Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2015

Chuyện Dài Tỷ Phú (US Dollars)

 Nguồn : Vững Đại Phát

Tỷ phú Hoàng Kiều: ‘Bút sa thì gà phải chết’
BBC – 8 tháng 5 2015
Trả lời câu hỏi của Nguyễn Hoàng của BBC tiếng Việt về điểm khác biệt trong môi trường kinh doanh và đầu tư giữa Việt Nam và Trung Quốc, tỷ phú người Mỹ gốc Việt Hoàng Kiều nói “Tôi thực sự cũng chẳng muốn so sánh Trung Quốc với Việt Nam.”
“Vấn đề của Việt Nam thì chúng ta đã thấy trên báo chí nói nhiều rồi nên tôi không nói nữa.
“Vấn đề quan trọng ở đây tôi muốn nói là nếu đã nói cái gì là phải cam kết thực hiện. Khi bút sa thì gà phải chết. Tôi thán phục người Trung Quốc là ở điểm đó.
“Lấy ví dụ về thuê đất mở công ty, ngày xưa tôi thuê chỉ là 30 năm, rồi sau đó được quyền thuê 50 năm rồi sau này là 99 năm.
“Khi chúng tôi mở rộng cơ sở ra và mua 120 hecta thì kể như họ nói đấy là đất của ông đấy.
“Vấn đề là khi mình đã không có cam kết thì thôi, nếu đã cam kết thì phải giữ cho tới cùng. Nói là làm và làm là phải làm đúng.
“Đó là bài học kinh nghiệm mà chúng ta cần rút tỉa để giúp cho sự phát triển cho bất kỳ ai, bất kỳ nước nào, kể cả Việt Nam hay Hoa Kỳ,” ông Hoàng Kiều trả lời BBC trong cuộc phỏng vấn được thực hiện tại văn phòng của ông ở California.
Ông Hoàng Kiều hiện là Chủ tịch Công ty Kháng sinh và Kháng thể (RAAS, Inc. ) có trụ sở tại Hoa Kỳ và đồng thời là Phó Chủ tịch Công ty con của RAAS tại Thượng Hải, chuyên về các sản phẩm huyết tương.
Tạp chí Forbes của Hoa Kỳ xếp ông Kiều đứng thứ 847 trong danh sách các tỷ phú giàu có nhất trên thế giới.
Ngoài dược phẩm, ông Hoàng Kiều hiện cũng đang đầu tư vào rượu vang và thời trang.
Link tới nguyên văn cuộc phỏng vấn:
https://www.youtube.com/watch?v=dzckKd7_lg8

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Stress Trong Đời Sống

Nguồn : Vững Đại Phát
 Stress là dấu hiệu cho thấy cuộc sống có ý nghĩa
Thu Thảo – Business Insider/ Trí Thức Trẻ – 6 May 2015
Cảm thấy stress chứng tỏ bạn đang làm gì đó thật sự quan trọng với mình, chẳng hạn như phỏng vấn để ứng tuyển công việc bạn mơ ước hoặc chăm sóc con cái.
- Mọi người thường cho rằng stress đồng nghĩa với việc cuộc sống gặp trục trặc và tìm cách chống lại hoặc chịu đựng stress.
- Tuy nhiên, theo tiến sĩ Kelly McGonigal, stress lại là dấu hiệu chứng tỏ bạn đang dồn tâm huyết vào việc mình làm. Điều đó cho thấy cuộc sống của bạn có ý nghĩa và bạn cần nhận thức được lợi ích của stress.
Tiến sĩ Kelly McGonigal, chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý học sức khỏe, luôn muốn giúp mọi người có một cuộc sống khỏe mạnh, hạnh phúc hơn. Bà dành phần lớn thời gian khuyến khích mọi người tránh xa stress và những tác hại của nó.
Tuy nhiên, khi phát biểu tại hội thảo 99U tổ chức tại New York ngày 30/4, McGonigal lại nói bà đã thay đổi cơ bản phương pháp quản lý stress của mình vài năm gần đây. Bà hiểu rằng stress không phải vốn đã có hại. Các nghiên cứu mới đưa ra hai lý do sau.
Trước hết, stress và sự lo lắng có thể là dấu hiệu cho thấy cuộc sống của bạn rất ý nghĩa. Thông thường, cảm thấy stress chứng tỏ bạn đang làm gì đó thật sự quan trọng với mình, chẳng hạn như phỏng vấn để ứng tuyển công việc bạn mơ ước hoặc chăm sóc con cái.
Lý do thứ hai đơn giản là việc nhận thức được lợi ích của stress có thể giúp bạn đương đầu với nó.
McGonigal chia sẻ: “Mỗi khi bị stress, chúng ta thường coi đó là dấu hiệu cho thấy cuộc sống chưa thỏa đáng hoặc thật khủng khiếp. Nhưng cách bạn nghĩ về stress lại đóng vai trò quan trọng trong việc stress ảnh hưởng đến sức khỏe và hạnh phúc của bạn như thế nào”.
Ví dụ, bạn nằm trong số rất nhiều người coi stress là một thứ tiêu cực và cố tránh xa nó bằng mọi giá. Do vậy, có thể khi bạn lâm vào một tình huống căng thẳng, chẳng hạn như phỏng vấn cho công việc yêu thích, cơ thể bạn sẽ tiết ra các hormone stress như cortisol, ở mức cao hơn. Các hormone này có thể gây hại đến hệ miễn dịch và sức khỏe của bạn.
Nhưng hãy thử nghĩ trường hợp bạn tham gia cuộc phỏng vấn đó và hiểu rõ những lợi ích tiềm năng của stress. Các nghiên cứu cho thấy, việc này không chỉ giúp bạn phản ứng sinh lý tốt hơn mà rất có thể còn giúp bạn tìm thấy ý nghĩa của sự đấu tranh và học hỏi từ nó.
Thách thức đối với McGonigal hiện nay không phải là giúp mọi người giảm lượng stress gặp phải mà cần thuyết phục họ ngừng chống chịu nó. Theo bà, stress “không phải là dấu hiệu cho thấy cuộc sống của bạn có gì đó bất ổn”. Trái lại, cảm thấy stress nghĩa là bạn hoàn toàn dồn tâm huyết cho những gì mình đang làm.
Vì vậy, nếu bạn toát mồ hôi tay hay thấy run chân trước một cuộc phỏng vấn, có thể việc tự nhắc bản thân phải bình tĩnh sẽ không mấy hữu ích. Thay vào đó, hãy thử nghĩ theo hướng mới như lời khuyên của tiến sĩ McGonigal. Nỗi hoảng loạn sẽ lắng xuống trước khi bạn kịp nhận ra.
Người thành công xử lý Stress như thế nào?
Tác giả: Bernard Marr – CFO – 10 Mar 2014
90% những người thành công nhất thường biết cách kiềm chế cảm xúc của họ trước những áp lực trong công việc. Do đó, họ có thể giữ được bình tĩnh và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả
Một cuộc khảo sát từ TalentSmart chỉ ra rằng 90% những người thành công nhất thường biết cách kiềm chế cảm xúc của họ trước những áp lực trong công việc. Do đó, họ có thể giữ được bình tĩnh và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.
Người thành công xử lý Stress như thế nào?
Đây sẽ là bài học vô cùng bổ ích cho chúng ta, không chỉ áp dụng được trong công việc mà còn trong cuộc sống hằng ngày. Các nhà khoa học cho biết mỗi chúng ta phải đối mặt với stress khá thường xuyên trong cuộc sống ngày nay. Tuy vậy, stress không phải lúc nào cũng xấu bởi ở một mức độ vừa phải, nó giúp chúng ta làm việc một cách tối ưu hơn.
Dù vậy, quá nhiều stress sẽ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng về tâm sinh lý. Do đó, sẽ tốt hơn nếu mỗi người chúng ta biết cách để đối mặt với vấn đề này bằng cách học hỏi kinh nghiệm từ những người thành công.
Thông qua cuộc khảo sát, chúng ta cũng nhận ra đa số những người thành công thường có một vài chiến lược chung trong việc quản lý stress như dưới đây:
1. Luôn trân trọng những gì họ đang có
Nghe qua thì có vẻ khá cổ điển, nhưng thực tế đã chứng minh việc luôn trân trọng những gì đang có là một cách tốt để giảm áp lực và giữ được một cái nhìn tích cực về cuộc sống. Khi có một cái nhìn lạc quan hơn, bạn sẽ cảm thấy vui vẻ hơn, và dĩ nhiên, làm việc cũng năng suất hơn.
2. Luôn lạc quan
Có vẻ nói thì luôn dễ hơn làm? Thỉnh thoảng thôi. Những người thành công thường có xu hướng nhìn thấy cơ hội từ một cuộc khủng hoảng, tích luỹ được những bài học quý giá từ thất bại thay vì phải đau buồn với những gì đã xảy ra. Hãy tưởng tượng bạn đang ủ rũ trong một thất bại gần nhất, thay vì buồn bực như trước, hãy tự hỏi bản thân “Mình có thể học được gì từ thất bại này hay làm thế nào để tránh phải những sai lầm tương tự như vậy?”. Bạn sẽ thấy bớt tiêu cực ngay thôi.
3. Tập trung vào sự tiến bộ, không phải sự hoàn hảo
Không có ai hoàn hảo, kể cả những người giàu nhất trên thế giới này. Nếu được hỏi, họ cũng sẽ nói với bạn điều tương tự mà thôi. Những tỷ phú như Bill Gates hay Richard Branson đều có những thất bại trong quá khứ. Nhưng điều quan trọng là họ đều thất bại một cách khôn khéo, rút ra bài học từ những thất bại đó và đi tiếp. Rất nhiều người trong chúng ta thường tôn thờ sự hoàn hảo nhưng đôi lúc bỏ qua nó sẽ giúp bạn loại bớt được một gánh nặng đấy.
4. Có những thói quen nhất định
Một trong những nguyên nhân chính gây ra stress là số lượng quyết định chúng ta cần đưa ra trong một thời gian ngắn. Bất kể đó là quyết định lớn hay nhỏ, chúng sẽ đều tạo gánh nặng cho bộ não và khiến chúng ta cảm thấy áp lực. Việc giữ những thói quen đều đặn thường ngày như: trả lời email vào cùng một thời gian, ăn trưa tại một quán ăn quen thuộc, hoặc chỉ đơn giản là tối giản hoá tủ quần áo sẽ giúp bạn ít phải suy nghĩ hơn cho những điều không thực sự cần thiết. Thậm chí Tổng thống Obama cũng từng nói đến điều này trong một buổi phỏng vấn:
“Bạn có thể thấy tôi hay mặc bộ vest màu xanh hoặc xám bởi tôi luôn luôn cố gắng giảm bớt số quyết định mình cần đưa ra. Tôi cũng không muốn mình phải nghĩ hôm nay sẽ ăn gì hay mặc gì. Lý do ư? Tôi còn rất nhiều quyết định quan trọng khác cần phải đưa ra trong ngày…”
5. Luôn nhìn vào bức tranh toàn cảnh
Điều cuối cùng, những người thành công thường có khả năng luôn nhìn vào bức tranh toàn cảnh thay vì chỉ tập trung vào một vài điểm vụn vặt. Cụ thể hơn, có những lúc thay vì tìm hiểu “Làm như thế nào”, hãy tự hỏi “Tại sao”. Bạn sẽ bớt “đau đầu” ngay thôi.
Hy vọng rằng những chiến lược trên sẽ có ích cho bạn. Chúng ta ngày càng bận rộn, vì thế hãy biết cách đối phó với stress một cách khéo léo để cuộc sống trở nên dễ thở hơn.
Về tác giả:
Bernard Marr từng tốt nghiệp tại ĐH Cambridge (Anh) và hiện đang là CEO của Advanced Performance Institute, một tổ chức giúp các doanh nghiệp quản lý, đánh giá và nâng cao năng lực nhân viên. Bernard còn là cây viết nổi tiếng cho các tạp chí như Financial Times, CFO Magazine và Wall Street Journal và là 1 trong 100 tác giả nổi tiếng nhất (Influencer) trên mạng xã hội LinkedIn.

Loạt Bài Về Hướng Đi Cho Nông Nghiệp Việt

Nguồn : Vững Đại Phát
 Bài 2:
Vì sao ngành nông nghiệp Úc lại phát triển thành công đến thế?
Tổng Hợp của Nhật Hạ – Theo Đại Kỷ Nguyên – 4 May 2015
Nước Úc được nhìn nhận là một quốc gia phát triển và nằm trong số các quốc gia thịnh vượng nhất trên thế giới, với nền kinh tế lớn đứng thứ 12 trên toàn thế giới.
Vào năm 2012, thu nhập bình quân đầu người của Úc đứng thứ năm thế giới. Nước Úc được thành lập vào ngày 01/01/1901 với tên đầy đủ tiếng Anh là Commonwealth of Australia, có nghĩa là khối thịnh vượng chung Úc. Ngay từ khi thành lập, Úc duy trì một hệ thống chính trị dân chủ tự do ổn định, bao gồm sáu bang và một số lãnh thổ với tổng dân số vào khoảng 23,1 triệu người.
Với lịch sử non trẻ chỉ hơn 100 năm, với hơn 100 dân tộc đa văn hóa, nước Úc giờ đã trở thành một đất nước giàu mạnh, xây dựng được một nơi có đời sống tốt nhất thế giới, xuất khẩu hầu hết các mặt hàng quan trọng kể cả dịch vụ giáo dục. Với mục tiêu ban đầu là tự đảm bảo nguồn lương thực cho người dân Úc, Chính phủ đã thực sự đầu tư vào việc phát triển ngành nông nghiệp Úc cho dù diện tích đất có thể canh tác được của Úc chỉ chiếm 1% tổng diện tích lục địa Úc (tổng diện tích Úc là 768 triệu héc ta) do chỉ có vùng ven biển là có lượng mưa tương đối tốt. Hiện nước Úc có 18 triệu héc ta trồng trọt và 28 triệu héc ta đồng cỏ trong đó chỉ có 4 triệu héc ta là thực sự có lượng nước đầy đủ.
Lực lượng lao động chính thức trong lĩnh vực nông nghiệp của Úc là 400.000 người, chiếm 4% lực lượng lao động của toàn nước Úc (vào khoảng 10 triệu người) nhưng nước Úc có chỉ số tự cung cao nhất thế giới (nông nghiệp Mỹ có kim ngạch xuất khẩu nông sản đứng đầu thế giới nhưng chỉ số tự cung tự cấp lại thấp hơn Úc), cụ thể là tính trung bình một nông dân Úc có thể nuôi 190 người. Sản phẩm nông nghiệp chính của Úc là lúa mì, lúa mạch, mía, hoa quả, gia súc, cừu, gia cầm.
Nền nông nghiệp Úc cung cấp nông sản đầy đủ cho thị trường nội địa và xuất khẩu 80% tổng sản lượng, thu nhập của mỗi người nông dân Úc lên đến 100.000 USD/ năm, cao hơn so với GDP bình quân đầu người của Úc (60.000 USD/năm).
Úc là một quốc gia có đất rộng người thưa, ít mưa, tình trạng khô hạn xảy ra thường xuyên, Úc không có một ngành nghề nào gọi là truyền thống, kể cả nông nghiệp – vốn là ngành nghề cổ xưa nhất của loài người. Cho nên có thể nói tất cả các cây, con và công nghệ sản xuất hiện đang sử dụng trong nông nghiệp Úc hiện nay đều có nguồn gốc nhập khẩu. Chính vì vậy, để phát huy tối đa hiệu quả của việc nhập khẩu trong việc phát triển nông nghiệp, Chính phủ Úc đã cho xây dựng các Trung tâm nghiên cứu để nhập khẩu giống và công nghệ, kiểm chứng, ứng dụng đại trà và thực hiện tiếp thu công nghệ. Để hỗ trợ hoạt động của các trung tâm này, Chính phủ Úc đã thành lập Hội đồng Nghiên cứu Úc nhằm xây dựng chiến lược và cung cấp kinh phí cho các công trình nghiên cứu khoa học. Hội đồng này đưa ra danh sách những hạng mục ưu tiên có lợi cho quốc gia và đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải lập dự án theo sát danh sách ưu tiên này nếu muốn nhận được tiền tài trợ cho việc nghiên cứu.
Đặc biệt hơn, đối với những lĩnh vực mà chính phủ xác định là thực sự cấp thiết đến sự phát triển của nền nông nghiệp, Chính phủ Úc thành lập các Trung tâm chuyên ngành hay còn gọi là Trung tâm ưu tú (Centre of Excellence) để nghiên cứu, cải thiện, ứng dụng và chuyển giao từ kiến thức công nghệ cho nông dân. Bộ Nông nghiệp Úc đã xây dựng 11 Trung tâm như vậy đều khắp trong bang, mỗi Trung tâm phụ trách một ngành hàng nông nghiệp đặc biệt trên một vùng sinh thái thích hợp để giải quyết dứt điểm những khó khăn của vùng đó.
Ví dụ như vùng lục địa Narrabri miền tây bắc Úc có khí hậu khô, nóng nên có Trung tâm chuyên về ngành bông vải và cải dầu, vùng miền bắc gần duyên hải vùng Armidale có khí hậu khô nhưng mát mẻ nên có trung tâm về ngành bò thịt, vùng miền trung duyên hải Gosford có khí hậu ôn hoà, gần Sydney nên có Trung tâm Tiếp thị và ngành Làm vườn nhà kính, vùng lục địa Yanco phía tây nam có khí hậu khô, nóng, nhiều ánh sáng nên có Trung tâm Lúa gạo và tưới tiêu.
Việc vận hành các trung tâm này đã giúp Bộ Nông nghiệp Úc giải quyết kịp thời các vấn đề theo từng loại nông sản. Các quy trình sản xuất tốt nhất trên thế giới được nhập vào Úc qua các trung tâm này, ví dụ như Quy trình chăm sóc rau quả tươi sạch dành cho việc sản xuất rau quả (được gọi là Fresh care), Quy trình sản xuất thịt tươi sống (được gọi là Cattle Care), Quy trình sản xuất ngũ cốc (được gọi là Grain Care), qua đó, Úc đã có được thương hiệu về an toàn vệ sinh thực phẩm, gia tăng sức cạnh tranh cho xuất khẩu.
Theo như số liệu của Cục Kinh tế, khoa học nông nghiệp và nguồn lợi Úc (Abarres), giá trị sản lượng nông nghiệp Úc đạt 43 tỷ đô la Mỹ, tương đương với 3% GDP vào năm 2013. Riêng về sản lượng lúa của bang New South Wales (là bang sản xuất 99% sản lượng lúa của Úc) từ tháng 04/2014 đến tháng 03/2015 đạt 894.000 tấn trên diện tích gieo cấy 90.000 héc ta, tương đương với năng suất là 9,89 tấn/héc ta (năng suất lúa của toàn Việt Nam đạt 6,6 tấn/héc ta vào năm 2014).
Nền nông nghiệp Úc được quản lý dưới hình thức nông trại, với khoảng 130.000 nông trại trên diện tích 46 triệu héc ta, trung bình một nông trại có diện tích 354 héc ta. Chính sách của chính phủ Úc là xây dựng một nền nông nghiệp vì nông dân, vậy nên Chính phủ giảm tối đã những điều luật, quy định bắt buộc đối với nông dân như các quy định về thuế hay hải quan, đồng thời đưa ra những chính sách hữu hiệu giúp đỡ nông dân ổn định trong sản xuất, tránh hiện tượng bỏ đất lên các thành phố lớn, đồng thời nâng cao năng suất lao động và khả năng cạnh tranh.
Vào năm 1997, Úc thực hiện chương trình “Một nền nông nghiệp Úc tiên tiến” và hướng đến xuất khẩu với mục đích nâng cao thu nhập cho nông dân và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế cho nông dân. Đặc điểm nội bật của chương trình này như sau:
Hỗ trợ tài chính cho nông dân trong các chương trình giáo dục và đào tạo về kỹ năng quản lý tài nguyên thiên nhiên;
Hỗ trợ nông dân thay đổi ngành nghề cho hợp với thay đổi trong thực tế;
Hỗ trợ nông dân nâng cao kỹ năng về quản lý tài chính;
Tư vấn cho nông dân tình hình tài chính trong và ngoài nước;
Hỗ trợ tài chính cho nông dân về các dịch vụ tư vấn của chuyên gia, cũng như tổ chức các lớp tập huấn để nâng cao năng lực phát triển kỹ năng;
Cung cấp thông tin giúp nông dân nắm vững biến động thị trường trong và ngoài nước.
Vào năm 2004, Chính phủ Úc đã thành lập một nhóm tư vấn xây dựng định hướng và chiến lược cho ngành nông nghiệp và thực phẩm, theo đó Chính phủ điều chỉnh các chính sách và đưa ra các giải pháp về:
Nâng cao khả năng đáp ứng của nông dân trước các yêu cầu mới của thị trường và chuỗi cung ứng;
Giúp nông dân nâng cao năng lực cạnh tranh;
Hỗ trợ nông dân về kỹ năng quản lý tài nguyên thiên nhiên;
Bảo đảm môi trường kinh doanh tốt nhất, thông thoáng nhất để các doanh nghiệp tự do hoạt động, tăng mạnh sức cạnh tranh
Xét về mặt bằng chung, nông dân Úc có trình độ giáo dục cao, khoảng 31% có bằng đại học hoặc cao đẳng (trung bình toàn quốc 52%). Các chính sách đầu tư vào nông dân Úc có thể tóm lại theo ba mục chính, đó là:
Nông dân Úc là chủ thể của nền nông nghiệp Úc, thể hiện trên thực tế đối với các chính sách này là việc một hộ nông dân Úc được cấp giấy phép sở hữu diện tích đất rất lớn chứ không phải được thuê lại đất của Nhà nước và Nhà nước sẽ xem xét lại tình trạng cho thuê đất sau một thời gian.
Nông dân Úc sản xuất theo chuỗi giá trị và phân phối theo chuỗi cung ứng, thể hiện ở điểm các mặt hàng nông nghiệp Úc được đóng gói bao bì đầy đủ với nhãn hiệu “made in Australia” có mặt trên toàn thế giới.
Nông dân Úc áp dụng hiệu quả các công nghệ hiện đại bao gồm các máy móc và kỹ thuật công nghệ hiện đại trong sản xuất nông nghiệp. Tại các cánh đồng rộng ngút tầm mắt, những mày cày, máy hái không cần người lái được sử dụng rộng rãi. Đồng thời, nông dân Úc biết cách dùng hệ thống vệ tinh để định vị đường cày cho máy cày qua các thiết bị điện toán tính toán chính xác.
Nói tóm lại, với các chính sách hữu hiệu của Chính phủ, Úc đã thành công không chỉ trong vấn đề tự cung tự cấp nguồn lương thực cho người dân trong nước mà còn xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp sang các nước trên toàn thế giới, nổi bật nhất là các sản phẩm gồm thịt bò, ngũ cốc, hoa quả, sữa và các sản phẩm thuộc sữa, rượu nho, lông cừu, bông vải, đường.
Mặc dù liên bang Úc mới được thành lập vào năm 1901, tính đến nay mới được 114 năm, nhưng Úc đã được tạp chí The Economist bình chọn đứng thứ 6 trên toàn thế giới về chỉ số chất lượng cuộc sống vào năm 2005, được Liên Hiệp Quốc xếp hạng ba về chỉ số phát triển con người vào năm 2007. Nước Úc còn nắm giữ một kỷ lục chưa có nước nào có, đó là hầu hết các thành phố lớn của Úc đều nằm trong “top 10” những thành phố có đời sống tốt nhất thế giới: Melbourne (hạng 2), Perth (hạng 4), Adelaide (hạng 7) và Sydney (hạng 9).
Nhật Hạ tổng hợp

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Sức Khỏe và Tâm Tịnh

Nguồn : Vững Đại Phát 
Sức Khỏe và Tâm Tịnh
Alan Phan
6 May 2015
Một người bạn chuyển gởi bài viết của một nhà sư về Đông Y Dược. Tác giả quả quyết rằng nguồn gốc của sức khỏe thực sự là “tâm tịnh”. Khi khí huyết không đầy đủ, kinh mạch không thông suốt thì bệnh tật phát sinh. Giận nhiều hại gan, dâm nhiều hại thận, ăn nhiều hại ruột, ưu tư hại bao tử, phẫn nộ hại tim, sầu muộn hại tinh thần. Tệ nhất là hận thù, ghen tị… mầm mống của ung thư, bứu hạch… Theo ông, nguyên lý căn bản của thiên nhiên là nếu còn bản chất tham , sân, si; con người không thể đạt được tâm tịnh. Và luật nhân quả rồi cũng thể hiện ngay trong đời mình.
Trên hết, tác giả còn nêu ra một nhu cầu cho sức khỏe là “phải vượt qua mọi nỗi sợ: sợ chết, sợ đau, sợ khổ, sợ mất mát, sợ thay đổi, sợ …vợ, sợ con, sợ nhân tình.. v.v…..
Bài viết không phải là một biện giải với nhiều bằng chứng khoa học; nhưng đọc xong, tôi thấy đồng cảm vô cùng trên nhiều bình diện, từ lý trí đến trực giác.
Ba năm nay, tôi liên miên bị bệnh tật lớn-nhỏ hành hạ, đủ loại, đủ kiểu. Chữa xong đám cháy này thì đám khác lại kêu gào. Nếu không có ý chí và kiên nhẫn học từ các thất bại 70 năm qua, có lẽ tôi đã mệt mỏi bỏ cuộc. Nhưng tất cả những rắc rối đó, có thể giải thích thật đơn giản: vì tâm mình chưa tịnh, chưa bình an? vì trong lòng vẫn còn nhiều độc tố của tham, sân, si?
Nói thì dễ, nhưng khi tôi trẻ hơn, với một tính xấu (?) luôn thích tìm tòi, thử nghiệm…để cố khám phá một chân trời nào mới lạ hơn, thì tâm tịnh là điều không tưởng. Tôi nghĩ nhiều bạn trẻ khác cũng chia sẻ vấn nạn này. Cho nên, nếu để tránh mọi bệnh tật với một tâm linh phải “hư không hóa”, có lẽ nhiều người đành phải “chọn” bệnh tật vậy?
Ngay cả trong tuổi già, dù mọi tham, sân si gần như đã biến mất, tâm tịnh vẫn là một trạng thái khó đạt. Lấp ló ở phòng đợi của “thiên đường”, tôi vẫn thấy mình không sao thoát tục được. Vẫn còn chút giận dữ khi nhìn cái ngu xuẩn, của mình hay của người thân yêu, đêm đêm vẫn chút buồn với những giấc mơ không đạt đến, và ngày ngày vẫn chút ghen tị với sức khỏe của những người đồng lứa tuổi. Dĩ nhiên, tôi hiểu đây là cái giá phải trả cho cái tính cầu toàn…nhưng thay đổi quán tính của 70 năm vẫn là thử thách quá lớn.
Tuy nhiên, ở một lăng kính khác, tôi nghĩ tâm tịnh cũng cần một chút “nhân tính” để cân bằng.
Đừng cảm xúc quá độ đễ phẫn nộ hủy hoại trái tim, để trầm cảm tàn phá bao tử, hay để hận thù tạo nên ung thư…nhưng một con người “hạnh phúc” vẫn cần biết hoan lạc với một bản nhạc tuyệt vời, vẫn buồn nhớ xa xôi khi trời đổ mưa rào hay vẫn ham muốn lan man khi thả hồn theo mộng? Đời sống dù ở lối đi chậm nhất vẫn cần hơi thở hay di chuyển.
Năm ngoái, có chút thì giờ, tôi bay lên Omaha, Nebraska dự đại hội thường niên của Berkshire Hathaway. Cái đinh của sự kiện luôn là sự xuất hiện của thần tượng Warren Buffett trước sự cổ võ nồng nhiệt của hơn 40 chục ngàn cổ đông hiện diện. Khi bước lên sân khấu, ngài Buffett, có Bill Gates lẽo đẽo theo sau, vẫy tay cười tươi với cả vận động trường. Theo truyền thống, ông quăng một tờ báo vào 1 căn nhà do công ty Clayton của ông xây mẫu, nó rơi khá xa cho thấy sức ném của ông già. Ông la lớn,” Hello and Welcome Again” về phía VIP section, cho thấy tiếng nói còn nhiều sinh lực.
Nhìn ông, tôi không còn cái ấn tượng ngưỡng mộ về thành tựu hay tài sản hay danh tiếng của ông như những năm trước khi tôi còn trẻ và đầy tham vọng. Tôi chỉ có chút ganh tị là sao ông già hơn tôi 15 tuổi mà ông có thể khỏe mạnh và yêu đời đến vậy? Cảm giác này cũng hiện hữu khi tôi gặp chủ nhân một quán cà phê ở Little Saigon. Ông đã 82 tuổi nhưng rất nhanh nhẹn, tháo vát trong công việc…với một cánh tay rắn chắc và một cơ bắp nổi cộm từ eo bụng. Đây là những lúc tôi thấy mình thấp kém hơn nhiều người khác.
Từ những khoảnh khắc này, tôi mới hiểu lòng tham là một phần của sự sống. Đó là khởi đầu của mọi thứ xấu xa nhất, cũng như êm đẹp nhất, tùy lựa chọn và tùy thời điểm. Tôi thấy mình không còn tham muốn chút gì về quyền lực, danh tiếng, tiền bạc hay nhục dục, nhưng trong cái tuổi 70, mình vẫn ham muốn một sức khỏe dồi dào, sung mãn. Nó cho phép ta tận hưởng những thú vui, dù đơn giản và nhỏ nhặt, nhưng lại là lẽ sống để “moving on”, ngày qua ngày.
Sau cùng, biện luận theo trái tim và trực giác khác với phân tích sâu xa của lý trí. Có thể tâm tịnh chỉ là một hình thái của placebo effect trong việc chữa trị bệnh. (Placebo effect là một hiện tượng tâm lý hay dùng trong các thử nghiệm y học. Một nhóm người nghĩ là mình được điều trị bằng dược phẩm vẫn có thể tìm thấy tác dụng tích cực, dù rằng thực sự họ chỉ đã dùng nước lạnh hay thuốc ảo, không có một chất trị liệu nào). Nếu tịnh tâm chỉ là một tác động tâm lý thì nguồn gốc của bệnh tật vẫn là hữu cơ?
Một anh bạn lớn hơn tôi 5 tuổi, hăng say công việc, đi về châu Á liên tục như một executive mới hơn 30 tuổi. Anh nói kết quả không thành vấn đề, nhưng nếu không có cái đam mê kinh doanh này, chỉ ngồi thiền nhìn biển núi như một tu sĩ, chắc anh chết sớm theo vợ. Anh chắc chắn rằng tâm tịnh chỉ làm anh rối thêm. Cuộc sống bận rộn, nhiêu khê, áp lực…lại là “perfect” với anh, một lựa chọn lạ ở tuổi 75. Có lẽ DNA của anh đã được cấu trúc theo định mệnh này?
Nhưng dù thế nào, tâm tịnh vẫn là yếu tố quan trọng trong việc phát triển con người toàn diện của mình. Tâm có tịnh, tầm nhìn mới thông suốt và môi trường chung quanh hiển thị rõ hơn con đường đang chọn. Tâm có tịnh, mới gạn lọc đầy đủ kiến thức thật khách quan, khoa học, không để mây mù của cảm xúc, thiên kiến, giáo điều…vẩn đục. Tâm có tịnh, tinh thần mới sáng suốt minh mẫn để nhận ra những cạm bẫy của quyền lực tha hóa, ngụy trang dưới những chiêu bài tốt lành. Tâm có tịnh, sự hòa nhập vào Vũ Trụ mới thực sự được khơi dậy để biết định vị cho số phận nhỏ bé của kiếp người.
Tôi đành an ủi mình với câu nói về “tĩnh lặng” của Robert Kennedy,” Đôi khi chúng ta mong ước được sống ở một thế giới bình lặng hơn, nhưng không được. Nếu thời đại chúng ta có nhiều khó khăn và phức tạp; nó cũng chứa đựng nhiều thử thách và cơ hội”. (All of us might wish at times that we lived in a more tranquil world, but we don’t. And if our times are difficult and perplexing, so are they challenging and filled with opportunity).
Alan Phan

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

Nụ Cười Việt

Nguồn : Vững Đại Phát 
Phía sau nụ cười
Tác Giả: Tuấn Khanh – Blog TK – 6 May 2015
Rất nhiều người lý giải chuyện đoàn cán bộ của Hội Chữ Thập Đỏ ở Nepal bị phản ứng dữ dội, do một người trong đoàn đã chụp ảnh, trỏ vào đống đổ nát sau động đất và cười. Hành động đó bị nhiều người Việt Nam chỉ trích dữ dội coi là “không nhân văn”, “vô nhân đạo”… tuy nhiên, thật ra vẫn có nhiều cách giải thích để thấy rằng nụ cười đó không phải là tội.
Ngay trong 9gag.com, một trang web hài hước có hàng triệu người xem, công chúng cũng không màng đến nụ cười của chị cán bộ, mà chỉ cười chuyện khi vô số những khách du lịch không chuyên môn cứu hộ cùng người dân Nepal ra sức giải nạn, thì những nhà thiết kế giải nạn chuyên nghiệp đã lên máy bay về nước lập tức.
Nụ cười của chị cán bộ không có tội. Nụ cười đó là một nét đặc trưng của người Việt xã hội chủ nghĩa hôm nay vẫn luôn cười ngô nghê trước mọi chuyện. Nụ cười đó có thể là cách trần tình về sự may mắn của chính chị ta, sau khi thoát nạn trước cảnh tượng quá đáng sợ. Nụ cười của người Việt qua mấy mươi năm, dường như đã không còn là biểu cảm cụ thể, mà chỉ là cách giới thiệu cho một sự tồn tại đơn giản. Giống như không ít quan chức vẫn cười khi nói về sự liêm khiết của họ, mai thì đã nghe khám phá họ đang tham nhũng. Trong những video ghi lại cảnh CSGT nhận tiền không biên nhận trên xa lộ vẫn mĩm cười, trong khi nạn nhân nhăn nhó. Thậm chí, ở trước tòa, công an viên bị tố cáo dùng nhục hình đánh chết công dân ở Phú Yên, vẫn cười rất tươi.
Thật ra, ẩn sâu sau tất cả những lời giận dữ về nụ cười hay cái chỉ tay của chị cán bộ ấy, có lẽ chỉ là một phần của tảng băng ngầm chất chứa rất nhiều điều khác. Chuyện đoàn công tác Hội Chữ Thập Đỏ đi “công vụ bí mật” nhằm học hỏi cách ứng phó thiên tai đó, làm không ít người liên tưởng đến vô số các đoàn “công tác” nhân danh từ việc tham quan học hỏi chăn nuôi cho đến học tổ chức quốc gia… nhưng phần lớn là sử dụng tiền ngân sách Nhà nước, tiền đóng thuế của nhân dân như những chuyến du lịch nhàn nhã và “bí mật” cho “công vụ” của mình. Hầu hết các cuộc công du đó chưa chứng minh được đã bồi đắp gì cho quốc gia, mà chỉ thấy người dân còng lưng ra để lấp vào chỗ trống thâm hụt.
Một quốc gia nghèo khó như Việt Nam, với nợ công nợ vào khoảng 60,3% GDP của cả nước nhưng chuyện cung cấp tiền “công tác” nước ngoài của giới cán bộ lại hào phóng không tưởng nổi. Năm 2012, Việt Nam có 3.780 đoàn của bộ, ngành đi nước ngoài, mà theo tính toán thì như vậy, trung bình một ngày có 6 đoàn lên máy bay. Năm 2013, cũng có đến 3.200 đoàn. Hầu hết các đoàn đều có “bí mật công vụ” không khác gì với đoàn của Hội Chữ Thập Đỏ. “Bí mật” vì danh sách tất cả các đoàn đi nước ngoài này chưa bao giờ được minh bạch công bố với dân chúng, để được kiểm soát một cách hợp lý.
Có lẽ chưa tìm hiểu được hết, nhưng không khéo thì sẽ có lúc người dân tìm thấy có những đoàn đi công tác ở Mỹ hay nhiều nước Châu Âu chỉ nhằm nghiên cứu xây hệ thống nhà vệ sinh công cộng đô thị hoặc sơn màu xe bus cho hợp thị hiếu người Việt. Dