp, cơ điện tử); ii) Thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin; iii) Sản phẩm từ công nghệ mới (năng lượng mới, năng lượng tái tạo, công nghiệp phần mềm, nội dung số).
Phải khẳng định đây đúng là “ba mũi nhọn” quan trọng, không chỉ Việt Nam, mà nhiều quốc gia khác như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản cũng từng trải qua. Nhưng sau 40 năm giải phóng thì nay là lúc ai cũng hốt hoảng khi chúng ta chỉ còn 5 năm để đạt ba mục tiêu mũi nhọn trên. Nhưng xin thưa, 5 năm là một con số “viển vông và không tưởng” khi hiện tại Sài Gòn đang đứng sau vạch số 0. Nghĩ làm gì đến công nghệ cao siêu khi ngay cả con ốc vít, hay các phụ kiện nhỏ nhất phục vụ ngành công nghiệp lắp ráp, cho đến nay gần như Việt Nam đều phải nhập khẩu. Khái niệm “công nghiệp phụ trợ” – ngành công nghiệp cơ bản của mọi ngành công nghiệp đã được đưa ra thảo luận và đầu tư – ra đời từ hơn chục năm trước ở Việt Nam, nhưng các vị lãnh đạo vẫn để nó dậm chân tại chỗ, mệt mỏi, thoi thóp và rồi chết đứng, nhường chỗ cho hàng hóa tiểu ngạch, chính ngạch của Bắc Kinh.
Xin phép được hỏi các vị “bao nhiêu doanh nghiệp phụ trợ mới có thể làm ra một chiếc xe hơi?” Xin thưa! Trên dưới 200 doanh nghiệp con “trợ sức” từng chi tiết máy mới có một chiếc ô tô mà các vị lãnh đạo ngồi mỗi ngày đến công sở. Cho nên có vị nào dám cam đoan sau 5 năm nữa, khi rào cản thuế quan phải hạ xuống dưới bước chân của gã khổng lồ WTO hay các thể chế mậu dịch tự do tương tự, một chiếc ô tô “lắp ráp in Vietnam” có thể sống trước ô tô ngoại nhập? Báo chí mấy hôm nay đưa tin “ô tô Việt Nam vẫn loay hoay lắp ráp để… chờ chết”, chứ Sài Gòn đừng bàn đến công nghiệp công nghệ cao – chỉ tổ khiến dân chờ, đợi, mỏi mòn và thất vọng.
Trong khi đó, bảy ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển của Sài Gòn là: dệt may, da dày, nhựa, chế biến nông lâm thuỷ sản, khai thác chế biến nhôm, thép, hoá chất cũng đã và đang hấp hối. Xưa nay, không ít các vị lãnh đạo vẫn cứ sống trong mớ bong bóng “rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu”, cho rằng Sài Gòn có nhân công giá rẻ, gần các khu tài nguyên. Để rồi khi công nghệ cao ngoại nhập khỏa lấp đi sức lực của đôi bàn tay không chỏng chơ, chai sượn của những người dân nghèo khốn khổ, thì các doanh nghiệp nội địa bắt đầu xếp hàng phá sản, đá bể toàn bộ chén cơm của hàng trăm nghìn người thất nghiệp. Hãy nhìn các doanh nghiệp nội địa ngành dệt may, mía đường, sữa,… liên tục “than trời trách đất” trong những năm qua trước áp lực của các doanh nghiệp ngoại đến từ Lào, Campuchia sẽ thấy chúng ta đang yếu đến cỡ nào.
Cuối cùng, xin hãy thẳng thắn nói về môi trường đầu tư. Chỉ chưa đầy một tháng, Việt Nam nhận liên tiếp ba sự kiện “choáng váng”. Một là, Nhật Bản tuyên bố “cắt viện trợ ODA nếu có thêm bất kỳ một dự án tham nhũng nào tại Việt Nam. Hai là, tập đoàn POSCO (Hàn Quốc) bị điều tra tham nhũng, hối lộ nhà thầu Việt Nam trong các dự án cao tốc giai đoạn 2009-2012. Ba là, Ngân hàng Thế giới (World Bank) tuyên bố cấm hoạt động trong vòng một năm đối với Tập đoàn Louis Berger Group (LBG, Mỹ) vì dính líu đến các hành vi hối lộ trong hai dự án do Ngân hàng Thế giới tài trợ tại Việt Nam. Công ty mẹ của LBG cũng bị hạn chế quyền đấu thầu đối với các dự án của Ngân hàng Thế giới vì không quản lí được các hoạt động “chung chi, hối lộ quan chức” mà LBG đã thực hiện trong hai dự án: Giao thông Nông thôn 3, và Đầu tư Ưu tiên Cơ sợ Hạ tầng Đà Nẵng do Ngân hàng Thế giới tài trợ. Tất nhiên, không ai điểm mặt chỉ tên Sài Gòn, nhưng những vấn nạn tương tự: thủ tục kinh doanh, đầu tư rườm rà, phức tạp mở đường cho các nghi thức “lót tay”, hay “lại quả”. Đó là chưa kể đến các vụ bê bối về tham nhũng, lừa đảo trong hệ thống ngân hàng; hối lộ trong hệ thống cảnh sát giao thông… Tất cả làm giảm đáng kể tính hấp dẫn của môi trường đầu tư Sài Gòn.
Một Sài Gòn mà hàng triệu dân mơ ước bất kể phải nếm mật nằm gai trong suốt 40 năm qua phải theo đuổi tám mục tiêu: i) Hệ thống cung cấp nước và vệ sinh môi trường (Water supply and sanitation); ii) Giao thông vận tải (Traffic and transport); iii) Năng lượng (Energy); iv) Chức năng đô thị (Urban functions); v) Kiến trúc (Architecture); vi) Quản lý chất thải (Waste Management); vii) Quy hoạch cảnh quan (Landscape Planning); viii) Hợp tác giữa khối nhà nước và khối tư nhân (Public and private stakeholders).
Nhưng rồi trước mắt họ, con đường từ nhà đến nơi làm việc đang đối diện quá nhiều rủi ro từ hệ lụy tích tụ suốt 40 năm: Đó là một con đường đầy khói bụi, lô cốt dựng khắp nơi, dây điện chằng chịt, nước ngập úng với lượng rác thải khổng lồ. Thỉnh thoảng lại gặp vài ba anh cảnh sát giao thông “nghiêm khắc” rất thích bắt lỗi đèn xi-nhan, lấn tuyến dù con đường nhỏ hẹp và biển báo đánh đố người dân – những kẻ ngoài việc đóng thuế nuôi quan chức phải tự nguyện trả thêm ít tiền “lót tay” nếu không muốn bị “vạch ví” giữa đường. Và cũng trên con đường ấy, những chiếc xe hơi sang trọng, vẫn âm thầm và lạnh lùng lướt qua những mảnh đời cơ cực phải lam lũ đội nắng trên đầu, lội mưa tới bụng và trong hai hốc mắt sâu hoắm vẫn mong chờ bữa ăn chiều có đủ cháo, rau.
Vậy đấy, chẳng biết sau những ngày tiệc tùng mừng 40 năm chiến thắng, có vị quan chức nào giật mình thốt lên “đã 40 năm rồi cơ đấy” khi thấy tại quảng trường độc lập vẫn còn không ít kẻ lang thang nhặt lấy từng chiếc lọ, cái lon để bán kiếm tiền mà quên mất “ngày độc lập phải vui lên”.
Cao Huy Huân

Người Việt Thích Nổ

Người Việt Thích Nổ
Nguyễn Hưng Quốc – VOA – 14April.2015
Năm 2011, nhân các thảm họa xảy ra tại Nhật, giới cầm bút hay nói đến văn hóa ứng xử của người Nhật, từ đó, ít nhiều liên hệ đến người Việt.
So sánh người Việt và người Nhật, chắc chắn chúng ta thua nhiều thứ. Nhưng có một điều chúng ta nhất định không thua: tật nổ.
Tôi không nói đến từng cá nhân. Từ góc độ cá nhân, ở đâu chúng ta cũng có thể bắt gặp những kẻ khoác lác. Người Việt Nam chưa chắc đã hơn. Thậm chí còn thua nữa là khác. Ở đây, tôi muốn nói đến người Việt với tư cách một tập thể.
Sống ở Úc khá lâu, tôi chỉ nghe người Úc, từ giới chính trị gia đến giới trí thức hay giới bình dân, hay nói Úc là một quốc gia may mắn (lucky country), nhưng thường thì người ta nhấn mạnh thêm: May mắn, chưa đủ; Úc cần phải trở thành một quốc gia giàu kỹ năng (clever country), hoặc, hơn nữa, một quốc gia giàu sáng kiến (smart country). Đất rộng và nhiều tài nguyên thiên nhiên, chưa đủ; người Úc cần có chiến lược thật sáng suốt để khai thác và tận dụng những của cải Trời cho ấy.
