Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Chốn ‘Nhân Gian Không Thể Hiểu’

Nguồn : Vững Đại Phát

Little Saigon: Cuối năm, thăm mộ phần của những người nổi tiếng
WESTMINSTER, California - Người sống quanh Bolsa ai lại không biết Peek Family, nơi dừng chân cuối cùng của nhiều người, và có thể của chính chúng ta.
Ngày mới đến định cư nơi Little Saigon này, mỗi tuần không biết bao bận tôi ngược xuôi ngang đây, đưa con đến trường và tôi đi học.
Peek Family vì thế trở nên… quen, như thể tôi quen với con đường Bolsa, quen với con đường Bushard, quen với Westminster với Beach, Brookhurst và Moran.
Thế nên, quả thực, chưa bao giờ tôi nhìn ra màu buồn thiu nơi nghĩa trang này. Cố tìm, từ ngoài nhìn vào, cũng chỉ thấy cỏ xanh, mây trắng, và những đóa hoa nhiều màu, những chiếc bong bóng sặc sỡ chen bên bia mộ. Hơn nữa, không lúc nào lại không thấy bóng người ra vào, viếng thăm. Tự hỏi, không biết nghĩa trang có… buồn không?
Hơn chín năm gắn bó đi về, qua lại quanh Trạm Dừng Chân Cuối của nhiều người, cũng không ít lần tôi lái xe vào bên trong cánh cổng ở đường Bolsa lẫn con đường Beach, dự tang lễ những người quen biết. Nhưng hôm nay, ngày Chủ Nhật cuối tuần, sau một ngày mưa nhiều, gió lạnh, tôi, mới lần đầu tiên, ôm trên tay một bó hồng cùng thiên nhang, lững thững bước vào nghĩa trang, trong tâm tình người đi viếng mộ.
Nói là đi viếng, nhưng thực tình tôi chưa có người thân nào yên nghỉ trên mảnh đất này. Tôi cũng chưa được ai dạy qua về cách đi viếng mộ. Tôi tự đi theo cách của mình – một người cầm bút, đi tìm thăm những văn nhân thi sĩ, những người từng dùng chữ mưu sinh, cả viết lách lẫn làm thơ, soạn nhạc.
Chủ Nhật gần cuối năm trong nghĩa trang ngập nắng. Nắng lên sau ngày mưa. Nắng rải đầy lối đi, phủ đầy bia mộ. Nắng rực rỡ.
Peek Family không có cái hun hút đến thảng thốt, rợn người như khi đặt chân đến những nghĩa trang người tị nạn ở Kuku, ở Air Raya, Indonesia. Peek Family không có cái bi ai, nức nở khi tiếng kinh của người Hồi Giáo trong chiều vắng vang lên, nguyện hồn người nơi viễn xứ.
Peek Family có hơi ấm, có bước chân, có tiếng thì thầm, có bàn tay ve vuốt, vỗ về, trò chuyện.
Ði trong Peek Family, giữa những thảm cỏ tươi xanh, giữa những đóa hoa nhiều màu ai đó cắm bên bia mộ, và giữa những người thuộc nhiều sắc dân khác nhau, đang ngồi bên người thân của họ, như chuyện trò, như kể nhau nghe những câu chuyện ngày nào hãy còn dang dở, tôi thấy một nỗi gì bình an đến lạ.Ngôi mộ người không quen tôi dừng lại đầu tiên là nơi an nghỉ của nhà văn Mai Thảo.
Mai Thảo được nhiều người biết đến lúc sinh thời và cả khi mất đi, mười mấy năm rồi, tên ông thoảng tôi vẫn còn nghe nhắc, trong bạn bè ông. Tuy nhiên, nhiều người biết, không có nghĩa là tôi cũng biết, hay làm ra vẻ biết. Tôi không biết gì về ông hết, tôi cũng chưa từng đọc qua một tác phẩm văn chương nào của ông. Nhưng nghe nói ngày ông mất, người ta phải xếp hàng dài lắm và lâu lắm mới đến viếng ông được, vậy là đủ để tôi ngưỡng mộ ông rồi.
Nơi ông nằm, hướng thẳng ra đường Bolsa. Tôi đứng nhìn hàng chữ được viết nơi ông đang ngủ:
“Anh, chị, em và các cháu, Các văn nghệ sĩ và bạn thân
Vô cùng thương tiếc nhà văn Mai Thảo – Nguyễn Ðăng Quý, pháp danh Minh Tâm (8.6.1927 – 10.1.1998)”
Ông không có gia đình riêng, của chính ông?
201900-NV-Mai-Thao-01-4
Tôi ngồi xuống. Vài chiếc lá khô. Ít cọng cỏ vàng, vương vãi nơi mặt ông trên tấm bia. Tôi đưa tay phủi. Nhẹ nhẹ. Tôi cảm giác như tôi đang phủi bụi rơi trên mặt người; phủi nhẹ, kẻo đau!
Mặt mộ không sáng bóng, như dăm ba ngôi mộ gần đó. Tôi cũng không biết là cần phải mang theo chiếc khăn hay cuộn khăn giấy nhúng nước thì mới làm cho mặt nhà mồ sáng mới.
Thôi, đành cứ dùng bàn tay mà phủi đi ít nhiều dấu vết của sự quên lãng.
Mai Thảo là nhà văn, sau này ông làm thơ. Thế nên “ngôi nhà cuối cùng” của ông được chạm bài thơ:
“Thế giới có triệu điều không thể hiểu
Càng hiểu không ra lúc cuối đời
Chẳng sao, khi đã nằm trong đất
Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi”
Tôi đặt lên mộ ông vài cành hồng. Tôi thắp ba nén nhang. (Sau, tôi nghe người bạn nói, Mai Thảo không thích thắp nhang, ông chỉ muốn uống rượu và đốt thuốc mà thôi). Lần sau có trở lại, tôi sẽ mang kính ông ly rượu. Còn hôm nay, ngửi mùi nhang trầm, biết đâu ông cũng thấy dễ chịu, nhất là nhang được đốt từ một đứa chưa từng đọc văn chương ông, nhưng mà nó biết tên ông. Vậy là vui, và ấm lòng. “Ðọc ở sao trời sẽ hiểu thôi” là hiểu những điều giản dị như thế, ông nhỉ!
Tôi đặt thêm vài cành hoa, đốt thêm vài nén nhang cho những láng giềng của nhà văn Mai Thảo.
Tôi tiếp tục lang thang, tìm. “Gần gần nơi Mai Thảo là nơi ông Ðỗ Ngọc Yến nằm.” Một đồng nghiệp lớn tuổi nói với tôi qua phone.
Gần đấy có một gia đình nhiều thế hệ, hơn cả 15 người, đứng ngồi quây quần bên nấm mộ, như thể họ đang pinic. Không ồn ào, nhưng không vương nét sầu đau. Người đang ngủ dưới kia, nhìn thấy thân nhân mình như thế, âu cũng vui lây, trong sự ấm áp, sum vầy. Nơi góc kia, có ba người phụ nữ, ra vẻ như một bà mẹ và hai người con gái, cũng không là trẻ, đang lúi cúi chưng hoa, nhặt cỏ, lau chùi nấm mộ người thân. Một ông bác lớn tuổi người Việt cũng đang chăm sóc một nấm mồ hướng ra con đường Bolsa đang ngược xuôi xe qua lại.
Ði “gần gần” hoài chưa nhìn thấy mộ người sáng lập nhật báo Người Việt, tôi đi trở lại nơi mình đậu xe để cất bớt những thứ lỉnh kỉnh.
Thật lạ lùng, xe vừa đóng cửa, dợm bước đi lại chỗ cũ để tìm lần nữa thì lại nhìn thấy tấm bia ghi “Rêmi Ðỗ Ngọc Yến” ngay trước mặt mình. Tôi mỉm cười.
Vẫn bó hoa và nhang trên tay, tôi đứng yên nhìn nơi yên nghỉ của “bác Yến” – như cách gọi của các đồng nghiệp trẻ của tôi.
Mộ bác Yến là ngôi mộ ít chữ nhất trong số những ngôi mộ tôi ghé thăm.
“Rêmi Ðỗ Ngọc Yến
May 25, 1941 Sài Gòn Việt Nam – August 17, 2006 California USA”
201900-NV-Do-Ngoc-Yen-02-4
Bên dưới là hình một quyển sách mở ra, gối đầu lên một quyển đóng.
Chỉ vậy. Rất giản dị. Ðôi dòng chữ đó nằm lệch hết về bên trái, phần bên phải của tấm bia có lẽ được dành cho một người – người mà ông yêu nhất.
Nhiều hoa tươi được trồng, được cắm quanh mộ Rêmi Ðỗ Ngọc Yến. Ðưa tay phủi đi những chiếc lá rụng còn bám trên thành mộ sau ngày mưa gió, tôi lại đặt dăm cành hoa hồng cạnh chân dung ông. Tôi biết ông là người Công Giáo, nhưng tôi vẫn muốn thắp cho ông nén nhang để tỏ lòng với người đã khuất theo phong tục tôi được dạy.
Chụp hình nơi ông đang ngủ, tôi thấy bóng tôi in trên vách mộ. Nghiêng sang bên chụp lại. Một làn gió mạnh tự dưng tạt tới, khói nhang tỏa nhòa trước di ảnh người khai sinh ra tờ báo Người Việt.
Tôi đứng yên nhìn ông đang cười, qua tấm chân dung. Tôi nghe nhiều chuyện kể về ông lắm, chuyện kể với sự thán phục lẫn chuyện kể để bật cười thích thú với câu kết luận, “Ðó là Ðỗ Ngọc Yến.”
Tôi đọc tin ông mất khi tôi sang Mỹ được một năm, đang làm việc tại một trung tâm chăm sóc người già. Tôi nhớ tôi có đọc được những tranh cãi quanh chuyện có nên lấy tên ông đặt tên cho một con đường.
