Thứ Tư, 15 tháng 4, 2015

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975 (Bài 2)

Loạt Bài Về Saigon SAU 1975
Bài 2: ‘Con bà phước, cái bang’ Galang
Sông Tiền – Người Việt- 9 April 2015
Tôi đặt chân đến trại tỵ nạn Galang vào trưa ngày 1 Tháng Sáu năm 1990 sau đúng 2 tháng rời Việt Nam.
Ðoàn tàu chúng tôi đến trại với 655 thuyền nhân trên hai chuyến tàu định mệnh được nhập chung từ nhiều chiếc ghe vượt biển khác nhau đã đến được đất liền Mã Lai nhưng bị hải quân nước này gom lại và xua đuổi sang Nam Dương.
Hồi tưởng lại chuyến hải trình gian khổ và những ngày tháng bất ổn trong quá trình thanh lọc ở trại tỵ nạn mà cảm thấy thật thấm thía cho hai chữ thuyền nhân.
Như bao thuyền nhân khác đến trại tỵ nạn sau ngày đóng cửa đảo định mệnh 17 Tháng Ba năm 1989, tất cả chúng tôi đều phải trải qua một quá trình ‘thanh lọc’ để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của mình.
Chúng tôi đến Galang vào thời điểm thuyền nhân trôi tấp vào Mã Lai Á bị dồn đẩy sang Nam Dương ồ ạt nên số lượng thuyền nhân trên đảo từ năm 1989 không quá 3,000 người đã tăng đột biến lên hơn 14,000 trong vòng chưa đầy một năm. Tình trạng quá tải không có chỗ ở cho người tỵ nạn là một chuyện khá nhức đầu cho các nhân viên Cao Ủy và phòng kỹ thuật.
365 người chúng tôi được đưa thẳng vào Galang 2 và sống lây lất vật vạ tạm thời bên trong hội trường của văn phòng Cao Ủy và dọc theo hành lang của phòng xã hội. Nhìn cảnh những người “say sóng” nằm ngồi dọc theo hành lang các văn phòng của Cao Ủy Tỵ Nạn và toán JVA được các anh chị thiện nguyện viên của phòng xã hội và gia đình Phật Tử Long Hoa cũng như thanh niên Công Giáo trợ giúp nấu và chia nhau những tô mì gói nóng để đỡ đói qua ngày trong thời gian chờ đợi những nhân viên của phòng kỹ thuật dựng lên các barrack bằng plastic trên các nền barrack cũ của Zone F nó ám ảnh và theo tôi mãi trong những giấc mơ cho đến ngày hôm nay.
Galang, quán trọ trước cổng thiên đường đã không thật sự đến với chúng tôi, những thuyền nhân kém may mắn đã chậm chân đến trại sau cái ngày oan khiên mà Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại áp dụng để ngăn chặn làn sóng thuyền nhân bỏ nước ra đi tỵ nạn Cộng Sản ngày càng dâng cao. Sau những ngày dài chờ đợi và mất ngủ chúng tôi được đưa vào sống trong những barrack được lợp bằng plastic mới được dựng lên trong khu Zone F bốn bề gió lộng theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của nó.
Trải tấm chiếu Cao Ủy trên nền xi măng lòi lõm của barrack để xí chỗ xong là chúng tôi phải nghĩ đến việc sinh tồn trong những ngày dài sắp tới. Mỗi thuyền nhân được phát một đôi dép Cao Ủy, một cái mền và một chiếc chiếu, một cái tô, một cái chén và một cái ly bằng nhựa, mỗi 5 người được phát một cái lò xô nấu ăn bằng dầu, một cái can 5 lít đựng dầu hôi. Khẩu phần lương thực nghe đâu đã bị cắt giảm nên hàng tuần chúng tôi mỗi người chỉ được phát 3 gói mì, 2.8 kg gạo, 100 gram đậu xanh, 100 gram đậu nành, 100 gram đường và 100 gram đồ tươi có thể là bí rợ hay rau cải. Mỗi đầu tháng chúng tôi được cấp 9 lon cá mòi loại nhỏ, và 4 lít dầu ăn, có tháng Cao Ủy thay thế bằng ba hộp thịt hộp mà chúng tôi gọi là pa tê, khi thì 3 lon cá mòi loại lớn. Ăn cá mòi và tắm nước suối từ trên rừng chảy xuống được chứa trong những cái hộc được đào sẵn ở dưới hạ nguồn nên đã có rất nhiều người bị ghẻ ngứa, chúng tôi đã phải thức dậy thật sớm để sắp hàng lấy số ở bệnh viện Galang 2 chờ được chích thuốc vào mỗi sáng.
Với sức trẻ của tuổi minor vị thành niên, nhóm con “bà phước” không có thân nhân ở nước ngoài không cách gì chúng tôi có thể tồn tại và sống nổi với khẩu phần lương thực hạn hẹp mà Cao Ủy đã cấp phát thông qua nhà cầm quyền Indo, những người bạn của chúng tôi phải gom lại tìm cách mưu sinh để sống còn trong những ngày dài ở trại.
Có một câu chuyện làm cho tôi còn nhớ mãi là trong những ngày còn say sóng khi mới đến đảo. Tôi có theo chân mấy người bạn đi dạo ngoài chợ Galang 2 tình cờ được gặp lại dì Hai Ngọc Châu là bạn rất thân của mẹ tôi đã vượt biên và đến đảo vào năm 1987. Dì dượng và gia đình các anh chị lẽ ra đã đi định cư từ rất lâu nhưng vì dượng Hai bị bệnh phổi khá nặng nên đã bị các phái đoàn từ chối khi phỏng vấn và còn kẹt lại và đang chờ đi Pháp vào Tháng Tám năm 1990.
Mặc dù gia đình của dì lẽ ra phải đi Mỹ vì dượng Hai là cựu quân nhân của QLVNCH. Dì Hai và các anh chị đã rất thương và giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong khoảng thời gian này. Thấy chúng tôi tơi tả không có quần áo mặc dì mua vải nhờ chị Một và chị Bưởi là người con dâu và người quen của dì may đồ cho chúng tôi, lâu lâu dì mua thịt heo rừng và đồ ăn ngoài chợ đem vào tiếp tế cho chúng tôi.
Mặc dù đã sắp đi định cư và đã hứa cho người khác cái thùng phi đựng nước cũng như cái tủ đựng đồ, nhưng vì thấy hoàn cảnh quá thê thảm của chúng tôi mà dì Hai đã trả tiền lại cho người ta để xin lại cho chúng tôi có cái thùng phi đựng nước uống và có tủ để đựng đồ. Thật quý vô cùng những tấm lòng vàng.
“Bún, bún đây, ai ăn bún đổi cá, đổi gạo không? Num bờ chốc tê, Num bờ chốc đo ko tê,” những tiếng rao lanh lảnh ở Galang 1 và Xóm Miên ngày nào vẫn còn âm vang và là động lực mạnh mẽ giúp cho tôi vượt qua hết những khó khăn và vấp ngã sau này khi đã được định cư tại Hoa Kỳ.
Tôi đến với cái nghề bán bún và biết làm ra tiền đầu tiên trong đời từ trại tỵ nạn Galang qua chú Trung và anh Hùng cùng tàu của tôi. Cuộc sống ở trại khổ quá mà không có liên lạc được với thân nhân ở nước ngoài để viện trợ cứu đói, chú Trung và anh Hùng con của chú Tư Xị đã đột phá tìm cách làm quen với anh Nhân chủ lò bún ở gần Suối Zone F Galang 2 để xin lãnh bún đem đi bán dạo vòng quanh các barrack ở Galang 2.
Chú Trung thấy hoàn cảnh anh em con bà phước của chúng tôi thê thảm quá nên chú kêu lại hỏi thăm tụi tôi có chịu đi bán bún không rồi chú hỏi xin ông chủ lò bún cho chúng tôi lãnh bún đi bán ngoài Galang 1. Tôi, Ðức và 3 anh em Ðành, Ðạt và Chín nhận lời, thế là mấy anh em chúng tôi hàng ngày vào sáng sớm thay nhau gánh bún từ Galang 2 đem ra Galang 1 bán và đổi cá, gạo kiếm tiền mưu sinh trên đảo.
Là những công tử bột chưa nếm bụi trần gian, trại tỵ nạn Galang đã nhào nặn cho chúng tôi trở nên cứng cáp và trưởng thành hơn. Có những ngày mưa gió mà gánh bún thì còn nặng trĩu trên vai, chúng tôi len lỏi qua khỏi khu vực bệnh viện Galang 1 (lúc này đã được trưng dụng làm chỗ ở cho thuyền nhân) đi hoài mà gánh bún thì vẫn chưa vơi chúng tôi bạo gan tìm ra khu xóm Miên (vào cuối năm 1990 đã có gần 1,500 người Cambodia vượt biển đi tỵ nạn) lần đầu tiên món Num Bờ Chốc xuất hiện ở Làng Miên gánh bún ngày hôm đó được mua hết trong vòng 30. Thừa thắng xông lên sau đó anh em chúng tôi tăng số lượng bún lên gấp đôi, hàng ngày gánh ra bán thêm ngoài xóm Miên.
Chúng tôi học thêm tiếng Miên qua chị Hồng đi chung tàu. Chị Hồng là em vợ của chú Y Giang NiekDam là ‘leader’ tàu của chúng tôi, từ đó việc giao tiếp với bà con người Miên được dễ dàng hơn.
Có một câu chuyện bây giờ nghĩ lại rất là tức cười cho sự khờ khạo của tuổi trẻ chúng tôi, vì không quen ai ở ngoài Galang 1 nên chúng tôi cứ gánh hai thùng bún thật nặng đi thẳng ra xóm Miên bán trước, khi qua khỏi Cổng Chùa Quan Âm Tự đến gần khu vực Suối Miên, phần vì hai gánh bún quá nặng phần mệt nên chúng tôi quyết định chui vào một bụi cây ở gần đó giấu một thùng bún và gánh thùng bún còn lại trực chỉ xóm Miên. Trên đường về lại Galang 1 chúng tôi tấp vào lấy cái thùng bún giấu trong bụi cây, cả hai chúng tôi đã cười thật giòn và thật lâu khi nghĩ đến cảnh trở lại chỗ giấu thùng bún mà kiếm không ra vì cắc cớ có ông nào đi ngang tấp vào tè bậy mà thấy thùng bún và vác luôn về thì anh em chúng tôi chắc sẽ khóc bằng tiếng Miên luôn.
Có những người Miên thật tốt bụng khi thấy anh em chúng tôi bận quần áo tả tơi trong lúc vất vả mưu sinh đã kêu lại cho quần áo lành lặn để bận, buôn bán một thời gian thì chúng tôi bắt đầu có những mối tốt, họ đặt bún của chúng tôi hàng ngày để nấu món Bún Cá bán trong làng Miên. Anh em chúng tôi thay nhau mỗi ngày vào buổi chiều gánh bún đi bỏ mối ngoài làng Miên, khi thì 15 kg khi thì 10 kg tùy theo ngày. Thấy chúng tôi làm ăn được người chủ lò bún sinh lòng tham, anh ta tăng giá bún lên và sắm xe đạp chở bún ra ngoài làng Miên giành mối và bán sỉ với giá rẻ hơn. Bất mãn anh em chúng tôi không tiếp tục đi bán bún nữa. Sau này một số anh em trong nhóm con bà phước đã phải đi đánh bắt cá ngoài biển, bán bánh mì, bán cà rem, đào giếng mướn và một vài đứa thì làm nghề báo thư mà chúng tôi gọi đùa là những tay chuyên Bóp Cổ Thiên Hạ.
Galang là một trường đời đầy thử thách đã rèn luyện và huấn nhục chúng tôi được cứng cáp và trưởng thành hơn, từ cách đối nhân xử thế đầy tình người cho đến nhân tình thế thái bạc bẽo của cuộc đời chúng tôi đều được học từ trại Galang, có những bài học rất đắt giá và có những bài học không phải trả tiền mà chúng tôi may mắn được học qua những kinh nghiệm đau thương của bạn bè và chính cá nhân mình.
Trong những năm tháng đầu tiên ở trại tỵ nạn, chúng tôi lam lũ cực nhọc mưu sinh nhưng tinh thần thì rất vui và không có nhiều lo nghĩ cho đến khi bắt đầu có kết quả thanh lọc vào những đợt đầu tiên cho những đồng bào đến trại vào những ngày đầu tiên kể từ sau ngày đóng cửa đảo, Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc và chính quyền sở tại vì muốn chặn đứng làn sóng thuyền nhân vượt biển tìm tự do nên đã tạo ra rất nhiều chuyện bất công trong vấn đề xác định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân.
Thảm cảnh chèn ép buộc những cô gái Việt phải hiến thân để đánh đổi tấm vé công nhận là tỵ nạn chính trị xảy ra ngày càng nhiều. Nhà cầm quyền Nam Dương có toàn quyền quyết định tư cách tỵ nạn chính trị của thuyền nhân nên vô tình đã tiếp tay cho những nhân vật đang nắm vai trò sinh sát trên đảo lộng hành mặc sức chà đạp nhân phẩm và tiết hạnh của người phụ nữ Việt Nam trong khoảng thời gian khủng hoảng này.
Ðã có rất nhiều trường hợp cả gia đình phải tốn rất nhiều tiền để hối lộ các giới chức cầm quyền và họ còn bị bắt ép phải hiến dâng con gái dưới tuổi vị thành niên của họ cho những tên phó hay trưởng đảo cũng như những nhân vật coi về phần an ninh và thanh lọc.
Ðã có nhiều trường hợp lường gạt để lấy tiền của thuyền nhân khi hối lộ với chính quyền địa phương dẫn đến giết người để bịt miệng, vụ án ở Suối Chùa Kim Quang mà hai anh Sáu Koler và Nguyễn Văn Viễn là nạn nhân của những tên sát nhân này.
Bất công và đau khổ dày xéo tâm can của những thuyền nhân Galang, sau khi nhận kết quả rớt thanh lọc, anh Diệp Quang Huy đã gặp luật sư người Phi để tư vấn cho vấn đề khiếu nại của mình, bị tên Phi lùn xúc phạm, anh Diệp Quang Huy đã tẩm dầu tự thiêu ngay trước văn phòng Sơ Vấn Galang 2.
Minor Lưu Thị Hồng Hạnh đã đậu thanh lọc nhưng bị rút giấy đậu vì là minor đã phẫn uất tự thiêu ngay trong barrack của mình. Những thảm trạng của thuyền nhân thật là bi thương đã xảy ra rất nhiều vào thời điểm 1991-1996.
Giá trị của hai chữ tự do đã được đánh đổi bằng máu và nước mắt, bằng đói khát của những ngày lênh đênh trên biển, bằng sự tủi nhục của thân xác phụ nữ Việt trên biển và trong đất liền, bằng sự rẻ khinh và xua đuổi của các quốc gia tạm trú, bằng những nấm mồ hoang lạnh trên các trại tỵ nạn của không biết bao nhiêu ngàn thuyền nhân đã bỏ mình nơi rừng sâu, đảo vắng.
Và hơn hết là bằng sự đấu tranh tuyệt thực biểu tình của hơn 4,500 thuyền nhân tại Galang, hơn 2,000 thuyền nhân tuyệt thực ngất xỉu phài vào cấp cứu tại bệnh viện Galang 2, hơn 20 thanh niên đã đâm bụng tự sát không thành. Anh Phạm Văn Châu đã tự thiêu trong buổi sáng biểu tình và được đưa sang Pinang chết mất xác. Anh Lê Xuân Thọ đã tẩm dầu tự thiêu và đâm bụng chết tại chỗ biểu tình được đồng bào quàn và giữ xác trong quan tài tại chỗ biểu tình cho đến ngày cuối cùng sau khi bị cảnh sát đặc nhiệm của Indo trấn áp.
Cuộc biểu tình suốt 179 ngày đêm của thuyền nhân Galang chống cưỡng bức hồi hương và đòi hỏi công bằng cũng như quyền tự do tỵ nạn chính trị của mình là cuộc biểu tình dài nhất và bi thương nhất trong lịch sử của thuyền nhân tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam. Là thuyền nhân vượt biển tìm tự do chúng ta không được phép quên chúng ta là ai và tại sao chúng ta đang ở khắp nơi trên thế giới này.
Galang một trời tâm sự…
Loạt Bài Về Saigon SAU 1975
GNA: Loạt bài về Saigon TRƯỚC 1975 đã gây nhiều phản hồi: những người dân Saigon cũ và mới nhìn lại những hình ảnh cũ và nhận ra một “biển dâu” thực sự đã thay đổi cuộc đời của chục triệu người và không gian sống của họ đã chìm khuất hoàn toàn vào một “hành tinh” khác.
Để tìm một góc nhìn khác, GNA sẽ lần lượt cho đăng lại những mẩu chuyện và hình ảnh về Saigon SAU 1975. Lăng kính của Đảng và Nhà Nước thì chúng ta đã quá rõ, GNA không cần đăng lại nơi đây (đã có hơn 700 loa phường khắp xứ lảm nhảm hàng ngày). Chúng tôi sẽ chỉ ghi lại những suy ngẫm, hồi ức và tâm tư của những NGƯỜI DÂN (Saigon cũ hay nhập cư mới) để chúng ta có chút đồng cảm về một giai đoạn lịch sử vô cùng khác biệt của Saigon.
GNA sẽ tránh đề cập về chính trị, lãnh tụ hay lịch sử. Chỉ có những mảnh đời rất DÂN, rất Saigon. (Xin các BCA khó tính tha lỗi cho tính cẩn thận của GNA với những điều cấm kỵ liên quan đến quyền lực).
Tuy nhiên, để các dư luận viên im mồm, chúng tôi xin nhắc lại trước hết quan điểm của chính phủ về ngày đại thắng 30/4:
“Theo kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2015) vừa được UBND TP HCM ban hành, thành phố sẽ tổ chức khánh thành các công trình: cải tạo kênh và đường dọc kênh Tân Hóa – Lò Gốm trước ngày 15/3; tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 30/3……..
Các điểm bắn pháo hoa gồm: khu vực đường hầm sông Sài Gòn (quận 2); Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược (huyện Củ Chi); Khu tưởng niệm liệt sĩ Ngã Ba Giồng (huyện Hóc Môn); Khu di tích Láng Le – Bàu Cò (huyện Bình Chánh); Sân bóng đá huyện Cần Giờ; Công viên lịch sử – Văn hóa Dân tộc (quận 9) và Công viên Văn hóa Đầm Sen (quận 11)……
Trước đó, Thủ tướng đã phê duyệt Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước. Theo đó, các bộ, ngành trung ương sẽ chủ trì lễ mitting tại lễ đài ngã tư Lê Duẩn – Pasteur, Công viên 30/4 (quận 1). Thời gian tổng duyệt vào lúc 7h ngày 26/4 và chính thức diễn ra lúc 7h ngày 30/4, trong lễ mitting sẽ có tiết mục thả bong bóng và chim bồ câu.
Sau đó sẽ là lễ diễu binh, diễu hành với sự tham dự của khối nghi trượng, các khối diễu binh (các khối đi tay không, các khối đi có súng, có khí tài) và các khối diễu hành quần chúng.”

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2015

Những Dự Án Tỷ Đô “Đầu Voi Đuôi Chuột”

Những đổ vỡ tỷ đô
Hoàng Phương – Diễn đàn doanh nghiệp – 22 Mar 2015
Dự án Thép Guang Lian (Dung Quất) vừa có những động thái mới khiến dư luận có dự cảm không lành…
Một cách vô cùng bất ngờ, sau 5 năm theo đuổi việc xin nâng vốn đầu tư lên 4,5 tỷ USD, chủ đầu tư Dự án Thép Guang Lian (Dung Quất) mới đây đã quyết định xin giảm vốn xuống chỉ còn 2 tỷ USD, đồng thời xin phân kỳ đầu tư thành 4 giai đoạn.
Từ chuyện Thép Guang Lian xin giảm vốn
Quyết định giảm vốn của chủ đầu tư hiện tại của Dự án (Tập đoàn E-United – Đài Loan) xuất phát từ việc cuối năm ngoái Tập đoàn JFE (Nhật Bản) tuyên bố không đeo đuổi dự án này nữa. Vậy là sau hai năm tốn công, phí sức của cả JFE lẫn các cơ quan chức năng địa phương và Trung ương, Dự án Thép Guang Lian vẫn lỡ dở. Thép Guang Lian chính thức được cấp chứng nhận đầu tư từ năm 2006, đầu tiên là cho Tập đoàn Tycoons (Trung Quốc), sau đó có thêm sự tham gia của E-United (Đài Loan), với tỷ lệ góp vốn tương ứng là 10% và 90%. Nhưng sau khi khởi công và thực hiện một số hạng mục như đóng cọc xây dựng, ký túc xá cho người lao động thì đến năm 2010, dự án tạm dừng lại để chờ giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh lên 4,5 tỷ USD.
Trước việc đất dự án bị bỏ hoang nhiều năm, dư luận Quảng Ngãi đã không khỏi bức xúc. Cơ quan quản lý nhà nước cũng sốt ruột. Mọi chuyện phần nào được giải tỏa khi đầu năm 2012, JFE, tập đoàn thép lớn thứ 6 toàn cầu và thứ hai ở Nhật Bản, quyết định ký biên bản ghi nhớ về việc nghiên cứu hợp tác đầu tư dự án. Nếu quyết định tham gia dự án, JFE gần như sẽ nhận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của E-United.
Sự xuất hiện của đại gia Nhật Bản khiến cả cơ quan chức năng, người dân đều kỳ vọng. Nhưng cuối cùng, sau hai năm nghiên cứu, đề xuất hàng loạt chính sách ưu đãi đầu tư, xin thêm đất, điều chỉnh quy hoạch cảng chuyên dụng… thậm chí còn tính đến phương án nâng vốn đầu tư của dự án lên 7,5 tỷ USD, JFE bất ngờ rút lui. E-United lại quay về tiếp quản việc nghiên cứu đầu tư dự án và cuối cùng quyết định xin giảm vốn đầu tư dự án xuống còn 2 tỷ USD.
Đến những đổ vỡ tỷ USD
Guang Lian cho đến nay chưa thể nói là đổ vỡ. Nhưng sự long đong lận đận của dự án này trong gần 10 năm qua khiến dư luận không khỏi nghi ngờ về năng lực tài chính của chủ đầu tư. Và kèm theo đó là dự cảm không lành đối với dự án này, giống như đối với không ít dự án tỷ USD khác.
Hiện Việt Nam có khoảng hơn 30 dự án FDI quy mô tỷ USD đã được cấp chứng nhận đầu tư, nhưng số dự án đã đi vào hoạt động chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ngoài các dự án của Samsung ở Thái Nguyên, Bắc Ninh hoạt động ổn định và mang lại hiệu quả cao, còn có thể nhắc tới các Dự án Hồ Tràm Strip (4 tỷ USD ở Bà Rịa – Vũng Tàu), Thép China Steel Sumikin (1 tỷ USD ở Bà Rịa – Vũng Tàu), hay Intel (1 tỷ USD, TP.HCM), LG (1,5 tỷ USD, Hải Phòng), Nhiệt điện Mông Dương 2 (1,95 tỷ USD, Quảng Ninh) đã đi vào hoạt động.
Bên cạnh đó, còn có Lọc hóa dầu Nghi Sơn (9,9 tỷ USD, Thanh Hóa), Liên hợp Thép Formosa (9 tỷ USD, Hà Tĩnh), Lọc hóa dầu Vũng Rô (3,2 tỷ USD, Phú Yên)… đang trong quá trình xây dựng. Trong khi đó, nếu kể các dự án đã bị thu hồi hay đang trong diện bị cảnh báo thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư thì danh sách này rất dài. Đó là Liên hợp Thép Cà Ná (Ninh Thuận), 9,8 tỷ USD; Bãi biển Rồng (Quảng Nam), 4 tỷ USD; Thành phố Sáng tạo Nam Phú Yên (Phú Yên), 1,68 tỷ USD; Công viên Thế giới kỳ diệu (Bà Rịa – Vũng Tàu), 1,3 tỷ USD… đã bị thu hồi.
Chưa kể, hàng loạt dự án vẫn đang “giậm chân tại chỗ”, như Nam Hội An (Quảng Nam), 4 tỷ USD; Thành phố mới Nhơn Trạch Berjaya (Đồng Nai), 2 tỷ USD; Thép Kobelco (Nghệ An), 1 tỷ USD; Saigon Atlantis Hotel (Bà Rịa – Vũng Tàu), 4,1 tỷ USD; Starbay (Phú Quốc, Kiên Giang), 1,6 tỷ USD; Nhiệt điện Hải Dương (Hải Dương), 2,25 tỷ USD; Bus Centre (Bình Định), 1 tỷ USD… Những dự án này đều đã nhiều lần bị chính quyền địa phương cảnh báo thu hồi giấy chứng nhận đầu tư. Bên cạnh đó, Dự án New City (Phú Yên), vốn đầu tư 4 tỷ USD, cuối cùng năm ngoái cũng đã phải xin điều chỉnh xuống chỉ còn 1 tỷ USD.
Rõ ràng, số dự án tỷ USD bị đổ bể hoặc chậm triển khai đang lớn hơn nhiều so với những dự án đã và đang triển khai, để lại không ít nhức nhối, xót xa.
Và bài học quản lý
Cho tới nay, năm 2008 vẫn là năm kỷ lục trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam, với hơn 72 tỷ USD. Đó cũng là năm nhiều dự án tỷ USD được cấp giấy chứng nhận đầu tư nhất. Nhưng nhìn lại thì nhiều trong số này đã bị thu hồi hoặc chậm triển khai, khiến dư luận bức bối.
Nhiều dự án quy mô nhỏ nhưng khi bị thu hồi cũng tốn nhiều thời gian để xử lý hậu quả
Bức bối là phải khi đất đai bị hoang hóa kéo dài, lãng phí tài nguyên quốc gia. Bức bối khi các cơ quan quản lý dường như vẫn đang giơ cao đánh khẽ, bởi chuyện “gia hạn” thu hồi dự án không có gì lạ. Nhiều dự án, như Starbay, Saigon Atlantis, Thành phố mới Nhơn Trạch… đã năm lần bảy lượt bị địa phương “dọa” thu hồi giấy phép và cũng đủ điều kiện để thu hồi nhưng rồi cuối cùng vẫn để đó.
Thấy vậy, dư luận bức xúc là đúng. Nhưng bên trong, cơ quan quản lý cũng có những cái khó của mình. Nhiều dự án quy mô dù nhỏ, nhưng khi bị thu hồi cũng tốn nhiều thời gian để xử lý hậu quả. Ví như dự án Guang Lian, nếu thu hồi, thì hơn 330 ha đất đã giao, hơn 73 triệu USD nhà đầu tư đã đầu tư phải xử lý ra sao? Đó là câu chuyện không đơn giản. Nếu lại có đến hàng chục dự án như thế thì càng thêm khó khăn…
“Nhiều khi cũng phải thông cảm với các chủ đầu tư, họ cũng rất quyết tâm làm, nhưng vì khủng hoảng kinh tế vừa qua mà chưa thu xếp được tài chính”, một vị lãnh đạo địa phương nói. Điều này là đúng! Nhưng GS-TSKH. Nguyễn Mại, vị chuyên gia kỳ cựu về FDI cũng đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng, với những dự án chậm triển khai cần phải nhanh chóng thu hồi để dành cơ hội cho nhà đầu tư khác. Với những dự án đã xác định là không thể triển khai nên được thu hồi sớm, dành đất cho các dự án khác. Và quan trọng hơn, cần thẩm định kỹ ngay từ khi nhà đầu tư đến để đề xuất đầu tư, tránh tình trạng nhà đầu tư chỉ “xí phần” rồi để đấy nhằm mua bán lòng vòng dự án để kiếm lời.
Điểm mặt những dự án ‘đầu voi đuôi chuột’ ở Thủ đô
VTC – 21 Oct 2014
Hàng loạt các siêu dự án được giới thiệu hoành tráng với số vốn đầu tư lên tới hàng trăm triệu USD, nhưng đến nay vẫn “bất động”, cỏ mọc um tùm.
Dự án Booyoung Vina
Siêu Dự án Booyoung Vina (Nguyễn Trãi, Hà Nội) “đắp chiếu” nhiều năm qua được coi là trái đắng của thời kỳ huy động vốn kiểu “mỡ nó rán nó”.
Được bàn giao mặt bằng sạch từ năm 2007, nhưng đến nay, dự án Booyoung Vina tại khu đô thị Mỗ Lao vẫn chỉ là bãi đất, tường rào sắt xây quanh. Dự án có tổng mức đầu tư 171 triệu USD và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng trong năm 2010.
Thế nhưng, gần 7 năm trôi qua, dự án Booyoung Vina do Công ty TNHH Booyoung Việt Nam – Hàn Quốc làm chủ đầu tư vẫn nằm im lìm, trở thành một bãi đất hoang rộng lớn.
Tọa lạc tại mặt tiền đường Nguyễn Trãi (Hà Đông, Hà Nội) và nằm ngay bên trái đường vào Khu đô thị Mỗ Lao, khu đất của dự án Booyoung Vina được đánh giá là mảnh “đất vàng” cho phát triển bất động sản. Nhưng hơn 7 năm trôi qua kể từ khi được cấp đất sạch, khu đất này vẫn nằm im lìm.
Sau lễ “tái khởi công” rầm rộ hồi tháng 7/2011, dự án lại tiếp tục trở về điểm xuất phát. Vài chiếc cần cẩu ngày khởi công đã rời khỏi hiện trường, để lại bãi đất trống ngổn ngang. Những khu đất còn lại được quây tôn cho thuê làm điểm đỗ xe hoặc dùng để tập kết vật liệu xây dựng.
Nói là “tái khởi công” bởi tháng 2/2007, Công ty TNHH Booyoung đã tổ chức một lễ khởi công xây dựng Khu chung cư quốc tế Booyoung hoành tráng, rầm rộ.
Tại buổi lễ, chủ đầu tư dự án đã vẽ ra một tương lai rất hoành tráng: Khu chung cư quốc tế Booyoung dự kiến gồm các chung cư cao tầng hiện đại, với 553.683 m2 diện tích sàn xây dựng trên tổng diện tích đất 43.127 m2 tại Khu đô thị mới Mỗ Lao, Hà Đông. Khu chung cư sẽ có 6 toà nhà cao 30 tầng và 3 tầng hầm.
Sau đó, Công ty TNHH Booyoung đã có văn bản đề nghị xin điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư, với nội dung xin chuyển quyền đầu tư dự án sang cho nhà đầu tư mới là Booyoung Housing Co., Ltd (Hàn Quốc) – công ty con trực thuộc Công ty TNHH Booyoung (Hàn Quốc).
Đầu tháng 7/2011, Bộ Xây dựng đã có công văn phúc đáp Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội góp ý cho hồ sơ đăng ký điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư của Công ty TNHH một thành viên Booyoung Việt Nam.
Theo Bộ Xây dựng, để có cơ sở xem xét, nhà đầu tư cần bổ sung biên bản thỏa thuận về việc chuyển quyền đầu tư dự án Khu chung cư quốc tế Booyoung, trong đó quy định rõ: nhà đầu tư mới phải kế thừa mọi quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến Công ty TNHH Booyoung (Hàn Quốc); tuân thủ các điều khoản quy định tại giấy chứng nhận đầu tư đã cấp và các quy định của pháp luật khác có liên quan; việc chuyển quyền đầu tư dự án không làm phát sinh lợi nhuận.
Như vậy là, sau khi được điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư và tái khởi công vào ngày 12/7/2011, dự án lại nằm im.
Không chỉ nằm bất động, hồi năm 2010, khi Chính phủ đồng ý cho phép 244 đồ án trên địa bàn Hà Nội được phép tiếp tục triển khai, Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội đã yêu cầu các chủ đầu tư nộp đồ án, hồ sơ để rà soát khớp nối, nhưng dự án Booyoung Vina là một trong 101 đồ án quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng không nộp hồ sơ để rà soát khớp nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội.
Dự án nằm bất động trong suốt một thời gian dài đã khiến các cơ quan chức năng phải có văn bản nhắc nhở.
Tháng 5/2013, UBND Thành phố Hà Nội đã có văn bản nhắc nhở các quận, huyện tăng cường giám sát các dự án bất động sản có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại địa phương. Trong đó, Khu chung cư quốc tế Booyoung của Công ty TNHH Booyoung Việt Nam đã được điểm mặt chỉ tên như một dự án chậm tiến độ.
Mặc dù dự án chậm tiến độ, nhưng mới đây Công ty TNHH MTV Booyoung Việt Nam – Chủ đầu tư dự án Booyoung Vina (Mỗ Lao, Hà Đông) lại có đơn gửi Bộ Xây dựng xin điều chỉnh cơ cấu căn hộ.
Theo đó, chủ đầu tư xin được điều chỉnh cơ cấu các tòa nhà CT-02, CT-03, CT-04, CT-05, CT-06, CT-07 của dự án.
Căn cứ đơn đề nghị, Bộ Xây dựng thống nhất với đề xuất của chủ đầu tư và đề nghị UBND TP Hà Nội chỉ đạo các cơ quan chức năng của TP, căn cứ vào các quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-BXD hướng dẫn việc điều chỉnh cơ cấu căn hộ các dự án nhà ở thương mại,dự án đầu tư xây dựng khu đô thị và chuyển đổi nhà ở thương mại sang làm nhà ở xã hội hoặc công trình dịch vụ hoàn tất các thủ tục cho chủ đầu tư.
Đại dự án Geleximco
“Đại dự án” Geleximco – Lê Trọng Tấn do Tập đoàn Geleximco làm chủ đầu tư, thuộc địa bàn quận Hà Đông và Hoài Đức.
Khu Đô thị mới Lê Trọng Tấn nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô, diện tích 135 ha, theo quy hoạch bao gồm: nhà đa chức năng, siêu thị, sân golf, trường học, phòng khám đa khoa, khu tổ hợp thể dục, thể thao, nhà ở, biệt thự, chung cư… Với tổng số vốn đầu tư 3.000 tỷ đồng, và được triển khai xây dựng từ năm 2007. Tuy nhiên, đến nay đã 6 năm, dự án chỉ mọc lên một vài dãy nhà xây thô rồi bỏ hoang, cùng với đó là hàng trăm ha đất tại dự án này chưa xây dựng.
Thời “hoàng kim” giá đất nền, nhà xây thô chuyển nhượng trên thị trường có khi lên đến 80 triệu đồng/m2 thì đến nay giảm sâu tới 50% với mức giá dao động từ 22 – 25 triệu đồng/m2. Giá nhà liền kề trên trục đường chính còn 50 – 55 triệu đồng/m2.
Hình hài về một siêu đô thị vẫn chỉ long lanh trên giấy. Trong khi chờ siêu đô thị mọc lên đất hoang còn được người dân tận dụng thả trâu bò.
Khu đô thị Văn Phú
Tọa lạc giữa quận Hà Đông, đầu tư hơn 1900 tỉ đồng xây dựng trên 94,1ha, khu đô thị mới Văn Phú được khởi công từ năm 2007 được kì vọng sẽ là một khu đô thị mới hiện đại, giúp giải quyết vấn đề nhà ở cho hàng ngàn người. Tuy nhiên nhiệt của khu đô thị ngày càng giảm xuống cùng với sự trầm lắng của thị trường bất động sản.
Các khu nhà dù hoàn thành cũng vắng bóng người ở. Thậm chí nhiều khu nhà đã từng rất có giá trị nay để cỏ mọc khắp nơi như một căn nhà hoang. Có khu lộ sự xuống cấp. Nhiều đoạn tường bị nứt, cửa kính vỡ, nền nhà sụt xuống… khu đô thị sang trọng càng vắng vẻ, nguội lạnh.
Có vị trí mặt tiền khá đẹp, nằm ngay cạnh trục đường Lê Văn Lương kéo dài, khu đô thị mới Văn Khê (Hà Đông, Hà Nội) khi mới xây dựng cũng kỳ vọng sẽ trở thành một khu đô thị mới hiện đại với các loại hình nhà ở liền kề, biệt thự và chung cư cao tầng đạt chuẩn đô thị loại 1. Tuy nhiên cho đến nay, khu đô thị đã được đưa vào sử dụng nhiều biệt thự, nhà liền kề tại đây đang bị bỏ hoang rêu mốc, cỏ mọc um tùm vây lấn.
Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây
Một dự án bất động sản hỗn hợp khác nằm giữa ngã tư Trần Phú – Yết Kiêu cũng bị cơ quan chức năng “soi” lần này là dự án Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây.
Dự án được giới đầu tư bất động sản đánh giá là có vị trí đắc địa vào bậc nhất trên địa bàn quận Hà Đông nhưng điều đáng buồn là sau gần 6 năm được chấp thuận đầu tư, đến thời điểm hiện tại, hiện trường dự án vẫn là một bãi đất trống, chưa có hạng mục xây dựng nào được tiến hành.
Theo quy hoạch chi tiết được UBND tỉnh Hà Tây (cũ) phê duyệt, dự án có quy mô 29 tầng với tổng vốn đầu tư 29,2 triệu USD. Tuy nhiên, sau đó phía chủ đầu tư đã lập hồ sơn đề nghị điều chỉnh quy mô dự án với 2 toà tháp cao 45 tầng và 4 tầng hầm với tổng vốn đầu tư 50 triệu USD cho “xứng tầm” với Thủ đô Hà Nội mở rộng.
Khu vực chiếm đất của dự án Tháp Thiên niên kỷ Hà Tây nguyên là khu trụ sở của Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ làng nghề Hà Nội và một phần Khu tập thể Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Hà Tây (cũ).
Năm 2009, Công ty TSQ Việt Nam đã cương quyết yêu cầu chính quyền quận Hà Đông tổ chức cưỡng chế, di dời các đơn vị này để lấy mặt bằng xây dựng dự án. Tuy nhiên, sau khi các tổ chức, cá nhân di dời thì toàn bộ khu đất lại bị bỏ hoang từ đó đến nay.
Theo VTC

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Khi “Đồng Minh” Chơi Đểu…

Cựu Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã: Đồng minh bội ước
Nam Nguyên, phóng viên RFA – 9 April 2015
Cuộc chiến ý thức hệ quốc-cộng ở Việt Nam kết thúc ngày 30/4/1975 với sự chiến thắng của miền bắc cộng sản. Tại sao chế độ VNCH đã đứng vững 21 năm lại nhanh chóng sụp đổ như vậy. Nhân đánh dấu 40 năm ngày chiến tranh Việt Nam kết thúc, Nam Nguyên phỏng vấn ông Hoàng Đức Nhã, cựu tổng trưởng Dân vận Chiêu hồi, cựu bí thư Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu để tìm hiểu một số khía cạnh liên quan. Ông Hoàng Đức Nhã 73 tuổi hiện cư trú tại Chicago tiểu bang Illinois Hoa Kỳ.
Nam Nguyên: Cảm ơn ông Hoàng Đức Nhã đồng ý trả lời phỏng vấn của Đài RFA. Thưa ông sau 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, nhiều tài liệu của Chính phủ Hoa Kỳ đã được giải mật cho thấy Hoa Kỳ đã có ý định không can thiệp vào VNCH nữa từ rất sớm và có mục đích chỉ là để rút lui an toàn. Là người thân cận của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, ông nhận định gì khi có ý kiến cho là các nhà lãnh đạo và toàn bộ chế độ VNCH bị động, không chuẩn bị việc tự lực cánh sinh hay phải sớm tìm kiếm một con đường khác để VNCH có thể tồn tại.
Ông Hoàng Đức Nhã: Chính quyền của Tổng thống Thiệu lúc đó hiểu rõ mục đích của Tổng thống Nixon, khi ông ta bắt đầu chính sách gọi là “Việt Nam hóa” có nghĩa là Hoa Kỳ rút và hứa sẽ giúp VNCH trên phương diện quân sự và kinh tế để bảo tồn toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng đất nước. Nói chính quyền VNCH lúc đó bị động là hoàn toàn sai, vì mình đã có rất nhiều thành quả. Những người viết sách về Việt Nam không hề đề cập tới khía cạnh này, Đệ nhị Cộng hòa một mặt chống lại xâm lăng Bắc Việt, một mặt xây dựng đất nước, tạo dựng một chế độ pháp trị có quyền tự do cá nhân. Khi tôi đề cập điểm đó cũng là để nói lên là khi chúng ta chống Bắc việt và người đồng minh dần dần rút đi, họ tìm cách thương thuyết và ký kết một hiệp định trên đầu chúng ta, cũng như người Pháp đã làm hồi 1954… lúc đó chính quyền Đệ nhị Cộng hòa quyết định ngồi vào và tìm đủ mọi cách để tạo những điều kiện tối thiểu để chúng ta tiếp tục cuộc tranh đấu để bảo vệ và phát triển đất nước.
Nam Nguyên: Nhưng VNCH không còn nguồn viện trợ nữa, đạn dược vào tháng 3/1975 như Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên có nói là chỉ còn đủ dùng 30 ngày. Tại nhiều bệnh viện vào lúc đó đến bông băng cũng phải giặt đi xài lại…không có viện trợ…người ta nói bị động là không tìm nguồn viện trợ thay thế mà phải chuẩn bị rất là lâu dài mới có thể đương cự được với làn sóng quân cộng sản được Liên Xô, Trung Cộng hỗ trợ rất nhiều và họ đã đánh xuống. Họ nói bị động là như vậy, xin ông có thể làm rõ chỗ này?
Ông Hoàng Đức Nhã: Khi mà chúng ta biết Hoa Kỳ đã rút lui, người đồng minh chính đã tài trợ cho chúng ta và giúp chúng ta rất nhiều. Khi VNCH thấy cần thêm, mình đã gởi mấy phái đoàn đi cầu viện ở mấy quốc gia khác, nhưng không có quốc gia nào thậm chí đến mấy quốc gia Đông Nam Á chỉ nói bằng miệng thôi, không bao giờ cho viện trợ quân sự, viện trợ kinh tế không có bao nhiêu, trong khi Liên Xô Trung Cộng giúp đỡ Bắc Việt tích cực. Đó là một thực trạng mà chính quyền VNCH phải đối phó. Ngay cả đối với Hoa Kỳ lúc đó mình biết là không còn sự viện trợ như mấy năm trước. Chúng ta cũng đã đề nghị xin vay, nhưng lúc đó người Hoa Kỳ nhất là chính quyền Nixon bị bối rối và Quốc Hội dưới quyền kiểm soát của Đảng Dân Chủ muốn tránh, muốn chấm dứt các đợt viện trợ.
Nam Nguyên: Hiệp định Paris 27/1/1973 được cho là một tiền đề dẫn tới việc sụp đổ của Nam Việt Nam. Theo ông và trong vai trò của mình là người thân cận của Tổng thống, Bí thư Tổng thống và cựu Tổng trưởng nữa thì ông nghĩ là VNCH sẽ phải đối phó như thế nào, chúng ta đã rút được bài học vừa qua. Tổng thống cũng có nói vào năm 1990 là vì bị lệ thuộc viện trợ mà cuối cùng phải ngồi vào bàn hội đàm. Giả dụ bây giờ lịch sử lập lại, ông nghĩ là VNCH có thể làm gì khác?
Ông Hoàng Đức Nhã: Câu hỏi này rất quan trọng đấy, tôi muốn nhấn mạnh rằng Hiệp định Paris 27/1/1973 không phải là tiền đề đưa tới sự sụp đổ của VNCH. Đó là một căn bản để cho người Mỹ rút quân và VNCH với sự giúp đỡ của người Mỹ tiếp tục công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Giả sử mình trong hoàn cảnh lúc đó từ 69 đến 73 và phải ký Hiệp định, thì sẽ phải làm như thế nào? lúc đó mình đâu có thể nào nói với đồng minh là ông tìm cách thương thuyết trên đầu của chúng tôi. Mình đâu thể nói vậy, cũng như anh ra trận đá banh rồi anh nói thôi tôi không chơi nữa vì không thích cái luật lệ, rồi mình lấy trái banh và đi về. Mình phải tiếp tục ngồi vào và tranh đấu để đừng có những điều kiện quá xấu cho tương lai đất nước. Thành thử lúc đó hành động của chính phủ VNCH, với sự hỗ trợ của tất cả cơ quan lập pháp hiến định, đã tìm mọi cách để đừng có chấp nhận một hiệp định coi như là đầu hàng.
Nói rằng mình sẽ phải làm như thế nào khác. Lúc đó mình biết rằng phải tự lực cánh sinh, phải củng cố. Lúc đó biết rằng tới giai đoạn phải đấu tranh chính trị với cộng sản để thực thi hiệp định, nó có những điều khoản là hai bên phải gặp nhau để nói về tương lai chính trị. Lúc đó VNCH cũng đã cho tất cả các đảng phái quốc gia biết thực trạng đó để chuẩn bị. Đó là điểm thứ hai riêng về chính trị. Điểm thứ ba về xây dựng kinh tế và xây dựng đất nước, mình có rất nhiều chương trình phát triển nông thôn có nhiều thành quả dân trí ấm no phồn thịnh. Nhưng mà những điều đó không ai nói đến, người ta cứ nhìn vấn đề Việt Nam và cho là mình không có làm gì cả, theo tôi đó là sự sai lầm lớn.
Nam Nguyên: Nhưng thưa ông thực trạng lúc đó là không có tiền nữa, không có tiềm lực kinh tế, quân sự súng đạn không có nữa. Ngay Tổng thống lúc đó cũng nhìn nhận là viện trợ giảm đi rất nhanh và rồi thì những mật ước của Tổng thống Nixon… nó chỉ là mật ước trên phương diện pháp lý không có giá trị, có thể nói cũng chỉ là để đánh lừa thôi?
Ông Hoàng Đức Nhã: Cái thực trạng lúc đó là một người đồng minh sau khi hứa mà bội hứa, mình không thể thay đổi thực trạng đó được. Như tôi đã nói mình đã gởi các phái đoàn đi cầu viện các quốc gia khác, thậm chí đến các nước Trung Đông như là vương quốc Saudi Arabia chẳng hạn. Tuy nhiên cái việc có thể nói là nỗi lòng của mình là quá tin tưởng người đồng minh; thật sự trên phương diện chính trị khi một người Tổng thống của một cường quốc hứa thì sao lại không tin. Nhưng mà sau này các tài liệu giải mật cho thấy là vì Hiệp định Paris không được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn nên Quốc hội không bị ràng buộc theo điều khoản của Hiệp định. Đó là thực trạng mà mình không thay đổi được và VNCH tiếp tục chiến đấu đến khi không còn súng đạn.
Nam Nguyên: 40 năm sau khi chấm dứt chiến tranh, ông nghĩ gì về nước Việt Nam hiện tại và khả năng về con đường dân chủ sắp tới?
Ông Hoàng Đức Nhã: Tôi không có hy vọng chế độ cộng sản ở Việt Nam thực thi nền dân chủ đúng như ý nghĩa của chữ dân chủ. Thứ nhất khi mà độc đảng thì làm sao mà có dân chủ được. Điểm thứ nhì, tự do căn bản của con người không được tôn trọng và điểm thứ ba, hố sâu giữa người giàu giữa con ông cháu cha của chế độ và người nghèo nó quá sâu. Từ 1975 tới giờ tôi chưa về Việt Nam nên không có những dữ kiện chính xác. Tuy nhiên bao nhiêu thống kê của ngân hàng quốc tế, những cơ quan quốc tế cho thấy rõ sự xung đột giữa mức sống và sự phát triển cần thiết của nhân dân mà theo tôi là chưa có được. Dĩ nhiên khi chưa có dân chủ thì không thể san bằng hố sâu giàu nghèo. Cá nhân tôi không thấy dân chủ trong tương lai, ít nhất trong cuộc đời của tôi.
Nam Nguyên: Thưa ông nhiều người đã viết hồi ký, thí dụ ông Nguyễn Tiến Hưng. Về phần ông cũng là một nhân vật của lịch sử, đóng góp rất nhiều vào Đệ nhị Cộng hòa, xin hỏi là ông có định xuất bản hồi ký của mình hay không?
Ông Hoàng Đức Nhã: Nói hồi ký thì có vẻ cá nhân quá, tôi đang viết và sẽ xuất bản để nói về cuộc chiến đấu và công cuộc xây dựng dân chủ của Đệ nhị Cộng hòa, trong đó tôi được hân hạnh đóng góp một phần.
Nam Nguyên: Cảm ơn ông Hoàng Đức Nhã, cựu Tổng trưởng Dân vận Chiêu hồi VNCH, cựu Bí thư Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Đừng Bao Giờ Nhàm Chán