Ở Việt Nam thì ngược lại. Ở đâu chúng ta cũng nghe những tiếng nổ um trời. Trên báo chí. Trên tivi. Trên các đài phát thanh. Về địa thế thì Việt Nam nằm ở điểm giao lưu của hai nền văn hóa cổ kính và lớn nhất châu Á: Trung Hoa và Ấn Độ. Về thiên nhiên thì “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Về lịch sử thì đánh thắng hết đế quốc này đến đế quốc khác. Về đảng và lãnh tụ thì là “đỉnh cao trí tuệ của nhân loại”. Còn về con người thì toàn là anh hùng, ra ngõ là gặp ngay anh hùng, khiến cả thế giới đều ngưỡng mộ; ngưỡng mộ đến độ nhiều người ngoại quốc cứ mơ ước có một phép lạ nào đó biến mình thành… người Việt Nam.
Nhiều người đã phê bình cái tính thích nổ ấy. Sớm, thẳng thắn và cay đắng nhất là Nguyễn Duy trong bài thơ “Nhìn từ xa… Tổ quốc” sáng tác năm 1988, trong đó có mấy câu:
xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày?
[…]
Xứ sở thông minh
sao thật lắm trẻ con thất học
lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương
[…]
Xứ sở thật thà
sao thật lắm thứ điếm
điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…
Tuy nhiên, ở đây, tôi sẽ không bàn đến khoảng cách giữa những điều người ta tuyên truyền và thực tế. Tôi chỉ muốn tập trung vào một sự nghịch lý khác: trong sự khoác lác của người Việt, đặc biệt của bộ máy tuyên truyền, có cái gì như thiếu tự tin, nếu không muốn nói thẳng ra là tự ti. Mà thật ra, về phương diện tâm lý, sự khoác lác thường xuất phát từ sự tự ti hơn là tự hào thực sự. Và vì tự ti cho nên khi khoác lác, người ta hay cầu cạnh đến một số thế lực khác, chủ yếu là từ người ngoại quốc.
Chuyện báo chí Việt Nam đánh bóng tên tuổi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cách đây mấy năm là một ví dụ điển hình (1). Người Việt khen nhau, người ta thấy chưa đủ. Người ta cần một người ngoại quốc. Nếu không có người ngoại quốc có thẩm quyền thì người ta bắt đại một ông chuyên về rác và các loại chất phế thải. Nếu không có thật thì người ta bịa. Tiêu biểu nhất là vụ Vũ Hạnh bịa ra cái tên A. Pazzi, một người Ý, khi in cuốn Người Việt cao quý ở Sài Gòn vào năm 1972. Sau này, Vũ Hạnh tiết lộ là động cơ chính thúc đẩy ông viết cuốn sách ấy là để kích động lòng tự hào dân tộc, từ đó, gián tiếp tiếp sức cho phong trào phản chiến và chống Mỹ do cộng sản chủ trương lúc ấy. Nhưng để kích động lòng tự hào dân tộc mà lại phải mượn một cái tên ngoại quốc, kể cũng mỉa mai quá, phải không?
Những chuyện mượn danh và uy tín của người ngoại quốc để tự khen mình hoặc để chứng minh điều gì đó là đúng nhan nhản trên sách báo và ở các hội trường tại Việt Nam. Trong viết lách, nhiều người cho việc trích dẫn một tác giả Việt Nam khác là xoàng. Trích dẫn, phải trích dẫn một tác giả ngoại quốc mới là sang. Không đọc được ngoại ngữ thì trích dẫn qua trung gian của một tác giả Việt Nam khác nhưng lại giấu nhẹm tên tuổi tác giả Việt Nam ấy đi!
Chán.

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975 (Bài 2)

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975
Bài 2: ‘Con bà phước, cái bang’ Galang
Sông Tiền – Người Việt- 9 April 2015
Tôi đặt chân đến trại tỵ nạn Galang vào trưa ngày 1 Tháng Sáu năm 1990 sau đúng 2 tháng rời Việt Nam.
Ðoàn tàu chúng tôi đến trại với 655 thuyền nhân trên hai chuyến tàu định mệnh được nhập chung từ nhiều chiếc ghe vượt biển khác nhau đã đến được đất liền Mã Lai nhưng bị hải quân nước này gom lại và xua đuổi sang Nam Dương.
Hồi tưởng lại chuyến hải trình gian khổ và những ngày tháng bất ổn trong quá trình thanh lọc ở trại tỵ nạn mà cảm thấy thật thấm thía cho hai chữ thuyền nhân.
Như bao thuyền nhân khác đến trại tỵ nạn sau ngày đóng cửa đảo định mệnh 17 Tháng Ba năm 1989, tất cả chúng tôi đều phải trải qua một quá trình ‘thanh lọc’ để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của mình.
Chúng tôi đến Galang vào thời điểm thuyền nhân trôi tấp vào Mã Lai Á bị dồn đẩy sang Nam Dương ồ ạt nên số lượng thuyền nhân trên đảo từ năm 1989 không quá 3,000 người đã tăng đột biến lên hơn 14,000 trong vòng chưa đầy một năm. Tình trạng quá tải không có chỗ ở cho người tỵ nạn là một chuyện khá nhức đầu cho các nhân viên Cao Ủy và phòng kỹ thuật.
365 người chúng tôi được đưa thẳng vào Galang 2 và sống lây lất vật vạ tạm thời bên trong hội trường của văn phòng Cao Ủy và dọc theo hành lang của phòng xã hội. Nhìn cảnh những người “say sóng” nằm ngồi dọc theo hành lang các văn phòng của Cao Ủy Tỵ Nạn và toán JVA được các anh chị thiện nguyện viên của phòng xã hội và gia đình Phật Tử Long Hoa cũng như thanh niên Công Giáo trợ giúp nấu và chia nhau những tô mì gói nóng để đỡ đói qua ngày trong thời gian chờ đợi những nhân viên của phòng kỹ thuật dựng lên các barrack bằng plastic trên các nền barrack cũ của Zone F nó ám ảnh và theo tôi mãi trong những giấc mơ cho đến ngày hôm nay.
Galang, quán trọ trước cổng thiên đường đã không thật sự đến với chúng tôi, những thuyền nhân kém may mắn đã chậm chân đến trại sau cái ngày oan khiên mà Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại áp dụng để ngăn chặn làn sóng thuyền nhân bỏ nước ra đi tỵ nạn Cộng Sản ngày càng dâng cao. Sau những ngày dài chờ đợi và mất ngủ chúng tôi được đưa vào sống trong những barrack được lợp bằng plastic mới được dựng lên trong khu Zone F bốn bề gió lộng theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của nó.
Trải tấm chiếu Cao Ủy trên nền xi măng lòi lõm của barrack để xí chỗ xong là chúng tôi phải nghĩ đến việc sinh tồn trong những ngày dài sắp tới. Mỗi thuyền nhân được phát một đôi dép Cao Ủy, một cái mền và một chiếc chiếu, một cái tô, một cái chén và một cái ly bằng nhựa, mỗi 5 người được phát một cái lò xô nấu ăn bằng dầu, một cái can 5 lít đựng dầu hôi. Khẩu phần lương thực nghe đâu đã bị cắt giảm nên hàng tuần chúng tôi mỗi người chỉ được phát 3 gói mì, 2.8 kg gạo, 100 gram đậu xanh, 100 gram đậu nành, 100 gram đường và 100 gram đồ tươi có thể là bí rợ hay rau cải. Mỗi đầu tháng chúng tôi được cấp 9 lon cá mòi loại nhỏ, và 4 lít dầu ăn, có tháng Cao Ủy thay thế bằng ba hộp thịt hộp mà chúng tôi gọi là pa tê, khi thì 3 lon cá mòi loại lớn. Ăn cá mòi và tắm nước suối từ trên rừng chảy xuống được chứa trong những cái hộc được đào sẵn ở dưới hạ nguồn nên đã có rất nhiều người bị ghẻ ngứa, chúng tôi đã phải thức dậy thật sớm để sắp hàng lấy số ở bệnh viện Galang 2 chờ được chích thuốc vào mỗi sáng.
Với sức trẻ của tuổi minor vị thành niên, nhóm con “bà phước” không có thân nhân ở nước ngoài không cách gì chúng tôi có thể tồn tại và sống nổi với khẩu phần lương thực hạn hẹp mà Cao Ủy đã cấp phát thông qua nhà cầm quyền Indo, những người bạn của chúng tôi phải gom lại tìm cách mưu sinh để sống còn trong những ngày dài ở trại.
Có một câu chuyện làm cho tôi còn nhớ mãi là trong những ngày còn say sóng khi mới đến đảo. Tôi có theo chân mấy người bạn đi dạo ngoài chợ Galang 2 tình cờ được gặp lại dì Hai Ngọc Châu là bạn rất thân của mẹ tôi đã vượt biên và đến đảo vào năm 1987. Dì dượng và gia đình các anh chị lẽ ra đã đi định cư từ rất lâu nhưng vì dượng Hai bị bệnh phổi khá nặng nên đã bị các phái đoàn từ chối khi phỏng vấn và còn kẹt lại và đang chờ đi Pháp vào Tháng Tám năm 1990.
Mặc dù gia đình của dì lẽ ra phải đi Mỹ vì dượng Hai là cựu quân nhân của QLVNCH. Dì Hai và các anh chị đã rất thương và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong khoảng thời gian này. Thấy chúng tôi tơi tả không có quần áo mặc dì mua vải nhờ chị Một và chị Bưởi là người con dâu và người quen của dì may đồ cho chúng tôi, lâu lâu dì mua thịt heo rừng và đồ ăn ngoài chợ đem vào tiếp tế cho chúng tôi.
Mặc dù đã sắp đi định cư và đã hứa cho người khác cái thùng phi đựng nước cũng như cái tủ đựng đồ, nhưng vì thấy hoàn cảnh quá thê thảm của chúng tôi mà dì Hai đã trả tiền lại cho người ta để xin lại cho chúng tôi có cái thùng phi đựng nước uống và có tủ để đựng đồ. Thật quý vô cùng những tấm lòng vàng.
“Bún, bún đây, ai ăn bún đổi cá, đổi gạo không? Num bờ chốc tê, Num bờ chốc đo ko tê,” những tiếng rao lanh lảnh ở Galang 1 và Xóm Miên ngày nào vẫn còn âm vang và là động lực mạnh mẽ giúp cho tôi vượt qua hết những khó khăn và vấp ngã sau này khi đã được định cư tại Hoa Kỳ.
Tôi đến với cái nghề bán bún và biết làm ra tiền đầu tiên trong đời từ trại tỵ nạn Galang qua chú Trung và anh Hùng cùng tàu của tôi. Cuộc sống ở trại khổ quá mà không có liên lạc được với thân nhân ở nước ngoài để viện trợ cứu đói, chú Trung và anh Hùng con của chú Tư Xị đã đột phá tìm cách làm quen với anh Nhân chủ lò bún ở gần Suối Zone F Galang 2 để xin lãnh bún đem đi bán dạo vòng quanh các barrack ở Galang 2.
Chú Trung thấy hoàn cảnh anh em con bà phước của chúng tôi thê thảm quá nên chú kêu lại hỏi thăm tụi tôi có chịu đi bán bún không rồi chú hỏi xin ông chủ lò bún cho chúng tôi lãnh bún đi bán ngoài Galang 1. Tôi, Ðức và 3 anh em Ðành, Ðạt và Chín nhận lời, thế là mấy anh em chúng tôi hàng ngày vào sáng sớm thay nhau gánh bún từ Galang 2 đem ra Galang 1 bán và đổi cá, gạo kiếm tiền mưu sinh trên đảo.
Là những công tử bột chưa nếm bụi trần gian, trại tỵ nạn Galang đã nhào nặn cho chúng tôi trở nên cứng cáp và trưởng thành hơn. Có những ngày mưa gió mà gánh bún thì còn nặng trĩu trên vai, chúng tôi len lỏi qua khỏi khu vực bệnh viện Galang 1 (lúc này đã được trưng dụng làm chỗ ở cho thuyền nhân) đi hoài mà gánh bún thì vẫn chưa vơi chúng tôi bạo gan tìm ra khu xóm Miên (vào cuối năm 1990 đã có gần 1,500 người Cambodia vượt biển đi tỵ nạn) lần đầu tiên món Num Bờ Chốc xuất hiện ở Làng Miên gánh bún ngày hôm đó được mua hết trong vòng 30. Thừa thắng xông lên sau đó anh em chúng tôi tăng số lượng bún lên gấp đôi, hàng ngày gánh ra bán thêm ngoài xóm Miên.
Chúng tôi học thêm tiếng Miên qua chị Hồng đi chung tàu. Chị Hồng là em vợ của chú Y Giang NiekDam là ‘leader’ tàu của chúng tôi, từ đó việc giao tiếp với bà con người Miên được dễ dàng hơn.
Có một câu chuyện bây giờ nghĩ lại rất là tức cười cho sự khờ khạo của tuổi trẻ chúng tôi, vì không quen ai ở ngoài Galang 1 nên chúng tôi cứ gánh hai thùng bún thật nặng đi thẳng ra xóm Miên bán trước, khi qua khỏi Cổng Chùa Quan Âm Tự đến gần khu vực Suối Miên, phần vì hai gánh bún quá nặng phần mệt nên chúng tôi quyết định chui vào một bụi cây ở gần đó giấu một thùng bún và gánh thùng bún còn lại trực chỉ xóm Miên. Trên đường về lại Galang 1 chúng tôi tấp vào lấy cái thùng bún giấu trong bụi cây, cả hai chúng tôi đã cười thật giòn và thật lâu khi nghĩ đến cảnh trở lại chỗ giấu thùng bún mà kiếm không ra vì cắc cớ có ông nào đi ngang tấp vào tè bậy mà thấy thùng bún và vác luôn về thì anh em chúng tôi chắc sẽ khóc bằng tiếng Miên luôn.
Có những người Miên thật tốt bụng khi thấy anh em chúng tôi bận quần áo tả tơi trong lúc vất vả mưu sinh đã kêu lại cho quần áo lành lặn để bận, buôn bán một thời gian thì chúng tôi bắt đầu có những mối tốt, họ đặt bún của chúng tôi hàng ngày để nấu món Bún Cá bán trong làng Miên. Anh em chúng tôi thay nhau mỗi ngày vào buổi chiều gánh bún đi bỏ mối ngoài làng Miên, khi thì 15 kg khi thì 10 kg tùy theo ngày. Thấy chúng tôi làm ăn được người chủ lò bún sinh lòng tham, anh ta tăng giá bún lên và sắm xe đạp chở bún ra ngoài làng Miên giành mối và bán sỉ với giá rẻ hơn. Bất mãn anh em chúng tôi không tiếp tục đi bán bún nữa. Sau này một số anh em trong nhóm con bà phước đã phải đi đánh bắt cá ngoài biển, bán bánh mì, bán cà rem, đào giếng mướn và một vài đứa thì làm nghề báo thư mà chúng tôi gọi đùa là những tay chuyên Bóp Cổ Thiên Hạ.
Galang là một trường đời đầy thử thách đã rèn luyện và huấn nhục chúng tôi được cứng cáp và trưởng thành hơn, từ cách đối nhân xử thế đầy tình người cho đến nhân tình thế thái bạc bẽo của cuộc đời chúng tôi đều được học từ trại Galang, có những bài học rất đắt giá và có những bài học không phải trả tiền mà chúng tôi may mắn được học qua những kinh nghiệm đau thương của bạn bè và chính cá nhân mình.
Trong những năm tháng đầu tiên ở trại tỵ nạn, chúng tôi lam lũ cực nhọc mưu sinh nhưng tinh thần thì rất vui và không có nhiều lo nghĩ cho đến khi bắt đầu có kết quả thanh lọc vào những đợt đầu tiên cho những đồng bào đến trại vào những ngày đầu tiên kể từ sau ngày đóng cửa đảo, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại vì muốn chặn đứng làn sóng thuyền nhân vượt biển tìm tự do nên đã tạo ra rất nhiều chuyện bất công trong vấn đề xác định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân.
Thảm cảnh chèn ép buộc những cô gái Việt phải hiến thân để đánh đổi tấm vé công nhận là tỵ nạn chính trị xảy ra ngày càng nhiều. Nhà cầm quyền Nam Dương có toàn quyền quyết định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân nên vô tình đã tiếp tay cho những nhân vật đang nắm vai trò sinh sát trên đảo lộng hành mặc sức chà đạp nhân phẩm và tiết hạnh của người phụ nữ Việt Nam trong khoảng thời gian khủng hoảng này.
Ðã có rất nhiều trường hợp cả gia đình phải tốn rất nhiều tiền để hối lộ các giới chức cầm quyền và họ còn bị bắt ép phải hiến dâng con gái dưới tuổi vị thành niên của họ cho những tên phó hay trưởng đảo cũng như những nhân vật coi về phần an ninh và thanh lọc.
Ðã có nhiều trường hợp lường gạt để lấy tiền của thuyền nhân khi hối lộ với chính quyền địa phương dẫn đến giết người để bịt miệng, vụ án ở Suối Chùa Kim Quang mà hai anh Sáu Koler và Nguyễn Văn Viễn là nạn nhân của những tên sát nhân này.
Bất công và đau khổ dày xéo tâm can của những thuyền nhân Galang, sau khi nhận kết quả rớt thanh lọc, anh Diệp Quang Huy đã gặp luật sư người Phi để tư vấn cho vấn đề khiếu nại của mình, bị tên Phi lùn xúc phạm, anh Diệp Quang Huy đã tẩm dầu tự thiêu ngay trước văn phòng Sơ Vấn Galang 2.
Minor Lưu Thị Hồng Hạnh đã đậu thanh lọc nhưng bị rút giấy đậu vì là minor đã phẫn uất tự thiêu ngay trong barrack của mình. Những thảm trạng của thuyền nhân thật là bi thương đã xảy ra rất nhiều vào thời điểm 1991-1996.
Giá trị của hai chữ tự do đã được đánh đổi bằng máu và nước mắt, bằng đói khát của những ngày lênh đênh trên biển, bằng sự tủi nhục của thân xác phụ nữ Việt trên biển và trong đất liền, bằng sự rẻ khinh và xua đuổi của các quốc gia tạm trú, bằng những nấm mồ hoang lạnh trên các trại tỵ nạn của không biết bao nhiêu ngàn thuyền nhân đã bỏ mình nơi rừng sâu, đảo vắng.
Và hơn hết là bằng sự đấu tranh tuyệt thực biểu tình của hơn 4,500 thuyền nhân tại Galang, hơn 2,000 thuyền nhân tuyệt thực ngất xỉu phài vào cấp cứu tại bệnh viện Galang 2, hơn 20 thanh niên đã đâm bụng tự sát không thành. Anh Phạm Văn Châu đã tự thiêu trong buổi sáng biểu tình và được đưa sang Pinang chết mất xác. Anh Lê Xuân Thọ đã tẩm dầu tự thiêu và đâm bụng chết tại chỗ biểu tình được đồng bào quàn và giữ xác trong quan tài tại chỗ biểu tình cho đến ngày cuối cùng sau khi bị cảnh sát đặc nhiệm của Indo trấn áp.
Cuộc biểu tình suốt 179 ngày đêm của thuyền nhân Galang chống cưỡng bức hồi hương và đòi hỏi công bằng cũng như quyền tự do tỵ nạn chính trị của mình là cuộc biểu tình dài nhất và bi thương nhất trong lịch sử của thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam. Là thuyền nhân vượt biển tìm tự do chúng ta không được phép quên chúng ta là ai và tại sao chúng ta đang ở khắp nơi trên thế giới này.
Galang một trời tâm sự…
Loạt Bài Về Saigon SAU 1975
GNA: Loạt bài về Saigon TRƯỚC 1975 đã gây nhiều phản hồi: những người dân Saigon cũ và mới nhìn lại những hình ảnh cũ và nhận ra một “biển dâu” thực sự đã thay đổi cuộc đời của chục triệu người và không gian sống của họ đã chìm khuất hoàn toàn vào một “hành tinh” khác.
Để tìm một góc nhìn khác, GNA sẽ lần lượt cho đăng lại những mẩu chuyện và hình ảnh về Saigon SAU 1975. Lăng kính của Đảng và Nhà Nước thì chúng ta đã quá rõ, GNA không cần đăng lại nơi đây (đã có hơn 700 loa phường khắp xứ lảm nhảm hàng ngày). Chúng tôi sẽ chỉ ghi lại những suy ngẫm, hồi ức và tâm tư của những NGƯỜI DÂN (Saigon cũ hay nhập cư mới) để chúng ta có chút đồng cảm về một giai đoạn lịch sử vô cùng khác biệt của Saigon.
GNA sẽ tránh đề cập về chính trị, lãnh tụ hay lịch sử. Chỉ có những mảnh đời rất DÂN, rất Saigon. (Xin các BCA khó tính tha lỗi cho tính cẩn thận của GNA với những điều cấm kỵ liên quan đến quyền lực).
Tuy nhiên, để các dư luận viên im mồm, chúng tôi xin nhắc lại trước hết quan điểm của chính phủ về ngày đại thắng 30/4:
“Theo kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015) vừa được UBND TP HCM ban hành, thành phố sẽ tổ chức khánh thành các công trình: cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm trước ngày 15/3; tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 30/3……..
Các điểm bắn pháo hoa gồm: khu vực đường hầm sông Sài Gòn (quận 2); Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược (huyện Củ Chi); Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã Ba Giồng (huyện Hóc Môn); Khu di tích Láng Le – Bàu Cò (huyện Bình Chánh); Sân bóng đá huyện Cần Giờ; Công viên lịch sử – Văn hóa Dân tộc (quận 9) và Công viên Văn hóa Đầm Sen (quận 11)……
Trước đó, Thủ tướng đã phê duyệt Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước. Theo đó, các bộ, ngành trung ương sẽ chủ trì lễ mitting tại lễ đài ngã tư Lê Duẩn – Pasteur, Công viên 30/4 (quận 1). Thời gian tổng duyệt vào lúc 7h ngày 26/4 và chính thức diễn ra lúc 7h ngày 30/4, trong lễ mitting sẽ có tiết mục thả bong bóng và chim bồ câu.
Sau đó sẽ là lễ diễu binh, diễu hành với sự tham dự của khối nghi trượng, các khối diễu binh (các khối đi tay không, các khối đi có súng, có khí tài) và các khối diễu hành quần chúng.”

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

Những Dự Án Tỷ Đô “Đầu Voi Đuôi Chuột”

Những đổ vỡ tỷ đô
Hoàng Phương – Diễn đàn doanh nghiệp – 22 Mar 2015
Dự án Thép Guang Lian (Dung Quất) vừa có những động thái mới khiến dư luận có dự cảm không lành…
Một cách vô cùng bất ngờ, sau 5 năm theo đuổi việc xin nâng vốn đầu tư lên 4,5 tỷ USD, chủ đầu tư Dự án Thép Guang Lian (Dung Quất) mới đây đã quyết định xin giảm vốn xuống chỉ còn 2 tỷ USD, đồng thời xin phân kỳ đầu tư thành 4 giai đoạn.
Từ chuyện Thép Guang Lian xin giảm vốn
Quyết định giảm vốn của chủ đầu tư hiện tại của Dự án (Tập đoàn E-United – Đài Loan) xuất phát từ việc cuối năm ngoái Tập đoàn JFE (Nhật Bản) tuyên bố không đeo đuổi dự án này nữa. Vậy là sau hai năm tốn công, phí sức của cả JFE lẫn các cơ quan chức năng địa phương và Trung ương, Dự án Thép Guang Lian vẫn lỡ dở. Thép Guang Lian chính thức được cấp chứng nhận đầu tư từ năm 2006, đầu tiên là cho Tập đoàn Tycoons (Trung Quốc), sau đó có thêm sự tham gia của E-United (Đài Loan), với tỷ lệ góp vốn tương ứng là 10% và 90%. Nhưng sau khi khởi công và thực hiện một số hạng mục như đóng cọc xây dựng, ký túc xá cho người lao động thì đến năm 2010, dự án tạm dừng lại để chờ giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh lên 4,5 tỷ USD.
Trước việc đất dự án bị bỏ hoang nhiều năm, dư luận Quảng Ngãi đã không khỏi bức xúc. Cơ quan quản lý nhà nước cũng sốt ruột. Mọi chuyện phần nào được giải tỏa khi đầu năm 2012, JFE, tập đoàn thép lớn thứ 6 toàn cầu và thứ hai ở Nhật Bản, quyết định ký biên bản ghi nhớ về việc nghiên cứu hợp tác đầu tư dự án. Nếu quyết định tham gia dự án, JFE gần như sẽ nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của E-United.
Sự xuất hiện của đại gia Nhật Bản khiến cả cơ quan chức năng, người dân đều kỳ vọng. Nhưng cuối cùng, sau hai năm nghiên cứu, đề xuất hàng loạt chính sách ưu đãi đầu tư, xin thêm đất, điều chỉnh quy hoạch cảng chuyên dụng… thậm chí còn tính đến phương án nâng vốn đầu tư của dự án lên 7,5 tỷ USD, JFE bất ngờ rút lui. E-United lại quay về tiếp quản việc nghiên cứu đầu tư dự án và cuối cùng quyết định xin giảm vốn đầu tư dự án xuống còn 2 tỷ USD.
Đến những đổ vỡ tỷ USD
Guang Lian cho đến nay chưa thể nói là đổ vỡ. Nhưng sự long đong lận đận của dự án này trong gần 10 năm qua khiến dư luận không khỏi nghi ngờ về năng lực tài chính của chủ đầu tư. Và kèm theo đó là dự cảm không lành đối với dự án này, giống như đối với không ít dự án tỷ USD khác.
Hiện Việt Nam có khoảng hơn 30 dự án FDI quy mô tỷ USD đã được cấp chứng nhận đầu tư, nhưng số dự án đã đi vào hoạt động chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ngoài các dự án của Samsung ở Thái Nguyên, Bắc Ninh hoạt động ổn định và mang lại hiệu quả cao, còn có thể nhắc tới các Dự án Hồ Tràm Strip (4 tỷ USD ở Bà Rịa – Vũng Tàu), Thép China Steel Sumikin (1 tỷ USD ở Bà Rịa – Vũng Tàu), hay Intel (1 tỷ USD, TP.HCM), LG (1,5 tỷ USD, Hải Phòng), Nhiệt điện Mông Dương 2 (1,95 tỷ USD, Quảng Ninh) đã đi vào hoạt động.
Bên cạnh đó, còn có Lọc hóa dầu Nghi Sơn (9,9 tỷ USD, Thanh Hóa), Liên hợp Thép Formosa (9 tỷ USD, Hà Tĩnh), Lọc hóa dầu Vũng Rô (3,2 tỷ USD, Phú Yên)… đang trong quá trình xây dựng. Trong khi đó, nếu kể các dự án đã bị thu hồi hay đang trong diện bị cảnh báo thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư thì danh sách này rất dài. Đó là Liên hợp Thép Cà Ná (Ninh Thuận), 9,8 tỷ USD; Bãi biển Rồng (Quảng Nam), 4 tỷ USD; Thành phố Sáng tạo Nam Phú Yên (Phú Yên), 1,68 tỷ USD; Công viên Thế giới kỳ diệu (Bà Rịa – Vũng Tàu), 1,3 tỷ USD… đã bị thu hồi.
Chưa kể, hàng loạt dự án vẫn đang “giậm chân tại chỗ”, như Nam Hội An (Quảng Nam), 4 tỷ USD; Thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya (Đồng Nai), 2 tỷ USD; Thép Kobelco (Nghệ An), 1 tỷ USD; Saigon Atlantis Hotel (Bà Rịa – Vũng Tàu), 4,1 tỷ USD; Starbay (Phú Quốc, Kiên Giang), 1,6 tỷ USD; Nhiệt điện Hải Dương (Hải Dương), 2,25 tỷ USD; Bus Centre (Bình Định), 1 tỷ USD… Những dự án này đều đã nhiều lần bị chính quyền địa phương cảnh báo thu hồi giấy chứng nhận đầu tư. Bên cạnh đó, Dự án New City (Phú Yên), vốn đầu tư 4 tỷ USD, cuối cùng năm ngoái cũng đã phải xin điều chỉnh xuống chỉ còn 1 tỷ USD.
Rõ ràng, số dự án tỷ USD bị đổ bể hoặc chậm triển khai đang lớn hơn nhiều so với những dự án đã và đang triển khai, để lại không ít nhức nhối, xót xa.
Và bài học quản lý
Cho tới nay, năm 2008 vẫn là năm kỷ lục trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam, với hơn 72 tỷ USD. Đó cũng là năm nhiều dự án tỷ USD được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhất. Nhưng nhìn lại thì nhiều trong số này đã bị thu hồi hoặc chậm triển khai, khiến dư luận bức bối.
Nhiều dự án quy mô nhỏ nhưng khi bị thu hồi cũng tốn nhiều thời gian để xử lý hậu quả
Bức bối là phải khi đất đai bị hoang hóa kéo dài, lãng phí tài nguyên quốc gia. Bức bối khi các cơ quan quản lý dường như vẫn đang giơ cao đánh khẽ, bởi chuyện “gia hạn” thu hồi dự án không có gì lạ. Nhiều dự án, như Starbay, Saigon Atlantis, Thành phố mới Nhơn Trạch… đã năm lần bảy lượt bị địa phương “dọa” thu hồi giấy phép và cũng đủ điều kiện để thu hồi nhưng rồi cuối cùng vẫn để đó.
Thấy vậy, dư luận bức xúc là đúng. Nhưng bên trong, cơ quan quản lý cũng có những cái khó của mình. Nhiều dự án quy mô dù nhỏ, nhưng khi bị thu hồi cũng tốn nhiều thời gian để xử lý hậu quả. Ví như dự án Guang Lian, nếu thu hồi, thì hơn 330 ha đất đã giao, hơn 73 triệu USD nhà đầu tư đã đầu tư phải xử lý ra sao? Đó là câu chuyện không đơn giản. Nếu lại có đến hàng chục dự án như thế thì càng thêm khó khăn…
“Nhiều khi cũng phải thông cảm với các chủ đầu tư, họ cũng rất quyết tâm làm, nhưng vì khủng hoảng kinh tế vừa qua mà chưa thu xếp được tài chính”, một vị lãnh đạo địa phương nói. Điều này là đúng! Nhưng GS-TSKH. Nguyễn Mại, vị chuyên gia kỳ cựu về FDI cũng đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng, với những dự án chậm triển khai cần phải nhanh chóng thu hồi để dành cơ hội cho nhà đầu tư khác. Với những dự án đã xác định là không thể triển khai nên được thu hồi sớm, dành đất cho các dự án khác. Và quan trọng hơn, cần thẩm định kỹ ngay từ khi nhà đầu tư đến để đề xuất đầu tư, tránh tình trạng nhà đầu tư chỉ “xí phần” rồi để đấy nhằm mua bán lòng vòng dự án để kiếm lời.
Điểm mặt những dự án ‘đầu voi đuôi chuột’ ở Thủ đô
VTC – 21 Oct 2014
Hàng loạt các siêu dự án được giới thiệu hoành tráng với số vốn đầu tư lên tới hàng trăm triệu USD, nhưng đến nay vẫn “bất động”, cỏ mọc um tùm.
Dự án Booyoung Vina
Siêu Dự án Booyoung Vina (Nguyễn Trãi, Hà Nội) “đắp chiếu” nhiều năm qua được coi là trái đắng của thời kỳ huy động vốn kiểu “mỡ nó rán nó”.
Được bàn giao mặt bằng sạch từ năm 2007, nhưng đến nay, dự án Booyoung Vina tại khu đô thị Mỗ Lao vẫn chỉ là bãi đất, tường rào sắt xây quanh. Dự án có tổng mức đầu tư 171 triệu USD và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng trong năm 2010.
Thế nhưng, gần 7 năm trôi qua, dự án Booyoung Vina do Công ty TNHH Booyoung Việt Nam – Hàn Quốc làm chủ đầu tư vẫn nằm im lìm, trở thành một bãi đất hoang rộng lớn.
Tọa lạc tại mặt tiền đường Nguyễn Trãi (Hà Đông, Hà Nội) và nằm ngay bên trái đường vào Khu đô thị Mỗ Lao, khu đất của dự án Booyoung Vina được đánh giá là mảnh “đất vàng” cho phát triển bất động sản. Nhưng hơn 7 năm trôi qua kể từ khi được cấp đất sạch, khu đất này vẫn nằm im lìm.
Sau lễ “tái khởi công” rầm rộ hồi tháng 7/2011, dự án lại tiếp tục trở về điểm xuất phát. Vài chiếc cần cẩu ngày khởi công đã rời khỏi hiện trường, để lại bãi đất trống ngổn ngang. Những khu đất còn lại được quây tôn cho thuê làm điểm đỗ xe hoặc dùng để tập kết vật liệu xây dựng.
Nói là “tái khởi công” bởi tháng 2/2007, Công ty TNHH Booyoung đã tổ chức một lễ khởi công xây dựng Khu chung cư quốc tế Booyoung hoành tráng, rầm rộ.
Tại buổi lễ, chủ đầu tư dự án đã vẽ ra một tương lai rất hoành tráng: Khu chung cư quốc tế Booyoung dự kiến gồm các chung cư cao tầng hiện đại, với 553.683 m2 diện tích sàn xây dựng trên tổng diện tích đất 43.127 m2 tại Khu đô thị mới Mỗ Lao, Hà Đông. Khu chung cư sẽ có 6 toà nhà cao 30 tầng và 3 tầng hầm.
Sau đó, Công ty TNHH Booyoung đã có văn bản đề nghị xin điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư, với nội dung xin chuyển quyền đầu tư dự án sang cho nhà đầu tư mới là Booyoung Housing Co., Ltd (Hàn Quốc) – công ty con trực thuộc Công ty TNHH Booyoung (Hàn Quốc).
Đầu tháng 7/2011, Bộ Xây dựng đã có công văn phúc đáp Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội góp ý cho hồ sơ đăng ký điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư của Công ty TNHH một thành viên Booyoung Việt Nam.
Theo Bộ Xây dựng, để có cơ sở xem xét, nhà đầu tư cần bổ sung biên bản thỏa thuận về việc chuyển quyền đầu tư dự án Khu chung cư quốc tế Booyoung, trong đó quy định rõ: nhà đầu tư mới phải kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến Công ty TNHH Booyoung (Hàn Quốc); tuân thủ các điều khoản quy định tại giấy chứng nhận đầu tư đã cấp và các quy định của pháp luật khác có liên quan; việc chuyển quyền đầu tư dự án không làm phát sinh lợi nhuận.
Như vậy là, sau khi được điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư và tái khởi công vào ngày 12/7/2011, dự án lại nằm im.
Không chỉ nằm bất động, hồi năm 2010, khi Chính phủ đồng ý cho phép 244 đồ án trên địa bàn Hà Nội được phép tiếp tục triển khai, Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội đã yêu cầu các chủ đầu tư nộp đồ án, hồ sơ để rà soát khớp nối, nhưng dự án Booyoung Vina là một trong 101 đồ án quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng không nộp hồ sơ để rà soát khớp nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Dự án nằm bất động trong suốt một thời gian dài đã khiến các cơ quan chức năng phải có văn bản nhắc nhở.
Tháng 5/2013, UBND Thành phố Hà Nội đã có văn bản nhắc nhở các quận, huyện tăng cường giám sát các dự án bất động sản có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa phương. Trong đó, Khu chung cư quốc tế Booyoung của Công ty TNHH Booyoung Việt Nam đã được điểm mặt chỉ tên như một dự án chậm tiến độ.
Mặc dù dự án chậm tiến độ, nhưng mới đây Công ty TNHH MTV Booyoung Việt Nam – Chủ đầu tư dự án Booyoung Vina (Mỗ Lao, Hà Đông) lại có đơn gửi Bộ Xây dựng xin điều chỉnh cơ cấu căn hộ.
Theo đó, chủ đầu tư xin được điều chỉnh cơ cấu các tòa nhà CT-02, CT-03, CT-04, CT-05, CT-06, CT-07 của dự án.
Căn cứ đơn đề nghị, Bộ Xây dựng thống nhất với đề xuất của chủ đầu tư và đề nghị UBND TP Hà Nội chỉ đạo các cơ quan chức năng của TP, căn cứ vào các quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-BXD hướng dẫn việc điều chỉnh cơ cấu căn hộ các dự án nhà ở thương mại,dự án đầu tư xây dựng khu đô thị và chuyển đổi nhà ở thương mại sang làm nhà ở xã hội hoặc công trình dịch vụ hoàn tất các thủ tục cho chủ đầu tư.
Đại dự án Geleximco
“Đại dự án” Geleximco – Lê Trọng Tấn do Tập đoàn Geleximco làm chủ đầu tư, thuộc địa bàn quận Hà Đông và Hoài Đức.
Khu Đô thị mới Lê Trọng Tấn nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô, diện tích 135 ha, theo quy hoạch bao gồm: nhà đa chức năng, siêu thị, sân golf, trường học, phòng khám đa khoa, khu tổ hợp thể dục, thể thao, nhà ở, biệt thự, chung cư… Với tổng số vốn đầu tư 3.000 tỷ đồng, và được triển khai xây dựng từ năm 2007. Tuy nhiên, đến nay đã 6 năm, dự án chỉ mọc lên một vài dãy nhà xây thô rồi bỏ hoang, cùng với đó là hàng trăm ha đất tại dự án này chưa xây dựng.
Thời “hoàng kim” giá đất nền, nhà xây thô chuyển nhượng trên thị trường có khi lên đến 80 triệu đồng/m2 thì đến nay giảm sâu tới 50% với mức giá dao động từ 22 – 25 triệu đồng/m2. Giá nhà liền kề trên trục đường chính còn 50 – 55 triệu đồng/m2.
Hình hài về một siêu đô thị vẫn chỉ long lanh trên giấy. Trong khi chờ siêu đô thị mọc lên đất hoang còn được người dân tận dụng thả trâu bò.
Khu đô thị Văn Phú
Tọa lạc giữa quận Hà Đông, đầu tư hơn 1900 tỉ đồng xây dựng trên 94,1ha, khu đô thị mới Văn Phú được khởi công từ năm 2007 được kì vọng sẽ là một khu đô thị mới hiện đại, giúp giải quyết vấn đề nhà ở cho hàng ngàn người. Tuy nhiên nhiệt của khu đô thị ngày càng giảm xuống cùng với sự trầm lắng của thị trường bất động sản.
Các khu nhà dù hoàn thành cũng vắng bóng người ở. Thậm chí nhiều khu nhà đã từng rất có giá trị nay để cỏ mọc khắp nơi như một căn nhà hoang. Có khu lộ sự xuống cấp. Nhiều đoạn tường bị nứt, cửa kính vỡ, nền nhà sụt xuống… khu đô thị sang trọng càng vắng vẻ, nguội lạnh.
Có vị trí mặt tiền khá đẹp, nằm ngay cạnh trục đường Lê Văn Lương kéo dài, khu đô thị mới Văn Khê (Hà Đông, Hà Nội) khi mới xây dựng cũng kỳ vọng sẽ trở thành một khu đô thị mới hiện đại với các loại hình nhà ở liền kề, biệt thự và chung cư cao tầng đạt chuẩn đô thị loại 1. Tuy nhiên cho đến nay, khu đô thị đã được đưa vào sử dụng nhiều biệt thự, nhà liền kề tại đây đang bị bỏ hoang rêu mốc, cỏ mọc um tùm vây lấn.
Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây
Một dự án bất động sản hỗn hợp khác nằm giữa ngã tư Trần Phú – Yết Kiêu cũng bị cơ quan chức năng “soi” lần này là dự án Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây.
Dự án được giới đầu tư bất động sản đánh giá là có vị trí đắc địa vào bậc nhất trên địa bàn quận Hà Đông nhưng điều đáng buồn là sau gần 6 năm được chấp thuận đầu tư, đến thời điểm hiện tại, hiện trường dự án vẫn là một bãi đất trống, chưa có hạng mục xây dựng nào được tiến hành.
Theo quy hoạch chi tiết được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) phê duyệt, dự án có quy mô 29 tầng với tổng vốn đầu tư 29,2 triệu USD. Tuy nhiên, sau đó phía chủ đầu tư đã lập hồ sơn đề nghị điều chỉnh quy mô dự án với 2 toà tháp cao 45 tầng và 4 tầng hầm với tổng vốn đầu tư 50 triệu USD cho “xứng tầm” với Thủ đô Hà Nội mở rộng.
Khu vực chiếm đất của dự án Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây nguyên là khu trụ sở của Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ làng nghề Hà Nội và một phần Khu tập thể Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Hà Tây (cũ).
Năm 2009, Công ty TSQ Việt Nam đã cương quyết yêu cầu chính quyền quận Hà Đông tổ chức cưỡng chế, di dời các đơn vị này để lấy mặt bằng xây dựng dự án. Tuy nhiên, sau khi các tổ chức, cá nhân di dời thì toàn bộ khu đất lại bị bỏ hoang từ đó đến nay.
Theo VTC

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Khi “Đồng Minh” Chơi Đểu…

Cựu Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã: Đồng minh bội ước
Nam Nguyên, phóng viên RFA – 9 April 2015
Cuộc chiến ý thức hệ quốc-cộng ở Việt Nam kết thúc ngày 30/4/1975 với sự chiến thắng của miền bắc cộng sản. Tại sao chế độ VNCH đã đứng vững 21 năm lại nhanh chóng sụp đổ như vậy. Nhân đánh dấu 40 năm ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, Nam Nguyên phỏng vấn ông Hoàng Đức Nhã, cựu tổng trưởng Dân vận Chiêu hồi, cựu bí thư Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để tìm hiểu một số khía cạnh liên quan. Ông Hoàng Đức Nhã 73 tuổi hiện cư trú tại Chicago tiểu bang Illinois Hoa Kỳ.
Nam Nguyên: Cảm ơn ông Hoàng Đức Nhã đồng ý trả lời phỏng vấn của Đài RFA. Thưa ông sau 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, nhiều tài liệu của Chính phủ Hoa Kỳ đã được giải mật cho thấy Hoa Kỳ đã có ý định không can thiệp vào VNCH nữa từ rất sớm và có mục đích chỉ là để rút lui an toàn. Là người thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ông nhận định gì khi có ý kiến cho là các nhà lãnh đạo và toàn bộ chế độ VNCH bị động, không chuẩn bị việc tự lực cánh sinh hay phải sớm tìm kiếm một con đường khác để VNCH có thể tồn tại.
Ông Hoàng Đức Nhã: Chính quyền của Tổng thống Thiệu lúc đó hiểu rõ mục đích của Tổng thống Nixon, khi ông ta bắt đầu chính sách gọi là “Việt Nam hóa” có nghĩa là Hoa Kỳ rút và hứa sẽ giúp VNCH trên phương diện quân sự và kinh tế để bảo tồn toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng đất nước. Nói chính quyền VNCH lúc đó bị động là hoàn toàn sai, vì mình đã có rất nhiều thành quả. Những người viết sách về Việt Nam không hề đề cập tới khía cạnh này, Đệ nhị Cộng hòa một mặt chống lại xâm lăng Bắc Việt, một mặt xây dựng đất nước, tạo dựng một chế độ pháp trị có quyền tự do cá nhân. Khi tôi đề cập điểm đó cũng là để nói lên là khi chúng ta chống Bắc việt và người đồng minh dần dần rút đi, họ tìm cách thương thuyết và ký kết một hiệp định trên đầu chúng ta, cũng như người Pháp đã làm hồi 1954… lúc đó chính quyền Đệ nhị Cộng hòa quyết định ngồi vào và tìm đủ mọi cách để tạo những điều kiện tối thiểu để chúng ta tiếp tục cuộc tranh đấu để bảo vệ và phát triển đất nước.
Nam Nguyên: Nhưng VNCH không còn nguồn viện trợ nữa, đạn dược vào tháng 3/1975 như Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên có nói là chỉ còn đủ dùng 30 ngày. Tại nhiều bệnh viện vào lúc đó đến bông băng cũng phải giặt đi xài lại…không có viện trợ…người ta nói bị động là không tìm nguồn viện trợ thay thế mà phải chuẩn bị rất là lâu dài mới có thể đương cự được với làn sóng quân cộng sản được Liên Xô, Trung Cộng hỗ trợ rất nhiều và họ đã đánh xuống. Họ nói bị động là như vậy, xin ông có thể làm rõ chỗ này?
Ông Hoàng Đức Nhã: Khi mà chúng ta biết Hoa Kỳ đã rút lui, người đồng minh chính đã tài trợ cho chúng ta và giúp chúng ta rất nhiều. Khi VNCH thấy cần thêm, mình đã gởi mấy phái đoàn đi cầu viện ở mấy quốc gia khác, nhưng không có quốc gia nào thậm chí đến mấy quốc gia Đông Nam Á chỉ nói bằng miệng thôi, không bao giờ cho viện trợ quân sự, viện trợ kinh tế không có bao nhiêu, trong khi Liên Xô Trung Cộng giúp đỡ Bắc Việt tích cực. Đó là một thực trạng mà chính quyền VNCH phải đối phó. Ngay cả đối với Hoa Kỳ lúc đó mình biết là không còn sự viện trợ như mấy năm trước. Chúng ta cũng đã đề nghị xin vay, nhưng lúc đó người Hoa Kỳ nhất là chính quyền Nixon bị bối rối và Quốc Hội dưới quyền kiểm soát của Đảng Dân Chủ muốn tránh, muốn chấm dứt các đợt viện trợ.
Nam Nguyên: Hiệp định Paris 27/1/1973 được cho là một tiền đề dẫn tới việc sụp đổ của Nam Việt Nam. Theo ông và trong vai trò của mình là người thân cận của Tổng thống, Bí thư Tổng thống và cựu Tổng trưởng nữa thì ông nghĩ là VNCH sẽ phải đối phó như thế nào, chúng ta đã rút được bài học vừa qua. Tổng thống cũng có nói vào năm 1990 là vì bị lệ thuộc viện trợ mà cuối cùng phải ngồi vào bàn hội đàm. Giả dụ bây giờ lịch sử lập lại, ông nghĩ là VNCH có thể làm gì khác?
Ông Hoàng Đức Nhã: Câu hỏi này rất quan trọng đấy, tôi muốn nhấn mạnh rằng Hiệp định Paris 27/1/1973 không phải là tiền đề đưa tới sự sụp đổ của VNCH. Đó là một căn bản để cho người Mỹ rút quân và VNCH với sự giúp đỡ của người Mỹ tiếp tục công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Giả sử mình trong hoàn cảnh lúc đó từ 69 đến 73 và phải ký Hiệp định, thì sẽ phải làm như thế nào? lúc đó mình đâu có thể nào nói với đồng minh là ông tìm cách thương thuyết trên đầu của chúng tôi. Mình đâu thể nói vậy, cũng như anh ra trận đá banh rồi anh nói thôi tôi không chơi nữa vì không thích cái luật lệ, rồi mình lấy trái banh và đi về. Mình phải tiếp tục ngồi vào và tranh đấu để đừng có những điều kiện quá xấu cho tương lai đất nước. Thành thử lúc đó hành động của chính phủ VNCH, với sự hỗ trợ của tất cả cơ quan lập pháp hiến định, đã tìm mọi cách để đừng có chấp nhận một hiệp định coi như là đầu hàng.
Nói rằng mình sẽ phải làm như thế nào khác. Lúc đó mình biết rằng phải tự lực cánh sinh, phải củng cố. Lúc đó biết rằng tới giai đoạn phải đấu tranh chính trị với cộng sản để thực thi hiệp định, nó có những điều khoản là hai bên phải gặp nhau để nói về tương lai chính trị. Lúc đó VNCH cũng đã cho tất cả các đảng phái quốc gia biết thực trạng đó để chuẩn bị. Đó là điểm thứ hai riêng về chính trị. Điểm thứ ba về xây dựng kinh tế và xây dựng đất nước, mình có rất nhiều chương trình phát triển nông thôn có nhiều thành quả dân trí ấm no phồn thịnh. Nhưng mà những điều đó không ai nói đến, người ta cứ nhìn vấn đề Việt Nam và cho là mình không có làm gì cả, theo tôi đó là sự sai lầm lớn.
Nam Nguyên: Nhưng thưa ông thực trạng lúc đó là không có tiền nữa, không có tiềm lực kinh tế, quân sự súng đạn không có nữa. Ngay Tổng thống lúc đó cũng nhìn nhận là viện trợ giảm đi rất nhanh và rồi thì những mật ước của Tổng thống Nixon… nó chỉ là mật ước trên phương diện pháp lý không có giá trị, có thể nói cũng chỉ là để đánh lừa thôi?
Ông Hoàng Đức Nhã: Cái thực trạng lúc đó là một người đồng minh sau khi hứa mà bội hứa, mình không thể thay đổi thực trạng đó được. Như tôi đã nói mình đã gởi các phái đoàn đi cầu viện các quốc gia khác, thậm chí đến các nước Trung Đông như là vương quốc Saudi Arabia chẳng hạn. Tuy nhiên cái việc có thể nói là nỗi lòng của mình là quá tin tưởng người đồng minh; thật sự trên phương diện chính trị khi một người Tổng thống của một cường quốc hứa thì sao lại không tin. Nhưng mà sau này các tài liệu giải mật cho thấy là vì Hiệp định Paris không được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn nên Quốc hội không bị ràng buộc theo điều khoản của Hiệp định. Đó là thực trạng mà mình không thay đổi được và VNCH tiếp tục chiến đấu đến khi không còn súng đạn.
Nam Nguyên: 40 năm sau khi chấm dứt chiến tranh, ông nghĩ gì về nước Việt Nam hiện tại và khả năng về con đường dân chủ sắp tới?
Ông Hoàng Đức Nhã: Tôi không có hy vọng chế độ cộng sản ở Việt Nam thực thi nền dân chủ đúng như ý nghĩa của chữ dân chủ. Thứ nhất khi mà độc đảng thì làm sao mà có dân chủ được. Điểm thứ nhì, tự do căn bản của con người không được tôn trọng và điểm thứ ba, hố sâu giữa người giàu giữa con ông cháu cha của chế độ và người nghèo nó quá sâu. Từ 1975 tới giờ tôi chưa về Việt Nam nên không có những dữ kiện chính xác. Tuy nhiên bao nhiêu thống kê của ngân hàng quốc tế, những cơ quan quốc tế cho thấy rõ sự xung đột giữa mức sống và sự phát triển cần thiết của nhân dân mà theo tôi là chưa có được. Dĩ nhiên khi chưa có dân chủ thì không thể san bằng hố sâu giàu nghèo. Cá nhân tôi không thấy dân chủ trong tương lai, ít nhất trong cuộc đời của tôi.
Nam Nguyên: Thưa ông nhiều người đã viết hồi ký, thí dụ ông Nguyễn Tiến Hưng. Về phần ông cũng là một nhân vật của lịch sử, đóng góp rất nhiều vào Đệ nhị Cộng hòa, xin hỏi là ông có định xuất bản hồi ký của mình hay không?
Ông Hoàng Đức Nhã: Nói hồi ký thì có vẻ cá nhân quá, tôi đang viết và sẽ xuất bản để nói về cuộc chiến đấu và công cuộc xây dựng dân chủ của Đệ nhị Cộng hòa, trong đó tôi được hân hạnh đóng góp một phần.
Nam Nguyên: Cảm ơn ông Hoàng Đức Nhã, cựu Tổng trưởng Dân vận Chiêu hồi VNCH, cựu Bí thư Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Đừng Bao Giờ Nhàm Chán

Alan Phan
12 April 2015
(“Biết rồi..khổ lắm..nói mãi” – câu nói thông dụng nhất của dân Việt 40 năm qua…)
Một bài học tôi tiếp thu từ khi mới lớn là …”đừng bao giờ nhàm chán”. Tôi rất chú tâm đến lời khuyên này vì nó đến từ một đàn anh tôi ngưỡng mộ…nổi danh là “dê cụ” của trường. Khi vừa lớn, có lẽ đầu óc của bất cứ anh học sinh nào 24/7 đều là chuyện..gái. Mọi thứ khác trên đời không tồn tại trong vũ trụ của chúng tôi. Và bài học về cách “cưa” gái chắc chắn là có giá trị và khiến tôi nhớ đời so với các phương trình toán học, sự kiện lịch sử hay tài liệu khoa học.
Dĩ nhiên, sau khi phải tự lực cánh sinh và sống qua những tủi nhục nghèo hèn của trò cơm áo gạo tiền từ xã hội, tôi phải đánh giá lại rất nhiều thứ. Trong các bài học, chắc chuyện “đừng bao giờ nhàm chán” có một ứng dụng cao nhất. Lý do là lúc nào, nơi nào…nếu muốn đạt mục tiêu, chúng ta phải là một salesman (người bán hàng).
Đi kiếm việc, chúng ta bắt buộc “bán” mình thành người thích hợp với nhu cầu công ty theo kỹ năng và kinh nghiệm. Khi đi làm việc, chúng ta “bán” mình thành người xứng đáng để công ty lưu giữ và thăng thưởng. Khi tự kinh doanh, thì phải “bán” đủ thứ cho mọi người: sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, lợi nhuận cho nhà đầu tư, viễn cảnh tươi đẹp cho nhân viên…… Khi về nhà, chúng ta “bán” mình thành người chồng, người cha, người con tốt nhất, lý tưởng nhất. Khi ra đường, chúng ta lại “bán” mình thành con người lịch lãm, sang giàu…nguồn ngưỡng mộ của bè bạn và cả người xa lạ. Ngay cả khi đi tu, chúng ta cũng phải “bán” cho tín đồ cũng như thượng cấp (kể cả Chúa, Phật, Thần Thánh…) về tâm linh trong sáng của mình. Làm chính trị, chúng ta phải biết “bán” bánh vẽ và các “bữa ăn miễn phí”.
Do đó, ngay cả khi nói dối hay lừa bịp, khả năng “bán” cũng là một yếu tố quan trọng, dù phải thể hiện dưới nhiều hình thức…khó ngửi với một số người.
Và nguyên lý quan trọng nhất trong việc hấp dẫn “khách hàng” là “đừng bao giờ nhàm chán”.
Với một doanh nghiệp, muốn thành công lâu dài, người quản lý phải luôn sáng tạo, đổi mới, cải tiến sản phẩm, dịch vụ, kênh phân phối, thương hiệu…để tiếp tục lôi cuốn khách hàng. Apple là một biểu tượng của phương cách “hấp dẫn” trong khi Microsoft, với nhiều phương tiện nguồn lực hơn, đã bắt đầu làm người tiêu dùng “nhàm chán” với sự quen thuộc, già cỗi…Nhìn lại các công ty lớn nhỏ trong 50 năm qua, chúng ta rất dễ nhận ra những thành viên của câu lạc bộ nhàm chán và phần lớn đã và sắp lên đường thăm bác Chavez của Venezuela.
Trong lĩnh vưc chính trị, một ví dụ đương đại là ông Obama. Sau cuộc thắng cứ hào quang về “yes, we can …change” năm 2009; ông Obama bây giờ chỉ còn là anh chính trị gia bình thường, đợi ngày về hưu để viết hồi ký. Trong khi đó, chúng ta phải thực sự kính nể ông Putin. Sau 15 năm, ông thay đổi chính sách và xã hội Nga khá sâu rộng, dù có thể đem quốc gia xuống hố bất kỳ lúc nào, không ai có thể nói là cá nhân ông nhàm chán. Đó cũng là lý do “khách hàng” của ông (dân Nga) vẫn yêu thích ông, trong khi sự ủng hộ của cử tri Mỹ với ông Obama có tỷ lệ gần như thấp nhất so với các Tổng Thống tiền nhiệm.
Trong liên hệ gia đình và bè bạn, yếu tố nhàm chán cũng quan trọng vô cùng. Khi vợ chồng đã bắt đầu không muốn nhìn mặt nhau hay nghe những lời lảm nhảm, là hôn nhân đi vào một chu kỳ mới, gây nhiều stress cho cả hai bên, đôi khi hơn cả chuyện tiền bạc. Còn chỉ mới là bồ bịch, thì đào hay kép của bạn sẽ biến mất nhanh chóng khi họ ngáp dài mỗi lần hẹn hò.
Quan trọng hơn cả, là khi mình lại ngáp dài với chính mình vì những chuỗi ngày vô tích sự, không đam mê, không chờ đợi điều gì mới lạ…Đây là lúc chúng ta cần đặt lại câu hỏi về ý nghĩa và mục tiêu của đời sống. Thà là nhào đầu vào một phiêu lưu, thay đổi định mệnh, nuốt lấy đắng cay buồn khổ khi thất bại…hơn là đợi đến khi sắp xuống lỗ, đêm đêm ngồi tiếc nuối cho những cơ hội đã lỡ, những “what-if” đã nhoà nhạt và những khinh bỉ với chính mình về thói yếu hèn. You only live once.
Mỗi lần nhìn một công chức sáng vác ô đi tối vác về, tôi rùng mình nhớ lại cuốn phim The Man In The Gray Flannel Suit, hay cuốn truyện L’etranger của Albert Camus. Tôi đã quên chi tiết kịch bản, nhưng vẫn còn nhớ là tự nhủ mình “đừng bao giờ sống như chiếc bóng” bên cạnh cuộc đời đích thực.
Cách thử nghiệm chính xác nhất về nồng độ “nhàm chán” là khi bất cứ ai mở miệng định nói điều gì, người đối diện đã tiên đoán được những “viên ngọc” sắp được phun ra.
Gần đây tôi nhận vài comments trên GNA là ông già Alan chỉ biết chê bai tiêu cực một chiều. Dù chỉ từ nhóm dư luận viên viết để kiếm cơm, tôi cũng phải suy nghĩ về nồng độ nhàm chán của mình và GNA. Nếu số đông BCA nghĩ vậy, có lẽ đến lúc tôi phải gác bút, đi chọc phá thiên hạ bằng những trò chơi khác? Tôi không biết, nhưng chắc chắn là không để “nhàm chán” đào thải một tài năng “đang lên”?
Tôi hay đọc những tin tức bình luận về Việt Nam từ nhiều góc cạnh: trái, phải, nội, ngoại, bạn, thù….Thực ra, so với nhiều quốc gia khác, Việt Nam khá phong phú đa dạng về những cái “không giống ai” (một lý do hấp dẫn khách hàng như tôi). Tuy nhiên, tôi ước ao là những người có quyền nên hành xử phóng khoáng và giang hồ hơn một chút để thay đổi nồng độ nhàm chán.
Như tại sao du lịch Việt tuột hạng với khách ngoại? Nhàm chán. Rác, xe cộ, ô nhiễm, chặt chém, nhậu nhẹt, sex, bịp bợm…đã che khuất hết vẻ đẹp tiềm ẩn của con người và truyền thống. Mà những thứ đó thì có thể tìm ra ở bất cứ khu ổ chuột của bất cứ xứ nào. Trừ khi ổ chuột Việt có gì hơn người? Phóng xạ chẳng hạn?
Gần đây, khi ngài TBT Việt qua “hội kiến” TBT Tàu, bản thông báo cuối cùng chỉ lập lại “16 chữ vàng -4 cái tốt” – một slogan đã dùng từ 1990, và thực hành từ 70 năm qua. Doanh nghiệp sáng tạo như Nike, Pepsi… thay đổi slogan mỗi vài năm để “tạo bình mới dù rượu thì vẫn cũ” như trái đất. Chính quyền cần sáng tạo hơn. Đề nghị slogan Trung- Việt gì đó nên đơn giản trực tiếp hơn, không ẩn dụ nữa…như 6 chữ vàng “ơn cha như núi Thái Sơn” và 1 cái tốt “làm con phải hiếu”…..hay bình đẳng hơn thì, 4 chữ tóm lược”chồng chúa vợ tôi”…và chỉ cần 1 cái tốt “đừng ngoại tình”. Mọi người nhớ dễ hơn.
Đặc thù khác của Việt Nam là những loa phường khắp xứ chỉ lảm nhảm suốt ngày các trang báo “Nhân Dân” hay “Công An” (có bài 70 năm vẫn xào đi nấu lại). Tại sao không bỏ vài ngày ra đọc những bài trên Blog Chân Dung Quyền Lực cho dân quê nghe? Chẳng thiệt hại gì mà còn được dân khen…các quan bây giờ theo kịp Âu Mỹ rồi, trí thức lắm?
Alan Phan
(GNA xin mách riêng với Ban Tuyên Giáo, phí tư vấn PR của ông già Alan hơi ngược đời: ông sẵn sàng làm free và nếu không hiệu quả, còn móc túi trả tiền thiệt hại cho khách hàng…)