Một năm sau ngày ông mất, tôi trở thành người của Người Việt. Tôi không có cơ may để có bất cứ kỷ niệm nào với ông như nhiều đồng nghiệp tôi có. Nhưng tôi biết tôi cần cám ơn ông vì nhờ ông mà hôm nay tôi có chỗ để viết những điều mình muốn viết, gửi đến mọi người.
Ghé qua thăm láng giềng bác Yến, thật bất ngờ khi thấy “cách nhà bác Yến một căn” là nơi ở thiên thu của vợ chồng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ và ca sĩ Nguyễn Thúy Nga.
Cuộc đời dù không mong nhưng quả thật có nhiều điều ngẫu nhiên đến lạ lùng.
Bài hát không là “nhạc đỏ” mà tôi được nghe đầu tiên là “Ðường xưa lối cũ.” Tôi nhớ khi đó tôi còn nhỏ lắm, ngồi trên gác học bài khuya, nghe dưới nhà ba tôi mở bản nhạc này, thật nhỏ (vì không muốn bị bắt). Một âm điệu, một cảm xúc gì thật lạ, thật khác mỗi lần tôi lắng tai nghe
“Ðường xưa lối cũ, có em tôi tóc xanh bay mơ màng.
Ðường chiều dịu nắng, bóng em đi áo nâu in đường trăng.
Ðường xưa lối cũ, có mẹ tôi trông con trong hôn hoàng.
Lòng già thương nhớ, nhớ đến tôi, lom khom đi tìm con…”201900-NV-Hoang-Thi-Tho-03-4
Cũng trong những lúc đêm xuống thật sâu như thế, tôi nghe văng vẳng từ chiếc radio của ba tôi những câu hát đưa lòng mình đến chốn nào đó thanh bình, nhẹ nhàng và êm ái mênh mông.
“Em gái vườn quê, cuộc đời trong trắng, dầm mưa dãi nắng mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.
Anh biết mặt em, một chiều bên thềm, giọng hò êm đềm,và đôi mắt em lóng lánh sau rèm…”
Lớn lên, khi Sài Gòn dễ thở hơn, tôi mới biết giọng hát từng quyến rũ tôi nhiều đêm đó là của Thanh Tuyền và “Ðường Xưa Lối Cũ,” “Duyên Quê” là của Hoàng Thi Thơ, người viết luôn “Tà Áo Cưới,” “Trăng Rụng Xuống Cầu,” “Gạo Trắng Trăng Thanh,” “Ðám Cưới Trên Ðường Quê,” “Tình Ta Với Mình”…
Biết là biết vậy, đâu ngờ, hôm nay, trong lần đầu tiên làm người đi viếng mộ, tôi lại đứng trước mặt ông, nhìn ông mỉm cười. Cũng hôm nay tôi mới biết mặt ông, người nhạc sĩ cùng với Phạm Duy, từng bị lệnh cấm trở về quê hương rất nhiều năm sau 1975, là một người có nụ cười rất tươi và ánh mắt rất vui.
Tôi tiếp tục đi bộ hướng vào bên trong như kiểu từ Bolsa rẽ về đường Hoover rồi sẽ đến Westminster rồi lại gặp đường Beach, để đi tìm thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên và Nguyên Sa, “hai ông nhà thơ đó nằm gần nhau” – người đồng nghiệp lớn tuổi hướng dẫn tôi như thế.
Lững thững đi, không có gì vội, vừa đi vừa nhìn vừa ngắm sự đa dạng trong Peek Family. Sự chăm chút sạch sẽ hay sự bạc màu cũ kỹ, sự sang trọng hay sự đơn sơ của từng ngôi mộ tôi qua cũng không khác gì lắm với nét muôn màu của những ngôi nhà trong thế giới người sống. Có khác chăng chỉ là sự tĩnh lặng hay ồn ào tiếng nói, tiếng cười, cả tiếng cãi vã.
Tôi dừng lại bên một “ngôi nhà” thật đẹp, thật sang, thật khác những nơi tôi vừa đi qua. Nơi đây như một mảnh vườn được chăm chút chu đáo, lá xanh rì tươi tốt chen cùng cúc vàng, cúc tím, lan trắng, cau kiểng, và nhiều cây tôi không biết tên.
Tôi nhìn thấy “Nhạc sĩ Nhật Ngân – Trần Nhật Ngân” trên nấm mộ dài bằng đá hoa cương trắng trước khi đọc dòng chữ “Nơi an nghỉ ngàn thu nhạc sĩ Nhật Ngân” trên tấm bia bằng đá hoa cương đen.
Bần thần một thoáng. Tôi nhớ hình ảnh ông ôm chiếc guitar say sưa hát, có cả nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang, có cả ca sĩ (Lê) Uyên Phương, có cả nhạc sĩ Trần Quang Lộc từ Việt Nam sang, trong một đêm nhạc tổ chức vào một tối cũng những ngày cuối năm, gần Tết. Ðó là đêm nhạc hay nhất tôi từng được xem, đó là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông, dù rằng không biết bao lần, những “Xuân Này Con Không Về,” “Qua Cơn Mê,” “Ðêm Nay Ai Ðưa Em Về,” “Tôi Ðưa Em Sang Sông,”… khiến tôi rơi nước mắt
201900-NV-Nhat-Ngan-04-4
“Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẽ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà”
Dẫu mộ ông nhiều hoa, tôi vẫn muốn đặt thêm lên những cành hồng tôi có, để từ hôm nay, mỗi lần nghêu ngao “Nếu tôi đừng đưa em, thì chắc đôi mình không quen/Ðừng bước chung một lối mòn, có đâu chiều nay tôi buồn,” tôi sẽ lại nhớ đến ông với nét cười rất duyên và đêm nhạc trong buổi tối lạnh mà dư âm của nó đến giờ vẫn chưa thể quên.
Sau khi tình cờ ghé đến căn nhà đẹp của Nhật Ngân, tôi ngồi bệt xuống trên bãi cỏ, cạnh tấm mộ chìm dưới đất, cũ màu. Tôi thấy dòng chữ “Thi nhân Nguyễn Tất Nhiên.”
Tác giả của lời nhạc “Thà Như Giọt Mưa” với những câu “người từ trăm năm, về phai tóc nhuộm / ta chạy mù đời, ta chạy tàn hơi /quỵ té trên đường rồi /sợi tóc vương chân người” hay “người từ trăm năm, về như dao nhọn /dao vết ngọt đâm, ta chết trầm ngâm /dòng máu chưa kịp tràn,” tự dứt bỏ cuộc đời khi mới bước qua tuổi 40 đôi ba tháng. Trẻ hơn tôi bây giờ.
Dòng chữ trên phần mộ:
“Vô cùng thương tiếc Thi Nhân Nguyễn Tất Nhiên
Anh chị em báo chí, văn nghệ sĩ, thân hữu, bố mẹ, và các em lập mộ 1992”
Lại đưa tôi đến những suy nghĩ vẩn vơ.
Phải mất đến 4 lần chỉ dẫn, nhà báo Hoàng Mai Ðạt mới giúp tôi tìm được “ngay gần nơi đài phun nước đó, có cây như cây bồ đề lớn lắm, Nguyễn Tất Nhiên nằm đó.”
201900-NV-Nguyen-Tat-Nhien-05-4
Nguyễn Tất Nhiên chìm vào giấc ngủ say trong một ngôi chùa, và giờ đây, được nằm mãi dưới bóng cây bồ đề, mặt hướng ra con đường mang tên Biển…
“Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
Phải đau theo từng hớp rượu tàn
Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định!”
Những dòng thơ Nguyễn Tất Nhiên viết 20 năm trước ngày ông “khép mắt sớm hơn giờ thiên định” được ai đó chọn khắc trên mộ ông như lời giải mã cho cuộc đời vốn không êm đềm của người thi sĩ.
“Ðưa em về dưới mưa, chiếc xe lăn dốc già
Ðưa em về dưới mưa, áo em bùn lưa thưa
Ðưa em về dưới mưa, hỡi cô em bé nhỏ
ôi duyên tình đã qua, có bao giờ không xưa?”
Sẽ không xưa bao giờ, với những duyên tình đã qua, tôi muốn nói với Nguyễn Tất Nhiên như thế sau khi đặt xuống những cành hồng cuối cùng còn có trên tay.
“Từ chỗ Nguyễn Tất Nhiên, quay lưng về đường Beach, bước đi chừng mấy chục bước sẽ thấy Ðỗ Mộng Nam, kế bên là Nguyên Sa.” Hoàng Mai Ðạt tiếp tục chỉ cho tôi đường đi.
Cạnh mộ Nguyên Sa có chậu cúc vàng. “Bao giờ cũng có chậu cúc vàng bên mộ Nguyên Sa,” một người bạn nói cho tôi biết. “Ai đặt vậy?” – “Không biết. Chỉ biết từ câu thơ ngày xưa ‘Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc…’ mà giờ đây người ta luôn nhận ra có hoa cúc vàng bên mộ ông.”
201900-NV-Nguyen-Sa-06-4
“Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?”
Bài thơ khắc bên dưới dòng chữ “Thi sĩ Nguyên Sa.”
Cỏ hoang không có trong Peek Family. Peek Family có nhịp sống, có hơi thở, có tiếng nói, giọng cười, có bước chân đi của hiện tại. Rõ ràng, “tóc vàng” từ hoa cúc vẫn là lời kinh dâng đến mỗi ngày cho người vẫn ngủ say.
Gần “nơi an nghỉ vĩnh cửu” của tác giả “Tháng Sáu Trời Mưa,” có một người phụ nữ đang xem bói cho một người đàn ông, cạnh một ngôi mộ họ vừa chăm sóc, rất thành tâm.
Ðời dương và đời âm dường như rất gần nhau nơi đây. Qua khỏi nơi yên bình này, tôi lại hòa vào dòng đời đang hối hả. Nắng rạng rỡ trên đầu, sau một ngày mưa lạnh.
( Ngọc Lan/Người Việt – 22 Feb 2015 )