Alan Phan
12 April 2015
(“Biết rồi..khổ lắm..nói mãi” – câu nói thông dụng nhất của dân Việt 40 năm qua…)
Một bài học tôi tiếp thu từ khi mới lớn là …”đừng bao giờ nhàm chán”. Tôi rất chú tâm đến lời khuyên này vì nó đến từ một đàn anh tôi ngưỡng mộ…nổi danh là “dê cụ” của trường. Khi vừa lớn, có lẽ đầu óc của bất cứ anh học sinh nào 24/7 đều là chuyện..gái. Mọi thứ khác trên đời không tồn tại trong vũ trụ của chúng tôi. Và bài học về cách “cưa” gái chắc chắn là có giá trị và khiến tôi nhớ đời so với các phương trình toán học, sự kiện lịch sử hay tài liệu khoa học.
Dĩ nhiên, sau khi phải tự lực cánh sinh và sống qua những tủi nhục nghèo hèn của trò cơm áo gạo tiền từ xã hội, tôi phải đánh giá lại rất nhiều thứ. Trong các bài học, chắc chuyện “đừng bao giờ nhàm chán” có một ứng dụng cao nhất. Lý do là lúc nào, nơi nào…nếu muốn đạt mục tiêu, chúng ta phải là một salesman (người bán hàng).
Đi kiếm việc, chúng ta bắt buộc “bán” mình thành người thích hợp với nhu cầu công ty theo kỹ năng và kinh nghiệm. Khi đi làm việc, chúng ta “bán” mình thành người xứng đáng để công ty lưu giữ và thăng thưởng. Khi tự kinh doanh, thì phải “bán” đủ thứ cho mọi người: sản phẩm dịch vụ cho khách hàng, lợi nhuận cho nhà đầu tư, viễn cảnh tươi đẹp cho nhân viên…… Khi về nhà, chúng ta “bán” mình thành người chồng, người cha, người con tốt nhất, lý tưởng nhất. Khi ra đường, chúng ta lại “bán” mình thành con người lịch lãm, sang giàu…nguồn ngưỡng mộ của bè bạn và cả người xa lạ. Ngay cả khi đi tu, chúng ta cũng phải “bán” cho tín đồ cũng như thượng cấp (kể cả Chúa, Phật, Thần Thánh…) về tâm linh trong sáng của mình. Làm chính trị, chúng ta phải biết “bán” bánh vẽ và các “bữa ăn miễn phí”.
Do đó, ngay cả khi nói dối hay lừa bịp, khả năng “bán” cũng là một yếu tố quan trọng, dù phải thể hiện dưới nhiều hình thức…khó ngửi với một số người.
Và nguyên lý quan trọng nhất trong việc hấp dẫn “khách hàng” là “đừng bao giờ nhàm chán”.
Với một doanh nghiệp, muốn thành công lâu dài, người quản lý phải luôn sáng tạo, đổi mới, cải tiến sản phẩm, dịch vụ, kênh phân phối, thương hiệu…để tiếp tục lôi cuốn khách hàng. Apple là một biểu tượng của phương cách “hấp dẫn” trong khi Microsoft, với nhiều phương tiện nguồn lực hơn, đã bắt đầu làm người tiêu dùng “nhàm chán” với sự quen thuộc, già cỗi…Nhìn lại các công ty lớn nhỏ trong 50 năm qua, chúng ta rất dễ nhận ra những thành viên của câu lạc bộ nhàm chán và phần lớn đã và sắp lên đường thăm bác Chavez của Venezuela.
Trong lĩnh vưc chính trị, một ví dụ đương đại là ông Obama. Sau cuộc thắng cứ hào quang về “yes, we can …change” năm 2009; ông Obama bây giờ chỉ còn là anh chính trị gia bình thường, đợi ngày về hưu để viết hồi ký. Trong khi đó, chúng ta phải thực sự kính nể ông Putin. Sau 15 năm, ông thay đổi chính sách và xã hội Nga khá sâu rộng, dù có thể đem quốc gia xuống hố bất kỳ lúc nào, không ai có thể nói là cá nhân ông nhàm chán. Đó cũng là lý do “khách hàng” của ông (dân Nga) vẫn yêu thích ông, trong khi sự ủng hộ của cử tri Mỹ với ông Obama có tỷ lệ gần như thấp nhất so với các Tổng Thống tiền nhiệm.
Trong liên hệ gia đình và bè bạn, yếu tố nhàm chán cũng quan trọng vô cùng. Khi vợ chồng đã bắt đầu không muốn nhìn mặt nhau hay nghe những lời lảm nhảm, là hôn nhân đi vào một chu kỳ mới, gây nhiều stress cho cả hai bên, đôi khi hơn cả chuyện tiền bạc. Còn chỉ mới là bồ bịch, thì đào hay kép của bạn sẽ biến mất nhanh chóng khi họ ngáp dài mỗi lần hẹn hò.
Quan trọng hơn cả, là khi mình lại ngáp dài với chính mình vì những chuỗi ngày vô tích sự, không đam mê, không chờ đợi điều gì mới lạ…Đây là lúc chúng ta cần đặt lại câu hỏi về ý nghĩa và mục tiêu của đời sống. Thà là nhào đầu vào một phiêu lưu, thay đổi định mệnh, nuốt lấy đắng cay buồn khổ khi thất bại…hơn là đợi đến khi sắp xuống lỗ, đêm đêm ngồi tiếc nuối cho những cơ hội đã lỡ, những “what-if” đã nhoà nhạt và những khinh bỉ với chính mình về thói yếu hèn. You only live once.
Mỗi lần nhìn một công chức sáng vác ô đi tối vác về, tôi rùng mình nhớ lại cuốn phim The Man In The Gray Flannel Suit, hay cuốn truyện L’etranger của Albert Camus. Tôi đã quên chi tiết kịch bản, nhưng vẫn còn nhớ là tự nhủ mình “đừng bao giờ sống như chiếc bóng” bên cạnh cuộc đời đích thực.
Cách thử nghiệm chính xác nhất về nồng độ “nhàm chán” là khi bất cứ ai mở miệng định nói điều gì, người đối diện đã tiên đoán được những “viên ngọc” sắp được phun ra.
Gần đây tôi nhận vài comments trên GNA là ông già Alan chỉ biết chê bai tiêu cực một chiều. Dù chỉ từ nhóm dư luận viên viết để kiếm cơm, tôi cũng phải suy nghĩ về nồng độ nhàm chán của mình và GNA. Nếu số đông BCA nghĩ vậy, có lẽ đến lúc tôi phải gác bút, đi chọc phá thiên hạ bằng những trò chơi khác? Tôi không biết, nhưng chắc chắn là không để “nhàm chán” đào thải một tài năng “đang lên”?
Tôi hay đọc những tin tức bình luận về Việt Nam từ nhiều góc cạnh: trái, phải, nội, ngoại, bạn, thù….Thực ra, so với nhiều quốc gia khác, Việt Nam khá phong phú đa dạng về những cái “không giống ai” (một lý do hấp dẫn khách hàng như tôi). Tuy nhiên, tôi ước ao là những người có quyền nên hành xử phóng khoáng và giang hồ hơn một chút để thay đổi nồng độ nhàm chán.
Như tại sao du lịch Việt tuột hạng với khách ngoại? Nhàm chán. Rác, xe cộ, ô nhiễm, chặt chém, nhậu nhẹt, sex, bịp bợm…đã che khuất hết vẻ đẹp tiềm ẩn của con người và truyền thống. Mà những thứ đó thì có thể tìm ra ở bất cứ khu ổ chuột của bất cứ xứ nào. Trừ khi ổ chuột Việt có gì hơn người? Phóng xạ chẳng hạn?
Gần đây, khi ngài TBT Việt qua “hội kiến” TBT Tàu, bản thông báo cuối cùng chỉ lập lại “16 chữ vàng -4 cái tốt” – một slogan đã dùng từ 1990, và thực hành từ 70 năm qua. Doanh nghiệp sáng tạo như Nike, Pepsi… thay đổi slogan mỗi vài năm để “tạo bình mới dù rượu thì vẫn cũ” như trái đất. Chính quyền cần sáng tạo hơn. Đề nghị slogan Trung- Việt gì đó nên đơn giản trực tiếp hơn, không ẩn dụ nữa…như 6 chữ vàng “ơn cha như núi Thái Sơn” và 1 cái tốt “làm con phải hiếu”…..hay bình đẳng hơn thì, 4 chữ tóm lược”chồng chúa vợ tôi”…và chỉ cần 1 cái tốt “đừng ngoại tình”. Mọi người nhớ dễ hơn.
Đặc thù khác của Việt Nam là những loa phường khắp xứ chỉ lảm nhảm suốt ngày các trang báo “Nhân Dân” hay “Công An” (có bài 70 năm vẫn xào đi nấu lại). Tại sao không bỏ vài ngày ra đọc những bài trên Blog Chân Dung Quyền Lực cho dân quê nghe? Chẳng thiệt hại gì mà còn được dân khen…các quan bây giờ theo kịp Âu Mỹ rồi, trí thức lắm?
Alan Phan
(GNA xin mách riêng với Ban Tuyên Giáo, phí tư vấn PR của ông già Alan hơi ngược đời: ông sẵn sàng làm free và nếu không hiệu quả, còn móc túi trả tiền thiệt hại cho khách hàng…)

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

Bên thắng cuộc…

Nguồn : Vững Đại Phát
Bên thắng cuộc
Nguyễn Ngọc Ngạn – Tháng Tư 2015
(GNA: Chúng tôi không nghĩ ông MC Nguyễn Ngọc Ngạn dễ thương của chương trình ca nhạc Thúy Nga lại là một nhà phân tích chính trị khà sâu sắc. Bài viết dưới đây nhân ngày đại thắng (của ai?) là một góc nhìn sáng tạo về hệ quả của cuộc biển dâu lịch sử)
Trong đợt lưu diễn văn nghệ đầu năm nay ở vài thành phố bên Mỹ, trùng hợp có một tờ tạp chí và một đài phát thanh hỏi tôi cùng một câu: Nhìn lại 4 thập niên vừa qua, 1975-2015, sự kiện gì đối với chú là quan trọng nhất?
Câu này dễ trả lời! Thế giới biến đổi từng ngày, biết bao nhiêu chuyện xảy ra. Nhưng riêng đối với tôi thì biến cố lớn nhất trong 40 năm qua là sự tan rã của Liên Xô và hệ thống cộng sản toàn cầu. Nó mở ra một kỷ nguyên hòa bình mới, kết thúc chiến tranh lạnh, giảm thiểu tối đa các vũ khí chiến lược, tiết kiệm bao nhiêu tiền của và xương máu mà nhân loại đã đổ ra từ ngày có phong trào cộng sản.
Cần hình dung lại hàng triệu người đã chết thảm ở Siberia thời Stalin, trong cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa thời Mao Trạch Đông, rồi cải cách ruộng đất và sửa sai thời Hồ Chí Minh trên đất Bắc, cũng như đánh tư sản và tù cải tạo tại miền Nam sau 1975. Chưa kể chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Kiểm điểm lại những đau thương ngút trời gần một thế kỷ vừa qua, người ta mới thấy hết được niềm hạnh phúc khi đế quốc cộng sản sụp đổ, mà sự sụp đổ ấy không do tác động trực tiếp của thế giới tự do, mà do chính nội bộ của đảng viên và của quần chúng các nước xã hội chủ nghĩa dấy lên. Theo tôi, đó là sự kiện vĩ đại nhất của nhân loại trong 4 thập niên vừa qua!
Từ ngày ra hải ngoại, tôi vẫn mang trong đầu một điều tiếc nuối: Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia cuối cùng trên thế giới bị lọt vào tay Cộng Sản. Giả như đồng minh Hoa Kỳ không bỏ cuộc giữa đường, Miền Nam Việt Nam chỉ cần cầm cự thêm vài năm nữa, chắc chắn tình hình đã đổi khác.
Đến khi cộng sản toàn cầu sụp đổ, tôi lại cho rằng, sự sụp đổ ấy bắt nguồn sâu xa từ chiến tranh Việt Nam. Tôi tin như thế, nhưng dè dặt không dám viết ra vì sợ có người sẽ bảo là tôi chủ quan. Mãi đến khoảng năm 2005, tôi tình cờ đọc được cuốn sách của một tác giả người Mỹ, tôi mới cảm thấy an lòng và hết sức vui mừng vì có người đồng ý với suy nghĩ của tôi.
Tiếc là giờ này tôi không có cuốn sách ấy trong tay, vì hôm đó trong khi chờ chuyến bay ở phi trường, tôi tạt vào tiệm bách hóa Hudson News tính mua đại một tờ tạp chí nào đó để lên máy bay xem cho qua thì giờ, thì thấy có cuốn sách viết về Vietnam War nên vội lấy xuống. Tôi mới chỉ đọc được 2 trang của phần mở đầu thì chuyến bay thông báo boarding mà người xếp hạng ở quầy tính tiền sách đông quá, tôi đành bỏ lại cuốn sách trên kệ.
Ngồi trên phi cơ, tôi nhớ lại lập luận của tác giả cho rằng: Chiến tranh Việt Nam là cuộc chạy đua võ trang, hay đúng hơn là cuộc chạy đua tiêu tiền, giữa hai khối tư bản và cộng sản. Cuộc chạy đua ấy tuy kết thúc dở dang vì Hoa Kỳ bỏ cuộc, nhưng cũng đủ để làm khối cộng sản kiệt quệ về tài chánh, không vực dậy nổi, dẫn đến sự sụp đổ 15 năm sau!
Điều này tôi tin là đúng. Hồi mới sang Canada, năm 1979, tôi đọc một bài viết trong tờ Financial, nói rằng: Chiến tranh Việt Nam đã làm đồng dollar Mỹ mất giá và gây nên tình trạng lạm phát nặng nề. Lúc ấy tôi nghĩ: Mỹ giàu như thế mà còn điêu đứng vì chiến tranh Việt Nam, thì huống chi các nước cộng sản vốn quanh năm èo uột về kinh tế!
Quả thực đúng như vậy! Trong chiến tranh, người dân các nước Cộng Sản tạm quên cái đói khổ. Nhưng hết chiến tranh rồi, cái sai của chế độ và cái yếu của lãnh đạo tất nhiên phải lộ ra, không thể nào che đậy được. Lấy lý do gì để giải thích với nhân dân, sau bao nhiêu năm nhịn ăn cung ứng cho chiến trường, rồi bây giờ lại càng đói khổ hơn khi hòa bình trở lại!
Từ những “bức xúc” thực tế ấy, lãnh đạo Cộng Sản bất đắc dĩ phải đưa ra khẩu hiệu “đổi mới”, khởi đầu ngay tại Liên Xô từ năm 1985. Nói “bất đắc dĩ” là bởi vì trong thế giới Cộng Sản, bất cứ ai đề xuất một ý tưởng khác với những giáo điều cứng rắn của Đảng thì lập tức bị gán cho cái tội “xét lại” hoặc “phản Đảng” và thường đưa đến hậu quả thân tàn ma dại. Điều này chắc chắn ai cũng đã biết qua kinh nghiệm mấy chục năm cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Đèn Cù của Trần Đĩnh, Bên Thắng Cuộc của Huy Đức v.v… chúng ta đã thấy được phần nào những thanh trừng nội bộ rất cay đắng của Đảng Cộng Sản qua những vụ án mà họ gọi là “xét lại”, chẳng hạn như vụ Hoàng Minh Chính.
Hoàng Minh Chính là một đảng viên kỳ cựu, hoạt động cùng thời với anh em Lê Đức Thọ. Năm 1945 ở Hà Nội, nhạc sĩ Văn Cao tham gia Việt Minh, công tác trong đội ám sát. Chính Hoàng Minh Chính đã đưa súng cho Văn Cao đi giết những đảng viên Quốc Dân Đảng bị Việt Minh vu cho tội thân Nhật. Hơn 30 năm sau, Hoàng Minh Chính mới tỉnh ngộ, nhìn thấy nhu cầu phải cải tổ để cứu đất nước. Nhưng ý kiến của ông đụng vào những bức tường bảo thủ kiên cố nên ông bị truy bức, kéo theo bao nhiêu người khác mà phe bảo thủ muốn nhân dịp này tiêu diệt.
Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, thấy nông dân làm hợp tác xã không có hiệu quả vì cha chung không ai khóc, cơm nhà chúa múa tối ngày, cứ rềnh rang vác cuốc ra đồng đủ 8 tiếng rồi về, thu hoạch không năm nào đủ chỉ tiêu. Ông mới nghĩ ra sáng kiến là cho nông dân làm khoán. Làm nhiều ngày hay ít, chăm hay lười, không cần biết, miễn là nộp đủ số thóc quy định! Sáng kiến này tuy thực tế và có lợi cho Nhà Nước nhưng bị coi là đi lạc đường nên bí thư tỉnh ủy bị kỷ luật và cách chức! Bí thư tỉnh ủy tất nhiên phải là một ủy viên trung ương Đảng, thế mà còn bị trừng phạt vì một sáng kiến cá nhân, huống chi người dân thường, ai dám phát biểu ý kiến!
Vậy mà sau 10 năm kết thúc chiến tranh, giữa lúc phe bảo thủ còn đang thống trị toàn Đảng, thì Trường Chinh đã phải công khai hô hào đổi mới. Ai cũng biết Trường Chinh là lãnh tụ cộng sản kỳ cựu bên cạnh Hồ Chí Minh, một lý thuyết gia tiền phong của Đảng và là người chỉ đạo cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu tại Miền Bắc, giết hại biết bao nhiêu nông dân cũng như đảng viên. Nói cách khác, Trường Chinh vẫn được coi là một thành trì kiên cố nhất của Đảng. Thế mà chính Trường Chinh phải thay đổi lập trường thì đủ biết hoàn cảnh Việt Nam sau chiến tranh thê lương như thế nào!
Trần Bạch Đằng viết trong bài “Dám Rẽ Ngoặt Trong Tư Duy” như sau:
“Mùa Thu năm 1985, thành quả của bao nhiêu năm chắt chiu của nước ta bỗng chốc sụp đổ qua sai lầm trong điều chỉnh giá cả và đổi tiền. Thế là toàn Đảng toàn dân “khởi đầu bằng sự khởi đầu”! Bác Trường Chinh tìm lối thoát trong cảnh cực kỳ rối ren… Bác kiên trì sự nghiệp đổi mới, đổi mới triệt để và toàn diện… Bác dũng cảm điều chỉnh lại tư tưởng của mình…”!
Nói “dũng cảm” bởi vì khi đề xuất ý kiến đổi mới tức là đụng chạm mạnh đến những vùng đất cấm kinh niên của Đảng, những nhân sự suốt đời cố chấp mà chỉ có người tầm cỡ như Trường Chinh, lúc ấy ngoài 70, mới dám lên tiếng!
Sau khi Trường Chinh mất, Trần Bạch Đằng viết:
“Thưa anh Năm Trường Chinh! Tiễn anh, chúng tôi ân hận vô cùng: Không đổi mới nhanh như anh ao ước!… Tôi tin, nếu quả còn cuộc sống ở thế giới khác sau khi người ta chết, thì những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, cũng sẽ mở rộng vòng tay đón Bác Năm Trường Chinh…”.
Ý nói: Cuối đời Trường Chinh đã thấy cái sai của mình, xin các oan hồn bị đấu tố trước đây, nếu gặp lại Trường Chinh ở thế giới bên kia, hãy tha cho Trường
Chinh, đừng xúm lại hỏi tội!
(Ghi chú: Trần Bạch Đằng nguyên là Bí thư Khu Ủy Sài Gòn – Gia Định. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, Trần Bạch Đằng và Võ Văn Kiệt là tư lệnh tiền phương, chỉ huy lực lượng Việt cộng đánh vào nội thành Sài Gòn).
“Đổi mới” thật ra là một bản tuyên ngôn đầu hàng tư bản! Bởi vì: Cốt lõi của Cộng Sản là kinh tế chỉ huy, là mậu dịch quốc doanh, là kiểm tra hộ khẩu, là hợp tác xã, là mỗi tháng xếp hàng lĩnh 16 ký gạo! Một khi đã chuyển sang cơ chế thị trường tức là đã chào thua thế giới tự do rồi!
Kiệt quệ về kinh tế đã đành, người Cộng Sản còn mất hết niềm tin vào những lý tưởng mà họ được dạy dỗ trước đây.
Lùi lại hồi đầu thế kỷ thứ 20, phong trào Cộng Sản là một cái gì mới mẻ, hấp dẫn rất nhiều người trí thức ở thành thị. Nó hấp dẫn bởi về mặt lý thuyết, nó đề cao lý tưởng công bằng xã hội, xóa bỏ bất công bằng đấu tranh giai cấp. Lúc ấy, quả thực tư bản còn quá nhiều khuyết điểm, chủ nhân bóc lột công nhân, công đoàn chưa thành hình, chế độ lao động hà khắc, không được luật lao động bảo vệ. Ở nông thôn thì phong kiến áp bức đến tận cùng. Do thực tế ấy, người ta dễ dàng bị lôi cuốn theo Cộng Sản dù chưa hiểu CS là gì. Đã thế, cộng sản lại ra đời đúng lúc phong trào giải phóng các dân tộc bị trị lên cao trên toàn cầu, nhất là sau Đệ nhị Thế chiến. Cộng Sản khôn khéo đem chiêu bài chống ngoại xâm để lôi kéo quần chúng, điển hình là biết bao nhiêu người đã theo Hồ Chí Minh, đâu phải vì thích Cộng Sản mà vì muốn đứng vào hàng ngũ đánh Pháp. Đến khi Cộng Sản thắng rồi thì đã quá muộn, họ không rút chân được nữa!
Thế giới tư bản thì càng ngày tự điều chỉnh để trở nên hoàn thiện, trong khi cộng sản dừng chân tại chỗ, hết chiến tranh là lộ ra hết khuyết điểm. Khi Liên Xô và Trung Cộng công khai thù nghịch nhau, khi Việt Cộng xâm lăng Miên Cộng (Khờ-Me Đỏ), khi Trung Cộng dạy cho Việt Cộng một bài học vào đầu năm 1979 – nghĩa là gà cùng một mẹ mà chém giết nhau không nương tay – thì cái lý tưởng “thế giới đại đồng” và “chung sống hòa bình” giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn ý nghĩa gì nữa! Cứ nhìn Trung Cộng, người ta thấy ngay cái tình hữu nghị môi hở răng lạnh của hai nước Cộng Sản nó cay đắng như thế nào!
Lời dạy của Đảng trở thành trò hề, làm thất vọng tất cả những ai từng tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Ý nghĩ giã từ chủ nghĩa xã hội vì vậy càng ngày càng lan rộng trong đầu nhiều đảng viên, chỉ chờ cơ hội là bùng phát!
Từ khi các nước Đông Âu và nhất là Liên Xô sụp đổ, thế giới không còn ai nhắc đến Cộng Sản nữa. (Chắc chỉ còn cộng đồng người Việt ở hải ngoại vẫn bám lấy ma Cộng Sản để hù dọa hoặc chụp mũ nhau mà thôi!). Hai chữ “Cộng Sản” chỉ còn là một tì vết của lịch sử, đã lùi hẳn vào trong dĩ vãng, không còn là mối bận tâm cho nhân loại. Nó đã trở thành chuyện cổ tích, người bỏ Đảng mỗi ngày một đông. Trước mắt thế giới, kẻ thù mới bây giờ là Terrorist, là ISIS, là những nhóm quá khích không nhân tính, chứ kẻ thù cũ là Cộng Sản giờ này là hết hẳn đất đứng.
Dĩ nhiên cũng còn vài nước vẫn bám lấy danh hiệu Cộng Sản nhưng thật ra họ không còn mang chất cộng sản như xưa. Họ bám chỉ vì quyền lợi của đảng phái, của phe nhóm mà họ phải bảo vệ mà thôi. Bắc Hàn và Cuba thì đói khát quanh năm, không đáng bàn đến. Trung Cộng thì tư bản hóa trước cả Việt Cộng. Cụ thể, ngày nay nếu phải đối phó với Trung Quốc thì hoàn toàn không phải là đối phó với một nước cộng sản mà là một đế quốc có chủ trương bá quyền.
Việt Nam cũng thế! Giờ này người ta chống Việt Nam không phải là chống một nước cộng sản mà là chống một chính quyền độc tài, độc đảng, chà đạp nhân quyền giống như nhiều nước độc tài khác trên thế giới.
Trong chế độ Cộng Sản đích thực, chỉ cần có vài mẫu ruộng đã ra pháp trường đấu tố, chỉ cần làm chủ một cửa tiệm hạng trung đã bị đánh tư sản, hoặc vào tù hoặc đi vùng kinh tế mới, chứ làm gì có những cán bộ đảng viên sở hữu những dinh thự nguy nga và ôm hàng tỉ hàng triệu dollars như hiện nay ở Việt Nam! Các cấp lãnh đạo Trung Quốc cũng thế! Có những quan chức phải dành riêng ra hẳn một căn nhà mới đủ chỗ chứa vàng và tiền mặt thì cộng sản ở điểm nào!
Nói tóm lại, trên thế giới ngày nay không còn nước nào áp dụng lý thuyết Cộng Sản đúng nghĩa. Tất cả đều đã đầu hàng tư bản, chạy theo tư bản, nhưng gắng gượng nên câu khẩu hiệu: “Áp dụng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!” Họ ngượng ngùng nói thế khi chính họ cũng biết rõ rằng chủ nghĩa xã hội không bao giờ có cơ chế thị trường! Tư bản thúc đẩy sản xuất và cải thiện sản phẩm bằng tự do cạnh tranh! Cộng Sản thúc đẩy sản xuất bằng tuyên truyền, bằng chỉ thị và bằng giấy biểu dương! Khác nhau như nước với lửa, không thể kết hợp được.
Cho nên, như tôi đã nói ở trên, người cộng sản một khi đã áp dụng cơ chế thị trường tức là đã bỏ cuộc, là giã từ hẳn chủ nghĩa của mình rồi! Chỉ cần để ý một chút, chúng ta thấy ngay ngày nay họ không còn tự hào khoe khoang về lý tưởng của họ như thuở trước. Những câu khẩu hiệu một thời họ hãnh diện nêu cao như “Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân”, hoặc “Chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao trí tuệ loài người” giờ này chính họ đã lặng lẽ xóa đi. Hai chữ “vô sản” là đặc trưng của chế độ, ngày nay cũng đã biến mất! Đấu tranh giai cấp để tiến đến công bằng xã hội thì không thể áp dụng được nữa bởi giai cấp giàu nhất bây giờ gồm toàn đảng viên! Chả nhẽ họ tự đấu tố chính mình!
Chẳng những thế, trong nước đang có dư luận một ngày gần đây Đảng Cộng Sản sẽ đổi tên, bỏ hẳn hai chữ “Cộng Sản” đã lỗi thời vì quá nhiều khuyết điểm! Nhưng dù có đổi tên mà vẫn duy trì lề lối cũ, vẫn độc tài và thường xuyên vi phạm Hiến Chương Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc thì thế giới vẫn tiếp tục lên án và người dân vẫn tiếp tục đấu tranh.
Bởi mục tiêu tối hậu không phải chỉ là xóa đi hai chữ Cộng Sản, mà là kiến tạo một quốc gia tự do, dân chủ và phú cường, để Việt Nam có thể hãnh diện đứng ngang tầm với các nước văn minh trên thế giới.
Tổng kết lại, nhìn lại 4 thập niên vừa qua, nếu chỉ chú ý đến cái mốc kết thúc chiến tranh năm 1975 ở Việt Nam, thì người ta gọi Miền Bắc là “bên thắng cuộc”. Nhưng nếu mở tầm mắt rộng hơn, nhìn sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản toàn cầu do chiến tranh Việt Nam gián tiếp gây nên, thì thế giới tự do mới đích thực là “bên thắng cuộc”!
Nguyễn Ngọc Ngạn
Tháng 4/2015

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015

XHCN Đến Đích tại Venezuela

Nguồn : Vững Đại Phát 
Venezuela sụp đổ
Mạnh Kim – 8 April 2015
Sự ngạo mạn thái quá, có phần điên rồ, của một cá nhân có thể dẫn đến tai họa cho cả một đất nước. Không bài học nào rõ ràng bằng trường hợp Venezuela. 10 năm sau khi Hugo Chávez đưa ra học thuyết “Chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21”, Venezuela đang trên bờ vực sụp đổ toàn diện. Ngay cả giấy vệ sinh giờ cũng trở thành mặt hàng khan hiếm!
David Boaz thuộc Viện nghiên cứu Cato mỉa mai: “Venezuela đã đến chặng cuối của con đường XHCN: không có giấy vệ sinh” (Business Insider 5-4-2015). Một phần vấn đề ở chỗ Hugo Chávez đã xây dựng nền kinh tế XHCN bằng “định hướng” công nghiệp dầu. Thay vì phát triển tư nhân hóa công nghiệp, Hugo Chávez chỉ dựa vào dầu. Doanh thu dầu được chi mạnh cho các chương trình phúc lợi xã hội, như “nguyên lý căn bản” của lý thuyết “CHXH”, tạo ra một xã hội làng nhàng mọi người đều vui vẻ cùng có cái ăn và không ai quá giàu hơn ai. Lý thuyết này, trong một thời điểm, đã giúp Venezuela tương đối ổn định và mang lại uy tín chính trị cho cá nhân Hugo Chávez. Tuy nhiên, dầu từng chiếm 95% doanh thu xuất khẩu Venezuela; cùng với khí đốt, chiếm 25% GDP; nay bị mất giá. Theo đó, “CNXH” cũng mất giá. Chính xác hơn, đó là hậu quả của thứ lý luận phi khoa học và phản kinh tế, được cổ súy từ những lãnh đạo bất chấp sự vận động tất yếu của khoa học và không màng qui luật kinh tế.
Lạm phát Venezuela hiện 70% (cao nhất thế giới) – Wall Street Journal (13-3-2015) cho biết. Cái giá phải trả cho nền kinh tế phi sản xuất là sự thiếu hụt nghiêm trọng gần như mọi mặt hàng, từ phụ tùng xe đến giấy vệ sinh (nhiều khách sạn Venezuela ra thông báo yêu cầu khách phải mang theo giấy vệ sinh, xà phòng, kem đánh răng…). Bị ảnh hưởng nặng nhất là các dịch vụ xã hội vốn sống bằng ngân sách bao cấp. Trong 45.000 giường tại các bệnh viện công, hiện chỉ có 16.300 giường còn hoạt động. Bệnh viện tư, với 8.000 giường, cũng bị ảnh hưởng mạnh. Venezuela cần khoảng 1 tỉ USD/năm để nhập thiết bị y tế nhưng họ được cấp không đến 200 triệu USD năm 2014; giảm mạnh so với 807 triệu USD năm 2010. Khoảng 70% các loại dược phẩm đang thiếu trầm trọng. Tỉ lệ ủng hộ Tổng thống Nicholás Maduro hiện chỉ 22%, thấp nhất kể từ khi kế nhiệm Hugo Chávez cách đây hai năm (The Guardian 22-3-2015). Maduro không đủ sức và không thể đổ “đống vỏ ốc” Hugo Chávez để lại.
Venezuela bây giờ cần gì? Không hẳn là việc (trông chờ) xóa cấm vận của Mỹ. Điều họ cần là một gương mặt đủ mạnh để xóa cái di sản “XHCN” của Hugo Chávez, đủ dũng cảm để đứng lên nói với quốc dân rằng từ bây giờ họ phải làm lại từ đầu, phải đi trên một con đường mà gần như mọi quốc gia trên thế giới này đang đi.
Mạnh Kim
(FB Mạnh Kim)
Giai đoạn cuối của Chủ nghĩa xã hội tại Venezuela: Giấy vệ sinh cũng chẳng còn
Đại Kỷ Nguyên – 9 April 2015
150110052713_sp_supermercado_venezuela_624x351_reuters
Ở Romania trong những năm cuối của chế độ cộng sản xuất hiện những hàng dài người đợi mua giấy vệ sinh. Tình hình tương tự hiện cũng đang xảy ra ở Venezuela.
Như vậy, chỉ với khoảng thời gian 16 năm dưới sự lãnh đạo của ông Chavez, Venezuela đã cho thấy chủ nghĩa xã hội của thế kỷ 21 khá giống với chủ nghĩa xã hội trong thế kỷ 20.
Tình trạng thiếu lương thực và các hàng hóa khác ở Venezuela đã trở nên rất nghiêm trọng. Một số khách sạn thậm chí còn yêu cầu khách hàng tự mang theo giấy vệ sinh và xà phòng, theo tuyên bố gần đây của một phát ngôn viên trong ngành công nghiệp du lịch, được trích dẫn trên mảng tin Fusion.
Gerardo Montilla, Chủ tịch Phòng Du lịch của thành phố Merida, nói với Fusion rằng những khách sạn lớn hơn có thể tránh được thiếu hụt này bằng cách mua giấy vệ sinh và các mặt hàng khác trên thị trường chợ đen, nhưng với mức giá cao hơn 6 lần so với bình thường. Còn những khách sạn nhỏ, khách sạn gia đình, họ thường không đủ khả năng để trả với giá đắt như vậy, có nghĩa là đôi khi bạn phải tự xoay xở trong những tình huống gặp phải.
Một công dân tên là Camacho cho biết cô từ chối mua giấy vệ sinh trên thị trường chợ đen.
“Trên thị trường chợ đen, bạn phải trả 110 bolivar [17 USD] cho một cuộn giấy vệ sinh, mà bình thường chỉ có giá 17 bolivar [2.7 USD] trong siêu thị,” Camacho nói với Fusion, “Tôi không muốn tiếp tay cho tham nhũng đang tồn tại trên thị trường chợ đen và cũng không thể có 4 giờ mỗi ngày để đứng xếp hàng mua giấy vệ sinh tại một siêu thị”.
Gần đây, các quan chức Venezuela đã quyết định hành động để ngăn chặn người dân đầu cơ khắp đất nước các hàng hóa thiết yếu, trong nỗ lực để kiểm soát và giảm thiểu việc buôn lậu các sản phẩm này.
Thiếu hụt hàng hóa, những hàng dài người trong các cửa hàng, trên chợ đen và trộm cắp ngang nhiên. Và nguyên nhân của mọi sự là do CIA. Vâng, Venezuela đã đạt được một chủ nghĩa xã hội thật sự.
Andrei Popescu – ET Romania

Tại sao Hàn Quốc phát triển rực rỡ còn Việt Nam thì không?

Nguồn : Vững Đại Phát 
Tại sao Hàn Quốc phát triển rực rỡ còn Việt Nam thì không?
Tony Buổi Sáng – Blog Ký Giả – Theo Tin Tức Hàng Ngày – 8 April 2015
Năm 2004, Việt Nam cho chiếu bộ phim “Thời đại anh hùng” trong đó có đoạn, Tổng thống Park Chung-hee đã khóc vì thấy dân khổ quá. Ông tuyên bố sau 10 năm nữa sẽ có nhiều nước trên thế giới phải đến làm thuê cho Hàn Quốc, và sự thật đã đến với họ trong đó có Việt Nam.
Thập niên 60, Hàn Quốc là 1 trong những nước nghèo đói nhất châu Á. Năm 1968, người Hàn quyết định thay đổi giáo dục bằng cách bê nguyên sách giáo khoa của người Nhật về dịch sang tiếng Hàn để giảng dạy, ngoại trừ các môn xã hội như địa lý, lịch sử và văn học. Lúc đó cũng có nhiều người chỉ trích rằng, Hàn Quốc lẽ nào lại không tự soạn được một bộ sách giáo khoa, đây cũng bởi tính sĩ diện của họ rất cao.
Nhưng chính phủ vẫn quyết tâm thực hiện, vì để có được chương trình giáo dục đó, người Nhật đã mất cả trăm năm cải biên cách đào tạo phương Tây sao cho phù hợp với đặc trưng của châu Á, bắt đầu từ thời Minh Trị Thiên Hoàng. Để rút ngắn thời gian, Hàn Quốc chẳng có cách nào ngoài việc lấy kinh nghiệm của người khác, và để dành thời gian và công sức lo việc khác nữa. Vì Hàn Quốc muốn trở thành một bản sao mới của Nhật, nền kinh tế dựa trên lòng tự hào dân tộc, tính kỷ luật và đạo đức của toàn thể xã hội.
Đúng 20 năm sau, năm 1988, Hàn Quốc đăng cai Olympic Seoul, cả thế giới không ai tin vào mắt mình khi thấy kỳ tích bên bờ sông Hàn. Ô tô, xe máy, dệt nhuộm, hoá chất, đóng tàu, điện tử, bánh kẹo… bên Nhật có cái gì thì bên này có cái đó mặc dù dù dân số chỉ bằng 1/3. Không ai biết trong 20 năm đó, cả dân tộc Hàn đã nắm chặt tay với quyết tâm thoát nghèo như thế nào, chỉ biết rằng trên tivi lúc đó chỉ có vẻn vẹn 2 chương trình là “dạy làm người” và “dạy làm ăn”; từ cái văn minh nhỏ xíu như nụ cười của một nhân viên bán hàng cho đến cách quản lý chi phí của một quán cà phê, cách tạo dựng một nhà máy.
Từ một dân tộc “xin việc”, tức các doanh nghiệp nước ngoài đến đặt nhà máy tại Hàn và thuê lao động tại đây, Hàn Quốc bắt đầu khan hiếm lao động và trở thành dân tộc đi “cho việc”, mà người xếp hàng “xin việc” lúc bấy giờ lại là người Trung Quốc, Thái Lan, Philippines. Hàn Quốc đã thành công trong việc tiếp nối Nhật Bản thành dân tộc đi “cho việc” người khác.
Năm 1988, pháo hoa thắp sáng 2 bờ sông Hàn, người Hàn Quốc ôm nhau cười trong nước mắt, hơn 100 quốc gia giàu có nhất trên thế giới miễn visa cho họ. Hàn Quốc giờ đây đã bước chân vào nhóm 24 quốc gia thịnh vượng nhất loài người. Nhưng thách thức mới lại xuất hiện, vì bây giờ không phải là Nhật Bản nữa, mà là Hồng Kông và Singapore, 2 cực hút nam châm của cả châu Á về tài chính, thương mại và giải trí.
Phim Hồng Kông tràn ngập thị trường và không có đối thủ. Ngay lập tức người Hàn tuyển chọn ra 2.000 sinh viên ưu tú nhất, cử sang Holywood, điên cuồng học hành, từ đạo diễn, diễn viên, phục trang đạo cụ… 4 năm sau tốt nghiệp, (năm 1992), những bộ phim đầu tay như: Cảm xúc, Mối tình đầu, Hoa cúc vàng,…với một thế hệ diễn viên đẹp từng milimet đã chinh phục được hàng triệu con tim.
Ngành làm phim đã phối hợp khéo léo với ngành thời trang, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng để xâm nhập vào các thị trường. Đại sứ quán Hàn Quốc tại các nước có nhiệm vụ dịch thuật ra tiếng địa phương và tặng không cho các đài truyền hình, tạo ra làn sóng Hanluy nổi tiếng. Người Nhật điên cuồng, người Trung Quốc điên đảo, các nước Đông Nam Á thì chỉ biết ụ pa ơi, ụ pa hỡi. Phim Hồng Kông bị đá văng ra khỏi thị trường cho thuê băng đĩa.
Vào năm 1988, ngoài 2.000 người đi Holywood để xây dựng công nghiệp điện ảnh thì cũng có ngần ấy người được cử sang Milan và Paris để học thời trang, mỹ phẩm. Các tập đoàn như xe Kia, Samsung, Hyundai còn thuê cả ê-kip thiết kế của các hãng xe Đức như Mercedes, BMW làm việc cho họ, với tham vọng xuất khẩu xe sang Mỹ và châu Âu. Muốn bán cho Tây thì bao bì nhãn mác phải có óc thẩm mỹ của Tây, chứ kiểu “tròn tròn xinh xinh” của dân châu Á, người Tây không thích, không bán được. Có những năm mẫu xe của
Hyundai bán chạy nhất ở Bắc Mỹ và châu Âu. Người Mỹ bắt đầu nhìn người Hàn với ánh mắt khác, ngưỡng mộ, ngạc nhiên và thích thú.
Ngoài ra, người Hàn cũng cử những sinh viên giỏi toán nhất nước theo học ngành tài chính ở các trường đại học lớn của Mỹ, với tham vọng Seoul sẽ thành một London, New York. Các quỹ đầu tư ra đời và họ tự tìm kiếm các nhà máy mới khởi nghiệp be bé để rót tiền vào, tham gia vào quản trị. Hộ không hề chỉ trích, chỉ góp sức góp trí để xây dựng. Một người Hàn giàu có là cả dân tộc Hàn giàu có.
Hệ thống bán lẻ Lotte phải có nghĩa vụ mang hàng hoá Hàn đi khắp nơi. Ông lớn Samsung bắt đầu tuyển dụng những sinh viên giỏi nhất châu Á để cho học bổng thạc sĩ miễn phí với điều kiện tốt nghiệp xong phải mấy năm phục vụ cho họ. Họ gom trí tuệ của cả châu Á để chinh phục thị trường điện thoại thông minh và máy tính bảng, cạnh tranh đối đầu với Apple, đối đầu với cả một tập thể trí tuệ thung lũng Silicone, cứ như Airbus của châu Âu cạnh tranh với Boeing vậy
Người Hàn Quốc, dù dân thường hay sếp lớn, tất tần tật mọi thứ họ dùng phải là “Made in Korea”, dù vào thập niên bảy mươi sản phẩm vô cùng kém cỏi và xấu xí. Nhưng nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm nhem nhuốc của thời khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà có sản phẩm tinh xảo sau này?
Tony nhớ lần đi Hàn đầu tiên, mùa thu năm 2005, bà chị ở Việt Nam cẩn thận ghi tên mấy nhãn hiệu mỹ phẩm ưa thích của chị ấy rồi nhắn mình mua giùm. Ở cửa hàng mỹ phẩm, cô bán hàng mặc bộ váy veston đen, chạy như bay lấy hết sản phẩm này đến sản phẩm khác cho Tony xem, đều là của Hàn cả. Do tiếng Anh không nói tốt nên cô cứ giải thích bằng tiếng Hàn đến lúc giọng khàn đặc. Đến lúc Tony lấy tay chỉ hộp phấn Lancom, thì cô thất vọng oà khóc. Cô khóc vì cô đã không thành công khi tình yêu nước của cô không thuyết phục được khách hàng. Tony nhìn cô ấy sững sờ, lẽ nào chỉ là 1 cô gái bán hàng bình thường mà có lòng yêu đất nước mãnh liệt thế sao? Tony thôi bèn mua mấy hộp mỹ phẩm của Hàn, dù chẳng biết có tốt không, vì kính phục quá. Lúc Tony bước ra khỏi cửa hàng, ngoái lại vẫn thấy cổ gập đầu cung kính.
Ngoài phố, gió bắt đầu lạnh, từng tốp học sinh chạy tập thể dục rầm rập trên vỉa hè, những chiếc áo khoác thêu cờ quốc gia ở sau lưng. Và Tony biết, sau lưng của mỗi công dân luôn là tổ quốc.
Tony Buổi Sáng
(Blog Ký Giả)