Người Việt Bạo Lực ??

Nguồn : Vững Đại Phát

Việt Nam : Văn hóa thấp ắt gây ra bạo lực
Trong dịp Tết Nguyên đán, đã có hơn 6.200 người phải nhập viện do đánh nhau, và ít nhất 15 người tử vong, theo Tuổi Trẻ dẫn báo cáo của Bộ Y tế. Phóng viên ảnh Đoàn Bảo Châu gọi đây là con số ”khủng khiếp và cho thấy đây là vấn đề nghiêm trọng của xã hội Việt Nam”.
“Tôi tin rằng hàng ngày trong xã hội Việt Nam chúng ta vẫn luôn có những xô xát kiểu như vậy. Có xô xát nhưng người ta không thống kê đấy thôi, và tôi nghĩ con số cũng sẽ rất lớn,” anh nói trong cuộc phỏng vấn với BBC Tiếng Việt hôm 25/02.
Theo phóng viên và cũng là nhà văn, nguyên nhân chính là do nền “giáo dục giáo điều” không mang được những bài học thiết thực của cuộc sống vào trong giảng dạy, không đào tạo cho học sinh các kỹ năng sống.
Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu văn hóa học từ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh lại cho rằng, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử chỉ là cái ngọn, không phải gốc rễ của vấn đề.
Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm, “việc con người trở nên hung bạo hơn là tình trạng chúng ta đã chứng kiến từ nhiều năm nay rồi.”
Trong đó, ba nguyên nhân, bối cảnh chính gây ra tình trạng này là việc phát triển kinh tế thị trường không gắn liền với phát triển văn hóa, pháp luật chưa nghiêm minh và người dân mất lòng tin vào hệ thống pháp quyền dẫn đến việc tự giải quyết những mâu thuẫn riêng; và cách quản lý, thực thi các chính sách văn hóa thiếu hiệu quả.
Ông Thêm phân tích, trong bối cảnh kinh tế thị trường, chủ nghĩa duy vật chất lôi kéo con người, trong khi đó yếu tố tinh thần, yếu tố đạo đức, vai trò của tinh thần đạo đức cũng được nói đến nhiều, nhưng mới chỉ ở mức chính sách, văn kiện mà chưa có biện pháp để chấn chỉnh để đưa vào thực tế.
“Kinh tế, dù là kinh tế thị trường hay kinh tế kiểu gì đi nữa, thì kinh tế và văn hóa phải đi đôi với nhau, sự giàu có phải đi cùng với trí tuệ và bản lĩnh,” Giáo sư Thêm nói.
Tác giả tiểu thuyết Khói cũng cho rằng, văn hóa thấp là một trong những nguyên nhân gây ra bạo lực, do thanh niên ngày càng ít được tiếp xúc với sách vở, nghệ thuật.
Nhưng với giáo sư Thêm, người ta vẫn chưa hiểu thật đầy đủ khái niệm văn hóa. Sách vở chỉ là những biểu hiện của văn hóa, còn giá trị sâu sa hơn đằng sau đó là giá trị tinh thần, mà trên hết, là giá trị con người, giá trị đạo đức, giá trị sống.
“Giá trị con người [ở Việt Nam] đã bị xuống cấp một cách rất nghiêm trọng, cái đó thì mọi người cũng đã đều thấy và các nghị quyết của Trung ương cũng đã khẳng định, thì đấy mới là cái quan trọng, cái văn hóa mà chúng ta cần quan tâm.”
Báo cáo của Bộ Y tế do báo Tuổi Trẻ trích dẫn một trong những nguyên nhân gây xô xát trong dịp từ ngày 27 tháng Chạp tới ngày Mùng 4 Tết là rượu say, tuy nhiên, phóng viên ảnh lại coi rượu chỉ là một chất xúc tác, một kiểu ‘đồng phạm’, và chỉ có phần nào vai trò trong toàn bộ vấn đề.
‘Tự xử’
Trả lời câu hỏi của BBC hôm 25/02 về việc liệu thói quen ‘tự xử’ của người Việt có phải xuất phát từ cuộc chiến tranh nhân dân, và nay đến thời bình, người dân cũng được khuyến khích, tuyên dương bắt cướp, viện sỹ Trần Ngọc Thêm nói:
“Một trong những nguyên nhân mà sở dĩ Việt Nam thắng được là nhờ sự linh hoạt, sự tham gia của toàn dân. “Nếu như sức sáng tạo tự phát để chống giặc ngoại xâm đó lại tiếp tục duy trì trong thời bình thì rất nguy hiểm, nó sẽ dẫn đến tình trạng vô tổ chức không quản lý được.”
Thêm vào đó, “ranh giới giữa thế nào là tốt, thế nào là xấu, thế nào là được, thế nào là không được thì không có ranh giới cụ thể gì để phân biệt.
“Trên thực tế thì nhiều trường hợp trình báo không mang lại kết quả, thậm chí người trình báo còn phải chịu phiền hà thêm nên mới dẫn đến chuyện tự xử.
“Trong vụ trộm chó chẳng hạn, nếu công an làm việc tốt để bảo vệ tài sản của người dân, trong trường hợp này là con chó, và xử lý những kẻ trộm chó một cách thỏa đáng, thì đã không có cảnh cả một làng kéo ra để đánh, để giết kẻ trộm chó dã man như vậy.”
Anh Đoàn Bảo Châu thì phân tích, việc trải qua nhiều lần chiến tranh có thể giúp người Việt Nam có ưu điểm là “trở thành những chiến binh rất tốt”, nhưng có thể đây cũng chính là điều khiến việc sử dụng bạo lực Việt Nam đã trở thành “thói quen”.
Và trong khi phóng viên ảnh cho rằng sẽ còn mất rất nhiều thời gian, công sức và cần có khối lãnh đạo dám nhìn thẳng vào sự thật thì Việt Nam mới có thể cải thiện được văn hóa, Giáo sư Thêm lại lạc quan hơn, ông tin Việt Nam sẽ cải thiện được những giá trị tinh thần trong tương lai.
Một trong những cách giải quyết là xây dựng hệ giá trị định hướng văn hóa, mà các nước Đông Nam Á đã xây dựng được từ nhiều năm nay.
“Công cuộc hội nhập hiện nay, toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhìn chung là được, hay bị chi phối bởi văn hóa phương Tây khá nhiều. Cho nên các quốc gia ở những khu vực càng có nhiều khác biệt so với văn hóa đô thị, văn hóa công nghiệp của phương Tây càng gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi hệ giá trị.”
Và điều quan trọng nhất, là phải có được hệ thống pháp luật nghiêm minh, công bằng, khiến người dân tin tưởng, tôn trọng pháp luật, “không dám lờn với pháp luật nữa”. “Thực sự người Việt Nam hoàn toàn không phải đến mức không thay đổi được,” theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm.
(Theo BBC – 26 Feb 2015)

'28/02/2015
Người Việt Bạo Lực ??
Nguồn : gocnhinalan.com

Việt Nam : Văn hóa thấp ắt gây ra bạo lực
Trong dịp Tết Nguyên đán, đã có hơn 6.200 người phải nhập viện do đánh nhau, và ít nhất 15 người tử vong, theo Tuổi Trẻ dẫn báo cáo của Bộ Y tế. Phóng viên ảnh Đoàn Bảo Châu gọi đây là con số ”khủng khiếp và cho thấy đây là vấn đề nghiêm trọng của xã hội Việt Nam”.
“Tôi tin rằng hàng ngày trong xã hội Việt Nam chúng ta vẫn luôn có những xô xát kiểu như vậy. Có xô xát nhưng người ta không thống kê đấy thôi, và tôi nghĩ con số cũng sẽ rất lớn,” anh nói trong cuộc phỏng vấn với BBC Tiếng Việt hôm 25/02.
Theo phóng viên và cũng là nhà văn, nguyên nhân chính là do nền “giáo dục giáo điều” không mang được những bài học thiết thực của cuộc sống vào trong giảng dạy, không đào tạo cho học sinh các kỹ năng sống.
Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu văn hóa học từ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh lại cho rằng, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử chỉ là cái ngọn, không phải gốc rễ của vấn đề.
Theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm, “việc con người trở nên hung bạo hơn là tình trạng chúng ta đã chứng kiến từ nhiều năm nay rồi.”
Trong đó, ba nguyên nhân, bối cảnh chính gây ra tình trạng này là việc phát triển kinh tế thị trường không gắn liền với phát triển văn hóa, pháp luật chưa nghiêm minh và người dân mất lòng tin vào hệ thống pháp quyền dẫn đến việc tự giải quyết những mâu thuẫn riêng; và cách quản lý, thực thi các chính sách văn hóa thiếu hiệu quả.
Ông Thêm phân tích, trong bối cảnh kinh tế thị trường, chủ nghĩa duy vật chất lôi kéo con người, trong khi đó yếu tố tinh thần, yếu tố đạo đức, vai trò của tinh thần đạo đức cũng được nói đến nhiều, nhưng mới chỉ ở mức chính sách, văn kiện mà chưa có biện pháp để chấn chỉnh để đưa vào thực tế.
“Kinh tế, dù là kinh tế thị trường hay kinh tế kiểu gì đi nữa, thì kinh tế và văn hóa phải đi đôi với nhau, sự giàu có phải đi cùng với trí tuệ và bản lĩnh,” Giáo sư Thêm nói.
Tác giả tiểu thuyết Khói cũng cho rằng, văn hóa thấp là một trong những nguyên nhân gây ra bạo lực, do thanh niên ngày càng ít được tiếp xúc với sách vở, nghệ thuật.
Nhưng với giáo sư Thêm, người ta vẫn chưa hiểu thật đầy đủ khái niệm văn hóa. Sách vở chỉ là những biểu hiện của văn hóa, còn giá trị sâu sa hơn đằng sau đó là giá trị tinh thần, mà trên hết, là giá trị con người, giá trị đạo đức, giá trị sống.
“Giá trị con người [ở Việt Nam] đã bị xuống cấp một cách rất nghiêm trọng, cái đó thì mọi người cũng đã đều thấy và các nghị quyết của Trung ương cũng đã khẳng định, thì đấy mới là cái quan trọng, cái văn hóa mà chúng ta cần quan tâm.”
Báo cáo của Bộ Y tế do báo Tuổi Trẻ trích dẫn một trong những nguyên nhân gây xô xát trong dịp từ ngày 27 tháng Chạp tới ngày Mùng 4 Tết là rượu say, tuy nhiên, phóng viên ảnh lại coi rượu chỉ là một chất xúc tác, một kiểu ‘đồng phạm’, và chỉ có phần nào vai trò trong toàn bộ vấn đề.
‘Tự xử’
Trả lời câu hỏi của BBC hôm 25/02 về việc liệu thói quen ‘tự xử’ của người Việt có phải xuất phát từ cuộc chiến tranh nhân dân, và nay đến thời bình, người dân cũng được khuyến khích, tuyên dương bắt cướp, viện sỹ Trần Ngọc Thêm nói:
“Một trong những nguyên nhân mà sở dĩ Việt Nam thắng được là nhờ sự linh hoạt, sự tham gia của toàn dân. “Nếu như sức sáng tạo tự phát để chống giặc ngoại xâm đó lại tiếp tục duy trì trong thời bình thì rất nguy hiểm, nó sẽ dẫn đến tình trạng vô tổ chức không quản lý được.”
Thêm vào đó, “ranh giới giữa thế nào là tốt, thế nào là xấu, thế nào là được, thế nào là không được thì không có ranh giới cụ thể gì để phân biệt.
“Trên thực tế thì nhiều trường hợp trình báo không mang lại kết quả, thậm chí người trình báo còn phải chịu phiền hà thêm nên mới dẫn đến chuyện tự xử.
“Trong vụ trộm chó chẳng hạn, nếu công an làm việc tốt để bảo vệ tài sản của người dân, trong trường hợp này là con chó, và xử lý những kẻ trộm chó một cách thỏa đáng, thì đã không có cảnh cả một làng kéo ra để đánh, để giết kẻ trộm chó dã man như vậy.”
Anh Đoàn Bảo Châu thì phân tích, việc trải qua nhiều lần chiến tranh có thể giúp người Việt Nam có ưu điểm là “trở thành những chiến binh rất tốt”, nhưng có thể đây cũng chính là điều khiến việc sử dụng bạo lực Việt Nam đã trở thành “thói quen”.
Và trong khi phóng viên ảnh cho rằng sẽ còn mất rất nhiều thời gian, công sức và cần có khối lãnh đạo dám nhìn thẳng vào sự thật thì Việt Nam mới có thể cải thiện được văn hóa, Giáo sư Thêm lại lạc quan hơn, ông tin Việt Nam sẽ cải thiện được những giá trị tinh thần trong tương lai.
Một trong những cách giải quyết là xây dựng hệ giá trị định hướng văn hóa, mà các nước Đông Nam Á đã xây dựng được từ nhiều năm nay.
“Công cuộc hội nhập hiện nay, toàn cầu hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa, nhìn chung là được, hay bị chi phối bởi văn hóa phương Tây khá nhiều. Cho nên các quốc gia ở những khu vực càng có nhiều khác biệt so với văn hóa đô thị, văn hóa công nghiệp của phương Tây càng gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển đổi hệ giá trị.”
Và điều quan trọng nhất, là phải có được hệ thống pháp luật nghiêm minh, công bằng, khiến người dân tin tưởng, tôn trọng pháp luật, “không dám lờn với pháp luật nữa”. “Thực sự người Việt Nam hoàn toàn không phải đến mức không thay đổi được,” theo Giáo sư Trần Ngọc Thêm.
(Theo BBC – 26 Feb 2015)'

Dấu Hiệu Bất Thường Của Nền Kinh Tế?

Nguồn : Vững Đại Phát

Tăng tín dụng bất thường đối phó giảm phát?
Nam Nguyên – RFA – 14 Mar 2015
Chính phủ Việt Nam cố gắng trấn an người dân là nền kinh tế không có dấu hiệu giảm phát, mặc dầu chỉ số giá tiêu dùng CPI giảm 4 tháng liên tiếp và đặc biệt lần đầu tiên sau 10 năm tháng Tết có chỉ số giá âm.
Theo Vietnam Net giá tiêu dùng tháng 2/2015 có chỉ số âm 0,05% ngược với bình thường tháng tết giá cả luôn luôn tăng mạnh. Ngoài ra 3 tháng trước đó chỉ số giá tiêu dùng liên tục âm hơn 0,2% mỗi tháng.
Nhận định về tình trạng vừa nêu, Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế từ Hà Nội nhận định:
“Nó biểu hiện rất nhiều vấn đề, thứ nhất sản xuất chưa thực sự khởi sắc, doanh nghiệp còn khó khăn cho nên thu nhập của người lao động còn thấp; chính vì vậy sức mua còn hạn chế. Thứ hai là qua việc sản xuất còn khó khăn, hàng tồn kho còn nhiều cho nên các doanh nghiệp phải hạ giá.
Việc giảm giá vừa qua thực chất không phải do năng suất, do chất lượng mà do nhiều nguyên nhân khác, không phải do tăng trưởng phát triển của nền kinh tế. Cho nên họp Chính phủ vừa qua thì đã bàn xem có phải là giảm phát hay không? Thực chất thì chưa phải giảm phát, nhưng nó biểu hiện một nền sản xuất chưa thực sự khởi sắc mà còn biểu hiện sự trì trệ của nó và nếu nó kéo dài thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng, nó là biểu hiện không tốt của nền kinh tế.”
Theo báo chí chính thức như Vietnam Net đưa tin, tại phiên họp Chính phủ ngày 2/3 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định, CPI giảm liên tiếp không phải là hiện tượng giảm phát của nền kinh tế, mà nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu, giá ga trong nước giảm mạnh theo giá thế giới. Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho rằng giá xăng dầu giảm đã tác động làm giảm chỉ số các nhóm hàng giao thông, nhà ở và vật liệu xây dựng. Ông Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư nhấn mạnh, giảm phát của nền kinh tế được phản ánh qua hiện tượng cung vượt cầu, dẫn tới suy giảm sản xuất trong nước. Tuy nhiên theo lời ông, tình hình sản xuất trong nước hai tháng đầu năm vẫn phát triển tốt, sức mua thể hiện qua tổng mức bán lẻ tăng cao.
Trao đổi với chúng tôi, Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa phó Hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội không đồng thuận với quan điểm lạc quan của Chính phủ: “Tôi cho đó là không tốt bởi vì thực sự nó đã tiến tới tình trạng giảm phát rõ ràng…Cần xem lại và có sự kích cầu đúng mức. Giá dầu chỉ là một phần thôi chứ không phải tất cả mọi người ai cũng ăn vào giá dầu. Cần xem lại nông nghiệp sản xuất thế nào, công nghiệp phát triển đến mức độ nào, chỉ nhìn một phía là hơi chủ quan. Bởi vì thực sự đời sống của dân cư có lên không, tình hình thu nhập của người dân như thế nào? chứ không chỉ nhìn vào giá cả… bán rau không có người mua, thịt thì hiếm người mua…chúng ta cho rằng như vậy là lạm phát giảm thế là tốt, cái đó không phải vậy…Một loạt các tỉnh biên giới vừa rồi chính phủ vẫn phải trợ cấp bao nhiêu gạo thóc lên trên đó…”
Giảm phát được hiểu là tình trạng giá cả nói chung trên thị trường bị giảm xuống liên tục. Nói cách khác giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm. Thông thường tình trạng giảm phát xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn và tổng cầu giảm.
Theo tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright TP.HCM được báo điện tử Saigon Times đưa lên mạng, giảm phát có hai loại tốt và xấu. Theo đó giảm phát tốt chỉ xảy ra trong thị trường tự do, năng suất cao làm giá thành hạ, khuyến khích người tiêu dùng mua nhiều hơn và kết quả là thành sản phẩm càng giảm hơn…hoặc do cạnh tranh những sản phẩm độc quyền bị đẩy giá lên cao phải chấp nhận giảm giá.
Tín dụng tăng bất thường
Vẫn theo tài liệu của Saigon Times “giảm phát không tốt xảy ra khi giá giảm nhưng số hàng bán không tăng. Các công ty phải giảm quy mô sản xuất và thải bớt nhân công. Trước nguy cơ mất việc, mọi người sẽ tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn, kết quả là giảm phát trở nên trầm trọngChính phủ Việt Nam không nhìn nhận tình trạng giảm phát hoặc nguy cơ giảm phát và đưa ra những số liệu màu hồng về sức mua và tổng mức bán lẻ tăng cao. Tuy vậy theo các chuyên gia kinh tế, khi một quốc gia có dấu hiệu giảm phát xấu, chính phủ thường đối phó bằng chính sách nới lỏng tiền tệ, như tăng cung tiền, giảm thuế hay điều chỉnh lãi suất.
“Lạm phát 3%-4% với một chính sách tiền tệ tương đối mở rộng hơn một chút thì có cơ sở cho nền kinh tế có thể phần nào phục hồi, dù rất là mong manh. Nền kinh tế Việt nam không có một mảng nào có sức bùng lên, chỉ có đầu tư nước ngoài vào là chính còn đầu tư trong nước chưa thấy có triển vọng gì mà phục hồi, trong khi hàng trăm nghìn doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, vì không đủ vốn tự có, không đủ vốn đi vay mà vay với lãi suất từ 10% trở lên thì doanh nghiệp cũng không thể nào phát triển được. Nói chung nền kinh tế Việt Nam chưa ra khỏi tình trạng bế tắc.”
Phải chăng là một sự trùng hợp đáng chú ý, khi báo chí nhà nước đưa tin tín dụng tăng vọt bất thường ngay đầu năm. Báo Đầu Tư ngày 9/3 trích lời TS Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương lý giải, sở dĩ tín dụng tăng trưởng dương ngay từ tháng 2/2015 vì doanh nghiệp đang kỳ vọng vào sự phục hồi kinh tế. Mặt khác, Tết năm nay rơi vào tháng 2 Dương lịch nên nhu cầu vay vốn cũng tăng mạnh.
Báo Đất Việt điện tử bản tin trên mạng ngày 9/3/2015 có bài “Tín dụng tăng bất ngờ: Nghịch dị doanh nghiệp phá sản tăng.” Tờ báo ghi nhận tình trạng khác thường, vì theo thông lệ những tháng đầu năm tín dụng thường tăng trưởng âm, giảm mạnh. Nhưng tháng 2/2015 theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tín dụng của cả nền kinh tế tăng 0,96%. Trong khi đó tình hình các doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngừng hoạt động vẫn đáng lo ngại. Theo Tổng cục Thống kê, trong hai tháng đầu năm 2015 có hơn 16.000 doanh nghiệp phải đăng ký giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Cụ thể trong 2 tháng, cả nước có 2.055 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Đồng thời có 14.040 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động, tăng 25% so với cùng kỳ.
Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh mà báo Đất Việt gọi là dị nghịch như thế thì dòng tín dụng tăng ngay đầu năm đang chảy vào đâu. Theo báo Đầu Tư, các chuyên gia cảnh báo, tín dụng tăng vọt trở lại sẽ đẩy hệ thống ngân hàng thương mại vào nhiều rủi ro. Trong đó, rủi ro lớn nhất của việc sống dựa vào quá nhiều tín dụng là nợ xấu. Bên cạnh đó, không loại trừ một số ngân hàng “kích” tín dụng ảo để “che” nợ xấu.
Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định về hiện tương tăng tín dụng bất thường:
“Tín dụng là hoạt động mạch máu lưu thông trong nền kinh tế cho nến nó có tác dụng rất lớn. Hiện nay nguồn vốn trong lãnh vực sản xuất thì thị trường chứng khoán Việt Nam rất èo uột, cho nên nguồn vốn chủ yếu từ ngân hàng mà quan trọng là tăng trưởng tín dụng. Trong năm nay mục tiêu người ta đề ra là tăng trưởng tín dụng từ 13%-15%.
Nếu tình hình kéo dài như thế này thì tăng trưởng tín dụng, nhưng chất lượng tín dụng và khả năng hấp thu của các doanh nghiệp như thế nào và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có tốt hay không? cái đó mới là cái quyết định hiệu quả của nền sản xuất, sự quyết định này mới là nhân tố quan trọng của nền kinh tế. Không thể trông vào tăng trưởng tín dụng mà phải xem xét chất lượng, hiệu quả của nó thì mới đánh giá được nền kinh tế có tốt hay không.”
Nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi như quan điểm của Chính phủ hay đang rơi vào giảm phát và có dấu hiện chính phủ đang tìm cách đối phó. Đây là vấn đề cần được các chuyên gia đánh giá đầy đủ với các số liệu cập nhật trong thời gian tới.
'16/03/2015
Dấu Hiệu Bất Thường Của Nền Kinh Tế?
Nguồn :gocnhinalan.com

Tăng tín dụng bất thường đối phó giảm phát?
Nam Nguyên – RFA – 14 Mar 2015
Chính phủ Việt Nam cố gắng trấn an người dân là nền kinh tế không có dấu hiệu giảm phát, mặc dầu chỉ số giá tiêu dùng CPI giảm 4 tháng liên tiếp và đặc biệt lần đầu tiên sau 10 năm tháng Tết có chỉ số giá âm.

Theo Vietnam Net giá tiêu dùng tháng 2/2015 có chỉ số âm 0,05% ngược với bình thường tháng tết giá cả luôn luôn tăng mạnh. Ngoài ra 3 tháng trước đó chỉ số giá tiêu dùng liên tục âm hơn 0,2% mỗi tháng.

Nhận định về tình trạng vừa nêu, Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế từ Hà Nội nhận định:

“Nó biểu hiện rất nhiều vấn đề, thứ nhất sản xuất chưa thực sự khởi sắc, doanh nghiệp còn khó khăn cho nên thu nhập của người lao động còn thấp; chính vì vậy sức mua còn hạn chế. Thứ hai là qua việc sản xuất còn khó khăn, hàng tồn kho còn nhiều cho nên các doanh nghiệp phải hạ giá.

Việc giảm giá vừa qua thực chất không phải do năng suất, do chất lượng mà do nhiều nguyên nhân khác, không phải do tăng trưởng phát triển của nền kinh tế. Cho nên họp Chính phủ vừa qua thì đã bàn xem có phải là giảm phát hay không? Thực chất thì chưa phải giảm phát, nhưng nó biểu hiện một nền sản xuất chưa thực sự khởi sắc mà còn biểu hiện sự trì trệ của nó và nếu nó kéo dài thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng, nó là biểu hiện không tốt của nền kinh tế.”

Theo báo chí chính thức như Vietnam Net đưa tin, tại phiên họp Chính phủ ngày 2/3 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định, CPI giảm liên tiếp không phải là hiện tượng giảm phát của nền kinh tế, mà nguyên nhân chủ yếu là do giá xăng, dầu, giá ga trong nước giảm mạnh theo giá thế giới. Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho rằng giá xăng dầu giảm đã tác động làm giảm chỉ số các nhóm hàng giao thông, nhà ở và vật liệu xây dựng. Ông Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư nhấn mạnh, giảm phát của nền kinh tế được phản ánh qua hiện tượng cung vượt cầu, dẫn tới suy giảm sản xuất trong nước. Tuy nhiên theo lời ông, tình hình sản xuất trong nước hai tháng đầu năm vẫn phát triển tốt, sức mua thể hiện qua tổng mức bán lẻ tăng cao.

Trao đổi với chúng tôi, Giáo sư Tiến sĩ Vũ Văn Hóa phó Hiệu trưởng Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội không đồng thuận với quan điểm lạc quan của Chính phủ: “Tôi cho đó là không tốt bởi vì thực sự nó đã tiến tới tình trạng giảm phát rõ ràng…Cần xem lại và có sự kích cầu đúng mức. Giá dầu chỉ là một phần thôi chứ không phải tất cả mọi người ai cũng ăn vào giá dầu. Cần xem lại nông nghiệp sản xuất thế nào, công nghiệp phát triển đến mức độ nào, chỉ nhìn một phía là hơi chủ quan. Bởi vì thực sự đời sống của dân cư có lên không, tình hình thu nhập của người dân như thế nào? chứ không chỉ nhìn vào giá cả… bán rau không có người mua, thịt thì hiếm người mua…chúng ta cho rằng như vậy là lạm phát giảm thế là tốt, cái đó không phải vậy…Một loạt các tỉnh biên giới vừa rồi chính phủ vẫn phải trợ cấp bao nhiêu gạo thóc lên trên đó…”

Giảm phát được hiểu là tình trạng giá cả nói chung trên thị trường bị giảm xuống liên tục. Nói cách khác giảm phát là lạm phát với tỷ lệ mang giá trị âm. Thông thường tình trạng giảm phát xuất hiện khi kinh tế suy thoái hay đình đốn và tổng cầu giảm.

Theo tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright TP.HCM được báo điện tử Saigon Times đưa lên mạng, giảm phát có hai loại tốt và xấu. Theo đó giảm phát tốt chỉ xảy ra trong thị trường tự do, năng suất cao làm giá thành hạ, khuyến khích người tiêu dùng mua nhiều hơn và kết quả là thành sản phẩm càng giảm hơn…hoặc do cạnh tranh những sản phẩm độc quyền bị đẩy giá lên cao phải chấp nhận giảm giá.

Tín dụng tăng bất thường

Vẫn theo tài liệu của Saigon Times “giảm phát không tốt xảy ra khi giá giảm nhưng số hàng bán không tăng. Các công ty phải giảm quy mô sản xuất và thải bớt nhân công. Trước nguy cơ mất việc, mọi người sẽ tiết kiệm nhiều hơn và chi tiêu ít hơn, kết quả là giảm phát trở nên trầm trọngChính phủ Việt Nam không nhìn nhận tình trạng giảm phát hoặc nguy cơ giảm phát và đưa ra những số liệu màu hồng về sức mua và tổng mức bán lẻ tăng cao. Tuy vậy theo các chuyên gia kinh tế, khi một quốc gia có dấu hiệu giảm phát xấu, chính phủ thường đối phó bằng chính sách nới lỏng tiền tệ, như tăng cung tiền, giảm thuế hay điều chỉnh lãi suất.

“Lạm phát 3%-4% với một chính sách tiền tệ tương đối mở rộng hơn một chút thì có cơ sở cho nền kinh tế có thể phần nào phục hồi, dù rất là mong manh. Nền kinh tế Việt nam không có một mảng nào có sức bùng lên, chỉ có đầu tư nước ngoài vào là chính còn đầu tư trong nước chưa thấy có triển vọng gì mà phục hồi, trong khi hàng trăm nghìn doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, vì không đủ vốn tự có, không đủ vốn đi vay mà vay với lãi suất từ 10% trở lên thì doanh nghiệp cũng không thể nào phát triển được. Nói chung nền kinh tế Việt Nam chưa ra khỏi tình trạng bế tắc.”

Phải chăng là một sự trùng hợp đáng chú ý, khi báo chí nhà nước đưa tin tín dụng tăng vọt bất thường ngay đầu năm. Báo Đầu Tư ngày 9/3 trích lời TS Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương lý giải, sở dĩ tín dụng tăng trưởng dương ngay từ tháng 2/2015 vì doanh nghiệp đang kỳ vọng vào sự phục hồi kinh tế. Mặt khác, Tết năm nay rơi vào tháng 2 Dương lịch nên nhu cầu vay vốn cũng tăng mạnh.

Báo Đất Việt điện tử bản tin trên mạng ngày 9/3/2015 có bài “Tín dụng tăng bất ngờ: Nghịch dị doanh nghiệp phá sản tăng.” Tờ báo ghi nhận tình trạng khác thường, vì theo thông lệ những tháng đầu năm tín dụng thường tăng trưởng âm, giảm mạnh. Nhưng tháng 2/2015 theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tín dụng của cả nền kinh tế tăng 0,96%. Trong khi đó tình hình các doanh nghiệp phá sản, giải thể, ngừng hoạt động vẫn đáng lo ngại. Theo Tổng cục Thống kê, trong hai tháng đầu năm 2015 có hơn 16.000 doanh nghiệp phải đăng ký giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Cụ thể trong 2 tháng, cả nước có 2.055 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Đồng thời có 14.040 doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động, tăng 25% so với cùng kỳ.

Câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh mà báo Đất Việt gọi là dị nghịch như thế thì dòng tín dụng tăng ngay đầu năm đang chảy vào đâu. Theo báo Đầu Tư, các chuyên gia cảnh báo, tín dụng tăng vọt trở lại sẽ đẩy hệ thống ngân hàng thương mại vào nhiều rủi ro. Trong đó, rủi ro lớn nhất của việc sống dựa vào quá nhiều tín dụng là nợ xấu. Bên cạnh đó, không loại trừ một số ngân hàng “kích” tín dụng ảo để “che” nợ xấu.

Phó Giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long nhận định về hiện tương tăng tín dụng bất thường:

“Tín dụng là hoạt động mạch máu lưu thông trong nền kinh tế cho nến nó có tác dụng rất lớn. Hiện nay nguồn vốn trong lãnh vực sản xuất thì thị trường chứng khoán Việt Nam rất èo uột, cho nên nguồn vốn chủ yếu từ ngân hàng mà quan trọng là tăng trưởng tín dụng. Trong năm nay mục tiêu người ta đề ra là tăng trưởng tín dụng từ 13%-15%.

Nếu tình hình kéo dài như thế này thì tăng trưởng tín dụng, nhưng chất lượng tín dụng và khả năng hấp thu của các doanh nghiệp như thế nào và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp có tốt hay không? cái đó mới là cái quyết định hiệu quả của nền sản xuất, sự quyết định này mới là nhân tố quan trọng của nền kinh tế. Không thể trông vào tăng trưởng tín dụng mà phải xem xét chất lượng, hiệu quả của nó thì mới đánh giá được nền kinh tế có tốt hay không.”

Nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi như quan điểm của Chính phủ hay đang rơi vào giảm phát và có dấu hiện chính phủ đang tìm cách đối phó. Đây là vấn đề cần được các chuyên gia đánh giá đầy đủ với các số liệu cập nhật trong thời gian tới.'

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015

Câu Chuyện Kềm Nghĩa


Nguồn : Vững Đại Phát

Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh
Theo Thượng Tùng – Doanh Nhân Cuối Tuần – 24 Oct 2011
Nguyễn Minh Tuấn Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Kềm Nghĩa - Hoàn cảnh gia đình khiến ông không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng bù lại, ông có một khả năng bẩm sinh nhạy bén trong kinh doanh và khát vọng làm giàu mãnh liệt. “Thẳng thắn thật thà thường thua thiệt”. Nhưng xem ra câu nói truyền miệng trong dân gian này không “vận” vào Nguyễn Minh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty cổ phần Kềm Nghĩa. Nhìn lại hành trình khởi nghiệp và lập nghiệp của Nguyễn Minh Tuấn mới thấy người đàn ông trung niên này luôn cố gắng nói thật và làm thật với khách hàng của mình và nhờ đó ông đã thành đạt.
Hẹn gặp tại tư gia ở Phú Mỹ Hưng, quận 7, nhưng phút chót, ông quyết định thay đổi địa điểm. Ông gọi đò rước qua ngôi nhà tuềnh toàng bên kia sông. Đơn giản vì bên ấy không có bê tông, không có những tiện nghi… trong cuộc sống thường nhật. Chúng tôi ngồi ghế xúp, dưới bóng bụi tre già, đón gió từ mặt sông thốc lên, mát rượi. Và cuộc trò chuyện bắt đầu bằng dòng hồi ức về những ngày ông theo người mẹ của mình về Đồng Tháp Mười làm ruộng. Ông kể:
Năm 1977, Nhà nước kêu gọi nhân dân đi kinh tế mới. Giắt lưng món tiền có được từ việc bán mấy tấm tôn Mỹ, mẹ tôi về Đồng Tháp Mười, vỡ đất khai hoang. Không yên lòng để bà một thân một mình lập nghiệp, tôi đi theo. Năm ấy, tôi mười tám tuổi. Công việc khẩn hoang rất cực. Mỗi khi chiều buông, trông về Sài Gòn, tôi lại ứa nước mắt. Tôi nhớ bạn bè. Người đang đi học, người đi chơi. Năm 1978, đồng bằng xảy ra lụt lớn. Bao nhiêu mồ hôi công sức mẹ con tôi đổ xuống đất hoang suốt hai năm trời trôi theo dòng nước. Mẹ tôi rất buồn, còn tôi mừng hết lớn. Tôi thuyết phục bà quay lại thành phố. Lúc ấy đang có mô-đen dép sabot. Mất gần một năm học nghề, tôi mới nhận ra nghề này chỉ dùng được trong mấy tháng cận tết. Vậy là bỏ
Rồi ông làm gì để kiếm sống?
Tôi nhập ngũ theo lệnh tổng động viên do Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký. Đó là tháng 3-1979. Năm 1982, tôi phục viên và bắt đầu đến với nghề mài kềm.
Ông có thể nói rõ hơn?
Tôi đến với nghề này là do một người chị của tôi. Chị ấy có tiệm làm móng, nên muốn có một người chuyên mài kềm. Hồi đó ở Sài Gòn chỉ có hai người mài kềm là ông Sáu Chợ Thiếc và ông Năm Sài Gòn. Thành ra mỗi lần đi mài phải xếp hàng mấy giờ đồng hồ mới đến lượt. Khi đến chỗ ông Sáu Chợ Thiếc ở Chợ Lớn, tôi cảm thấy không hào hứng. Ông Sáu ở trần, mải miết mài kềm bên cạnh chiếc tủ đựng đồ nghề xập xệ, cáu bẩn. Biết chuyện, chị tôi liền chỉ tôi đến chỗ ông Năm Sài Gòn. Cũng mài kềm nhưng cách làm của ông Năm Sài Gòn khác hẳn. Ông luôn mặc sơmi trắng ủi phẳng phiu. Bên cạnh là cô con gái làm nhiệm vụ như thư ký, vừa ghi chép sổ sách, vừa phát số thứ tự cho khách hàng…
Ông Năm giàu lắm. Thời đó mà mấy người con ông Năm đều đã có xe hơi riêng. Hỏi ra mới biết trước kia ông Năm là thợ uốn tóc, nhưng do nghề này quá cạnh tranh nên ông chuyển qua mài kềm. Vì mày mò học nên ông không giỏi kỹ thuật bằng ông Sáu, bù lại, ông Năm rất nhạy bén về kinh doanh. Ngoài làm kềm, ông còn bán thêm thuốc uốn tóc, dầu gội, chắc là để nhớ nghề cũ… Trong thâm tâm, tôi xem ông Năm Sài Gòn là người thầy đầu tiên của mình. Tôi học ông cách thức kiếm tiền trước khi tìm đến người thầy thứ hai là ông Sáu Chợ Thiếc, học nghề mài kềm.
Vì sao thời đó người ta đều đi mài kềm, mà không dùng kềm mới?
Bởi lúc đó chúng ta chỉ xài kềm nhập khẩu. Thời gian sau, kềm nhập khẩu không còn nữa, người ta bắt đầu “nội địa hóa” mũi kềm, gắn vô cái cán kềm ngoại, rồi từ từ mới sản xuất được toàn bộ cây kềm. Sau một năm học nghề, tôi mang đồ nghề ra ngồi ngoài vỉa hè đường Lê Thánh Tôn, quận 1. Lúc đó cực lắm, khách hàng ít, những ngày mưa thường bị ướt loi ngoi. Động lòng trắc ẩn, người chủ nhà gần đó cho tôi mượn một góc nhỏ cạnh cửa ngôi nhà của họ, vừa đủ đặt cái tủ đồ nghề dưới mái hiên.
Sao ông không nán ở lại bên thầy của mình thêm một thời gian nữa, vừa có việc làm, vừa đỡ cực?
Tôi ôm cái mộng lớn. Mặt khác, nguyên tắc của tôi là không cạnh tranh với thầy, nên tránh xa khu vực quanh Chợ Lớn.
Mộng lớn đến đâu, thưa ông?
Tôi muốn có một tiệm của riêng mình, lớn như tiệm của ông Năm Sài Gòn.
Và phải mất bao lâu để đạt được giấc mộng của mình?
Ba năm, sau khi ra nghề. Khách đến tiệm của tôi ngày càng đông, trong đó có cả những người từng là khách hàng của ông Năm Sài Gòn.
Là người đi sau, ông cạnh tranh bằng cách nào, hạ giá chăng?
Không. Khách tìm đến tiệm của tôi một phần vì tôi mạnh dạn cho đổi cho trả, trong khi văn hóa kinh doanh của chúng ta, đến tận bây giờ cũng vậy, là mua đứt bán đoạn.
Làm vậy thì ông kiếm lời bằng cách nào?
Lời nhiều chứ. Lúc đó, tôi làm một bài toán như thế này. Bán một cây kềm mới, tôi lời 10 ngàn đồng. Bình thường, tôi mất một phút để mài một cây kềm, kiếm được năm ngàn đồng. Như vậy, trong hai phút, tôi có thể kiếm được 10 ngàn đồng, thu lợi bằng việc bán một cây kềm mới.
Nhưng với cây kềm chất lượng kém, có thể tôi phải cần đến năm phút cho việc mài. Thành ra, nếu không thu lại hàng lỗi, tôi lỗ 15 ngàn đồng. Chưa kể những cây kềm chất lượng kém thì vừa mài lâu bén, dùng lại mau lụt, nếu không bị mang tiếng là bán hàng kém chất lượng thì cũng mang tiếng là mài kềm không tốt. Tóm lại là thiệt hại cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Nhưng những cây kềm được thu hồi cũng không phải bỏ đi. Tôi cho mài lại, cắt móng không được thì bán cho khách dùng vào việc cắt da, cắt khóe.
Đang làm thương mại khá thành công, đâu là lý do khiến ông chuyển hướng sang sản xuất?
Cuối thập niên 1990, các tiệm vàng mọc lên khá nhiều. Lúc ấy, cửa tiệm của tôi đã dời về đường Nguyễn An Ninh, gần chợ Bến Thành, khu vực tập trung nhiều tiệm vàng. Giá thuê mặt bằng ngày càng đội lên, trong khi nghề của mình là lượm bạc cắc.
Xin được phép ngắt lời. Có khi nào ông cảm thấy sốt ruột vì lượm bạc cắc?
Lúc đó, mỗi tháng tôi kiếm được vài ba chục triệu đồng trong khi chị tôi bỏ túi vài trăm triệu đồng nhờ kinh doanh bất động sản. Mình làm ngày làm đêm mà nhiều khi công việc cũng không như ý muốn. Thực lòng, đôi lúc tôi cũng chao đảo. Nhưng ngẫm đi ngẫm lại, nghề sở trường mà mình làm còn chưa đến đầu đến đũa, huống chi là dấn thân vô lĩnh vực mà mình còn lạ lẫm. Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, tôi tin điều đó. Tôi kêu vợ tôi nghỉ làm, ra coi cửa tiệm, để tôi tập trung suy nghĩ cách chuyển hướng sang sản xuất, phòng trường hợp bị lấy lại mặt bằng thì vẫn còn cái nghề lận lưng.
Trong kềm có hai bộ phận quan trọng, là cán và cốt, đều làm thủ công, thành ra chất lượng không đồng đều. Chưa đủ tiền mua máy, tôi thuê người ta làm khuôn, rồi mang nguyên liệu đến những chỗ có máy móc thuê dập phôi. Để chuyển từ thủ công sang sản xuất công nghiệp quy mô lớn, tôi mất khá nhiều thời gian và chi phí cho việc thử nghiệm. Một yếu tố khác, liên quan mật thiết đến chất lượng, là nguyên liệu không đồng đều, dẫn đến chất lượng sản phẩm không đồng đều. Hồi đó, một ký thép phế liệu giá ba ngàn đồng, tôi ra Hà Nội, kiếm hai nhà cung cấp để mua loại thép tấm của Nga, mỗi ký thép tấm giá đến sáu ngàn đồng, làm được 12 cây kềm, tính bình quân giá thành mỗi cây kềm tăng gần 10%, nhưng tôi không thể tăng giá. Tôi không thể nói rằng thép của tôi tốt hơn, vì khi ra thành phẩm thì mọi cây kềm đều giống nhau. Sau gần ba năm chịu đựng, người tiêu dùng mới nhận ra chất lượng kềm của tôi cao hơn hẳn.
Cứ định giá mình rẻ thì không nghèo mới lạ. Tâm lý này phản ánh cách nhìn ngắn hạn, trong một chừng mực nào đó là đánh đổi tương lai phồn vinh để có được một hiện tại khá giả.
Đó cũng là lúc tên của ông chính thức được khắc trên sản phẩm của mình?
Chưa đâu. Mặc dù tôi rất muốn làm được điều đó. Mọi người vẫn chuộng hàng ngoại trong khi thương hiệu của mình chưa mạnh. Kết quả là tôi có hai nhóm, hàng bán tại cửa hàng thì khắc tên mình, còn hàng bỏ mối tại các chợ thì mang tên nước ngoài. Để tạo sự khác biệt, tôi cho làm bao bì thật bắt mắt. Nhưng được một thời gian ngắn thì bao bì của tôi bị nhái. Thường người ta dùng máy ép chặt bao bì vô cây kềm, mục đích là để người mua sau khi xé bao bì, xài rồi mới biết phẩm chất của cây kềm. Nhưng bao bì xé rồi thì không thể đổi lại hàng được nữa.
Tôi làm ngược lại. Thiết kế một loại bao bì cho phép khách hàng có thể dùng thử, đồng thời tăng giá bán. Cái tệ ở nước mình là luôn nghĩ đến việc làm sao để rẻ hơn, thay vì làm thế nào cho tốt hơn. Cứ định giá mình rẻ thì không nghèo mới lạ. Tâm lý này phản ánh cách nhìn ngắn hạn, trong một chừng mực nào đó là đánh đổi tương lai phồn vinh để có được một hiện tại khá giả. Khi thương hiệu bắt đầu có chỗ đứng, tôi tiến thêm một bước là khắc chữ “Nghĩa” nhỏ bên cạnh nhãn hiệu nước ngoài, rồi tiến tới loại bỏ hẳn nhãn hiệu nước ngoài trên các sản phẩm của mình.
Nghe nói năm 2007, doanh số của Kềm Nghĩa sụt giảm gần phân nửa. Chuyện này đầu đuôi ra sao, thưa ông?
Chuyện là thế này. Có hai lý do khiến tôi quyết định tăng giá. Mục tiêu thứ nhất, đương nhiên, là lợi nhuận, nhằm cải thiện đời sống cho nhân viên. Thứ hai, trong quá khứ, mỗi lần chúng tôi tăng giá, doanh số đều tăng. Thêm nữa, khi mua hàng, nhiều người luôn hỏi còn loại nào mắc hơn không, bởi sự chênh lệch quá lớn giữa kềm nội và kềm ngoại, cụ thể là khoảng bảy lần. Tháng 3-2007, tôi tăng giá bán lẻ khoảng 15%. Bốn tháng sau, tôi đẩy giá thêm 60%.
Thị trường bắt đầu có phản ứng. Hàng của tôi đi ra nước ngoài qua đường xách tay khá nhiều, đặc biệt là thị trường Mỹ. Thế nên khi giá lên gần gấp đôi thì những người được nhờ mua hàng dừng lại, nghe ngóng. Đúng lúc đó thì khủng hoảng kinh tế xuất hiện. Theo tôi biết, nhiều tiệm “nail” ở Mỹ phải đóng cửa. Thay vì sử dụng hàng bằng chất liệu inox, người ta chuyển qua xài những sản phẩm bằng thép, có giá rẻ hơn, trong khi chúng tôi chuyển hướng sang sản xuất hàng bằng inox. Doanh số giảm 40%, tôi buộc phải thu hẹp sản xuất, cho nhiều công nhân nghỉ việc.
Một chút thắc mắc, tên ông là Tuấn. Vậy tại sao ông lại chọn thương hiệu là “Kềm Nghĩa”?
Đơn giản vì đó là tên gọi của tôi trong gia đình.
Đến giờ, sản phẩm của ông đã có mặt tại hơn 20 nước trên thế giới. Nhiều người nói rằng việc Kềm Nghĩa xuất khẩu được là nhờ phong trào mở tiệm nail (làm móng) trong cộng đồng người Việt ở Mỹ?
Thực ra, thị trường xuất khẩu đầu tiên của tôi là Philippines. Chúng tôi không xuất trực tiếp mà thông qua trung gian. Tuy nhiên, khi người ta yêu cầu gối đầu thì tôi cảm thấy quá rủi ro nên quyết định dừng lại. Còn chuyện xuất khẩu qua Mỹ cũng không phải ngẫu nhiên. Có một thời kỳ một số hãng cung cấp hàng tiêu dùng nhanh đặt những cái tủ trưng bày sản phẩm của họ ở nhiều chợ. Thấy hay, tôi học liền, yêu cầu nhân viên đặt một loạt tủ ở nhiều chợ. Việt kiều Mỹ về thăm quê hương, đi chợ, thấy nhãn hiệu của tôi, liền mua xài thử, rồi mang theo làm quà cho thân nhân. Khi phong trào làm nail nở rộ thì người ta nhớ đến thương hiệu của tôi.
Nhưng dùng cái tên Việt Nam làm thương hiệu thì nước ngoài không đọc được. Liệu đó có phải là một bất lợi?
Đúng. Hơn thế, người nước ngoài định vị giá trần sản phẩm Kềm Nghĩa là 10 USD, làm kiểu gì cũng không thể tăng quá mức giá này được. Để giải quyết vấn đề này, chúng tôi đã nghiên cứu một dòng sản phẩm chuyên để xuất khẩu, không bán tại thị trường trong nước là Export. Sang năm 2012, chúng tôi sẽ tung ra một dòng sản phẩm cao cấp hơn nữa. Theo lời khuyên của các nhà tư vấn, tôi đã chọn được một cái tên mà ở nước nào cũng có thể gọi được là OMi. Cách làm này không mới, tương tự như Toyota có nhãn hiệu Lexus.
Đưa sản phẩm vượt ra khỏi biên giới không dễ. Một hình thức khá phổ biến là tham gia các hội chợ quốc tế. Giai đoạn đầu khó lắm, người ta coi rẻ mình. Tôi còn nhớ lần gửi thư xin tham gia chương trình hội chợ ở Hongkong, ban tổ chức không chấp thuận, yêu cầu mình phải đăng ký trước một năm. Khi đề nghị đăng ký tham gia vào năm tiếp theo, họ gạt ra, nói danh sách đầy rồi, xếp mình vào danh sách chờ. Nghĩa là nếu có đơn vị nào bỏ thì mới đến lượt mình. Lần đầu tham gia hội chợ, khách tham quan ghé gian hàng của chúng tôi, đều tỏ ý hoài nghi về xuất xứ của chúng tôi. Dù gian hàng đã treo cờ Việt Nam nhưng thỉnh thoảng vẫn bị người ta hỏi một cách sỗ sàng là chúng tôi có liên quan đến Trung Quốc hay không. Nén tự ái, tôi nhã nhặn mời họ qua Việt Nam, thăm những nhà máy của chúng tôi. Hiện tại, chúng tôi đã có mặt tại hơn 20 quốc gia trên thế giới. Tất cả đều thừa nhận sản phẩm kềm sản xuất tại Việt Nam của Kềm Nghĩa là số một.
Tôi nghĩ một trong những phương cách hiệu quả để chống lại hàng giả, hàng nhái là hiện diện ngay tại “sào huyệt” của hàng giả, hàng nhái.
Có một vấn đề khá thời sự là việc thương hiệu cà phê Buôn Ma Thuột bị một doanh nghiệp Trung Quốc đăng ký sở hữu trí tuệ tại nước họ. Là một doanh nghiệp xuất khẩu, khi nghe thông tin này, ông có giật mình?
Chúng tôi đã đăng ký quyền sở hữu trí tuệ tại Trung Quốc sau khi xảy ra những vụ lùm xùm liên quan đến vấn đề này. Thị trường này là cái nôi của hàng giả, hàng nhái. Tôi cũng không hiểu tại sao họ làm giả mà không hề sợ sệt. Thực tế là nhiều công ty Trung Quốc đã qua Việt Nam, thuê gia công kềm, yêu cầu đề lên bao bì Made in Vietnam để dễ tiêu thụ. Để tránh tình trạng hàng nhái, tôi đã yêu cầu nhà phân phối của chúng tôi tại Trung Quốc thông báo trên các phương tiện truyền thông đại chúng về mấy chục điểm bán lẻ chính thức sản phẩm của chúng tôi. Thực tế là giá niêm yết của chúng tôi đang cao hơn các sản phẩm cùng loại khoảng bốn lần. Tôi nghĩ một trong những phương cách hiệu quả để chống lại hàng giả, hàng nhái là hiện diện ngay tại “sào huyệt” của hàng giả, hàng nhái.
Mọi tấm huy chương đều có hai mặt. Cái giá phải trả đối với sự thành công của ông là…
Tôi bị stress khá sớm, từ năm ba mươi tuổi, ăn ít, ngủ ít. Lúc ấy stress còn là một khái niệm xa lạ. Tôi đi nhiều bác sĩ, làm đủ thứ xét nghiệm nhưng không ai bắt được bệnh.
Vậy làm thế nào ông có thể tự điều trị cho mình?
Thể thao là một liều thuốc phù hợp với mình. Tôi vô tình phát hiện ra liều thuốc này trong chuyến đi chơi Vũng Tàu cùng mấy người bạn bằng xe máy. Hồi ấy đường còn khá xấu nhưng người bạn chở tôi chạy khá nhanh, tốc độ có lúc vọt lên gần 80km/g. Thú thực là khi ấy tôi rất run. Khi đến Vũng Tàu thì đầu óc tôi nhẹ bẫng. Trên đường về lại Sài Gòn, tôi giành cầm lái, chạy với tốc độ cao. Hiệu quả thu được cũng tương tự. Thấy chạy xe máy quá nguy hiểm, tôi chuyển sang môn lặn biển, vì bản tính vốn thích sông nước. Bây giờ có tuổi rồi, tôi hạn chế chơi những môn mạo hiểm.
Thời hàn vi, nhiều khi đi chơi mà thực ra là tôi đi làm. Bây giờ có điều kiện, tôi muốn có cảm giác đi làm mà như đi chơi.
Đó là lý do ông chuyển sang chơi du thuyền?
Đúng vậy. Du thuyền vừa là phương tiện để tôi thỏa mãn thú vui sông nước, vừa là nơi bạn bè tụ tập, bù khú. Thỉnh thoảng, tôi cũng tiếp đối tác trên thuyền. Thời hàn vi, nhiều khi đi chơi mà thực ra là tôi đi làm. Bây giờ có điều kiện, tôi muốn có cảm giác đi làm mà như đi chơi. Lênh đênh giữa thiên nhiên khiến tinh thần người ta thoải mái hơn, cởi mở hơn. Gần đây, một người bạn tặng cho tôi một bộ gậy chơi golf. Môn thể thao này xem thì chán, nhưng chơi thử một lần là ghiền.
Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện.
Thượng Tùng thực hiện Tranh Hoàng Tường

Nhìn Việt Nam Từ Trung Quốc

Nguồn : Vững Đại Phát

 Việt Long và Nguyễn Xuân Nghĩa – RFA – 12 Mar 2015
Hôm Thứ Năm tuần trước, Thủ tướng Lý Khắc Cường trình bày trước Quốc hội của Trung Quốc chỉ tiêu 7% cho tăng trưởng kinh tế. Từ chuyện đó, giới quan sát quốc tế cho là Trung Quốc đang đi vào một giai đoạn gọi là “tân thường thái”, một trạng thái bình thường mới, với đà tăng trưởng thấp hơn. Sự thật có khi còn đen tối hơn vậy, như chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa sẽ trình bày sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, hôm Thứ Năm vừa qua, Quốc hội khóa 12 của Trung Quốc vừa họp kỳ thứ ba để thông báo các quyết định từ Bộ Chính trị của đảng Cộng sản. Trong báo cáo của Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Lý Khắc Cường đề ra chỉ tiêu cho năm nay là tăng trưởng 7% thay vì 7,5% như năm ngoái và gia tăng khối tiền tệ lưu hành là 12%, một con số thấp nhất từ nhiều thập niên. Một số nhà quan sát cho rằng Trung Quốc đang khởi sự một chu kỳ mới, với sức tăng trưởng thấp nhất kể từ mấy chục năm qua. Theo dõi loại tin tức này từ đã lâu, ông nhận xét ra sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Thưa rằng về bối cảnh thì lãnh đạo Trung Quốc đang có hai hội nghị của hai cơ chế chấp hành chính sách do Bộ Chính trị đề ra. Một là cơ chế tư vấn gọi là Hội nghị Hiệp thương Chính trị hay Chính Hiệp; hai là Hội nghị Đại biểu Nhân dân hay Nhân Đại, là Quốc hội hay cơ chế lập pháp của Trung Quốc. Hội nghị năm nay quan trọng vì lãnh đạo xứ này đã mất nhiều năm chuẩn bị việc chuyển hướng kinh tế và nay thực hiện kế hoạch cho năm năm sắp tới, từ 2016 đến 2020.
Tình trạng mới của kinh tế Trung Quốc sẽ là một đà tăng trưởng thấp hơn so với tốc độ 10% xứ này đã đạt được trong ba thập niên kể từ khi khởi sự cải cách. Ít ai ngạc nhiên về sự kiện ấy, dù là chỉ tiêu của Bắc Kinh cứ giảm mỗi năm mà vẫn còn lạc quan hơn kết quả thực tế
Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Khi Tổng lý Quốc vụ viện là Thủ tướng Lý Khắc Cường đưa ra một số chỉ tiêu về kinh tế và ngân sách lẫn chính sách để thi hành, giới quan sát quốc tế đều nói đến trạng thái bình thường mới, hay “tân thường thái”, là khái niệm được ông Lý Khắc Cường đưa ra năm ngoái tại thượng đỉnh kinh tế Davos bên Thụy Sĩ. Người ta kết luận là tình trạng mới của kinh tế Trung Quốc sẽ là một đà tăng trưởng thấp hơn so với tốc độ 10% xứ này đã đạt được trong ba thập niên kể từ khi khởi sự cải cách. Ít ai ngạc nhiên về sự kiện ấy, dù là chỉ tiêu của Bắc Kinh cứ giảm mỗi năm mà vẫn còn lạc quan hơn kết quả thực tế. Tuy nhiên, kỳ này chúng ta cần đi xa hơn vậy để thấy ra sự thật còn đáng ngại hơn những con số biểu kiến nói trên.
Việt Long: Xin hỏi ông ngay một câu là kinh tế Trung Quốc đã có triệu chứng sa sút mà ông cho rằng thực tế lại còn đáng ngại hơn vậy, lý do là tại sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Tôi thiển nghĩ là từ đã lâu người ta quá lạc quan về kinh tế Trung Quốc như đã đánh giá sai kinh tế Liên bang Xô viết trước khi Liên Xô bất ngờ tan rã vì lý do kinh tế. Từ bên trong, lãnh đạo Trung Quốc thì biết rõ nhiều nhược điểm nội tại và rất e ngại kịch bản sụp đổ như Liên Xô hay khủng hoảng như Nhật Bản. Nhưng cho dù biết và thật ra muốn tránh, họ cũng khó xoay trở vì nhiều đặc tính hay thuộc tính của hệ thống chính trị. Vì họ cứ lần lữa mãi mà ngày nay Trung Quốc đang đối mặt với thực tế khắt khe của kinh tế xã hội.
- Đấy là về đại thể. Đi vào chi tiết thì các chỉ tiêu vừa ban hành vẫn che giấu nhiều vấn đề nguy kịch mà chương trình chuyên đề của chúng ta phải ghi nhận. Trước hết là về mức tăng trưởng. Từ gần 10 năm trước, lãnh đạo xứ này nói đến nhược điểm bốn không của kinh tế là không cân đối, không phối hợp, không công bình và không bền vững, nhưng vẫn đề ra chỉ tiêu tăng trưởng tối thiểu là 8% một năm, nếu không là xã hội bị động loạn vì nạn thất nghiệp. Sự thật thì đà tăng trưởng còn sụt mạnh hơn vậy và từ ba năm nay, chỉ tiêu chính thức cứ giảm dần mà vẫn bị thực tế qua mặt. Đây là ta chưa nói đến tính chất mơ hồ khó tin của thống kê chính thức.
Việt Long: Đấy là về tốc độ tăng trưởng. Thưa ông, phải chăng vì vậy mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế vừa dự báo mức tăng trưởng năm nay của Trung Quốc là 6,8%, là còn thấp hơn con số 7% do Bắc Kinh đề ra?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Xưa nay, hai định chế tài chính quốc tế là Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới đều có xu hướng lạc quan về Trung Quốc. Ta không quên rằng mới năm ngoái Quỹ IMF còn dự đoán là sản lượng kinh tế Trung Quốc vừa vượt mặt Hoa Kỳ nếu tính theo phương pháp PPP là sức mua thực tế của đồng bạc. Ngày nay, trước những sự thật hiển nhiên thì họ liên tục điều chỉnh lại các dự báo theo hướng thấp hơn. Nhưng sự thật còn đen tối hơn vậy nếu người ta rà soát lại cách đếm một số dữ kiện cơ bản.
Việt Long: Như vậy, xin đề nghị ông trình bày lại cách đếm các số liệu đó để thấy ra sự thật.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Vừa rồi, ông nhắc đến tiêu chí do Bắc Kinh đưa ra về khối tiền tệ lưu hành là năm nay chỉ tăng thêm 12%. Nếu nhìn theo viễn cảnh dài thì Trung Quốc đã ráo riết bơm tiền để kích thích kinh tế với một số lượng cực lớn, là tăng hơn 370% kể từ năm 2006 và bình quân thì hơn 21% một năm kể từ ba chục năm qua. So với con số đó thì đà bơm tiền 12% năm nay thực tế là một quyết định ngược, là hãm đà in bạc và bơm tiền. Kết luận cần nhớ ở đây là thay vì bơm tiền để kích thích sản xuất thì Bắc Kinh đang có xu hướng khóa vòi bơm.
- Cũng trong mạch đó, chuyện thứ hai đáng nhớ là việc hạ lãi suất. Một ngày trước khi Quốc hội nhóm họp thì Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh đã cắt lãi suất ngắn hạn từ 7% xuống 5,5% tức là hạ 150 điểm cơ bản và là lần thứ ba trong có ba tháng. Người ta tưởng đấy là biện pháp kích thích sản xuất. Thực tế lại trái ngược nếu ta xét tới lãi suất thật mà khách nợ phải trả khi đi vay. Lãi suất thật là sự sai biệt giữa mệnh giá chính thức sau khi giảm trừ tác dụng của vật giá hay lạm phát. Từ năm 2011 đến nay, lãi suất ngắn hạn một năm mà các doanh nghiệp phải thanh toán đã thực tế tăng đến 800 điểm cơ bản, là 8%, làm mức lời kinh doanh bị sa sút. Trong thị trường ảm đạm ấy, so với lãi suất thật đã tăng đến 8% thì quyết định cắt lãi suất cực ngắn hạn tới mức 5,5% có ý nghĩa ngược, là Bắc Kinh đang hãm vòi tín dụng và xiết chặt thanh khoản của các ngân hàng và doanh nghiệp. Đấy là vấn đề thứ hai.
Việt Long: Những số liệu thật mà ông vừa nhắc đến xuất phát từ nơi nào để vẽ ra một bức tranh khác về thực tế kinh tế của Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Trên thị trường tài chính thế giới, nhiều tổ hợp đầu tư hay ngân hàng vẫn thường theo dõi các biến chuyển thực để cố vấn thân chủ về những nơi chọn mặt gửi vàng. Nếu họ tính sai thì bị lỗ và có khi mất việc chứ không được an toàn như các công chức của các định chế quốc tế.
IMF và WB đều có xu hướng lạc quan về Trung Quốc. Ta không quên rằng mới năm ngoái Quỹ IMF còn dự đoán là sản lượng kinh tế TQ vừa vượt mặt Hoa Kỳ nếu tính theo phương pháp PPP là sức mua thực tế của đồng bạc. Ngày nay, trước những sự thật hiển nhiên thì họ liên tục điều chỉnh lại các dự báo theo hướng thấp hơn
Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Theo chiều hướng đó, khi xét về thực tế kinh tế của Trung Quốc, người ta nên theo dõi tin tức, nhận định hay báo cáo của các ngân hàng như Deutsche Bank của Đức, UBS của Thụy Sĩ, Société Générale của Pháp, hay Bank of America-Merrill Lynch của Mỹ v.v… Số liệu thực của các tập đoàn ấy cho thấy một hình ảnh khá ảm đạm của kinh tế Trung Quốc.
Việt Long: Trong bối cảnh u ám của kinh tế Trung Quốc, người ta thường nói đến khối dự trữ cực lớn của xứ này, được ước tính là tương đương với gần bốn ngàn tỷ đô la. Nếu có một kho dự trữ như vậy thì liệu Bắc Kinh có thể vượt qua sóng gió hay không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Khi nói đến dự trữ bốn nghìn tỷ đô la thì ta cũng nên nhìn vào mặt kia của thực tế. Do chính sách ào ạt tăng chi và bơm tín dụng kể từ năm 2008 vì kinh tế thế giới bị Tổng suy trầm, các doanh nghiệp Trung Quốc chất lên một núi nợ mà chính lãnh đạo Bắc Kinh cũng chưa biết là bao nhiêu và bên trong xấu tốt thế nào. Các trung tâm nghiên cứu ở bên ngoài thì ước lượng là trong tám năm qua, tổng số tín dụng lên tới 26 ngàn tỷ đô la, cao bằng 250% của Tổng sản lượng. Tổ hợp tư vấn kinh doanh McKinsey của Mỹ còn đưa ra con số cao hơn vậy, là 282% Tổng sản lượng, tức là có thể hơn 28 ngàn tỷ. So với núi nợ ấy thì dự trữ ngoại tệ gần bốn nghìn tỷ chỉ bằng có 14 hay 15%. Nếu số nợ xấu khó đòi và sẽ mất lên tới 20%, một kịch bản dù lạc quan cũng tương đương với hơn 5.000 tỷ, thì Bắc Kinh vẫn khó xoay trở để ứng phó. Huống hồ khối dự trữ này đã hết tăng mà bắt đầu giảm.
Việt Long: Ông vừa đề cập tới một chuyện cũng đáng chú ý là ưu thế tích lũy tài sản vào trong tay nhà nước Trung Quốc đang giảm dần khi mà mức lời của doanh nghiệp lại sa sút và dễ bị vỡ nợ. Sự thế ấy là như thế nào về thực tế?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Ta không quên là Bắc Kinh vẫn giàng giá đồng bạc của mình vào tiền Mỹ theo một biên độ giao dịch nhất định và vì vậy cũng giàng số phận của mình vào kinh tế Mỹ.
Từ năm 2008 đến 2012, đô la sụt giá vì biện pháp bơm tiền của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Khi ấy, lãnh đạo Bắc Kinh rất lo vì sợ tài sản tồn trữ dưới dạng đô la bị mất giá. Vì vậy, họ mua vào ngoại tệ và trả ra bằng đồng Nguyên, tức là cũng đã in bạc bơm tiền chẳng khác gì Hoa Kỳ.
Từ nhiều năm qua, cả chính quyền trung ương lẫn các địa phương đều tăng chi bừa phứa để kích thích kinh tế mà số thu nhờ thuế khóa không tăng lại giảm vì lợi nhuận sa sút của các doanh nghiệp. Hậu quả là Trung Quốc bị bội chi ngân sách, là chi nhiều hơn thu
Nguyễn-Xuân Nghĩa
- Bây giờ, khi Mỹ kim lên giá mạnh thì họ bị sức ép vì đồng Nguyên lên giá so với nhiều ngoại tệ khác làm cho việc xuất khẩu bị mất sức cạnh tranh. Để ứng phó, họ đảo ngược chính sách, là bán đô la từ dự trữ ngoại tệ, là lại hút tiền vào. Hậu quả của sự kiện này gồm có hai mặt. Thứ nhất số thanh khoản trên thị trường đang cạn, là chuyện mình vừa nói. Thứ hai, dự trữ ngoại tệ hết tăng mà bắt đầu giảm. Theo Quỹ IMF thì sáu tháng qua đã giảm mất 300 tỷ. Chiều hướng ấy còn tiếp tục, trong khi đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng sẽ giảm dần. Sau cùng, ta còn cần thấy ra một sự thật cũng trái ngược về tình hình ngân sách của Trung Quốc.
Việt Long: Đấy là vấn đề mà thính giả cũng muốn biết vì Bắc Kinh vừa đưa ra kế hoạch cải cách ruộng đất và giải thích là vì một mục tiêu là ngân sách. Thưa ông, chuyện ấy là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: – Từ nhiều năm qua, cả chính quyền trung ương lẫn các địa phương đều tăng chi bừa phứa để kích thích kinh tế mà số thu nhờ thuế khóa không tăng lại giảm vì lợi nhuận sa sút của các doanh nghiệp. Hậu quả là Trung Quốc bị bội chi ngân sách, là chi nhiều hơn thu. Vì vậy, lãnh đạo xứ này đang ráo riết giảm chi và xiết chặt ngân sách của các địa phương.
- Việc họ tung ra chương trình thí điểm vể cải cách ruộng đất cũng nằm trong xu hướng hạn chế sự lạm dụng của địa phương khi ngang nhiên lấy đất của dân vì nhờ đó thu vào đến 40% ngân sách cho địa phương. Chương trình cải cách này phải mất chục năm mới có kết quả nhưng ngay trước mắt thì biện pháp giảm chi để chấn chỉnh ngân sách có nghĩa là các tỉnh sẽ thắt lưng buộc bụng và gặp cảnh ngộ khắc khổ kinh tế như Âu Châu trong mấy năm qua. Đấy cũng là một chuyện bất thường và đáng ngại của tình trạng gọi là “bình thường mới”.
Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về việc tổng hợp các dữ kiện thuộc về mặt trái của kinh tế Trung Quốc.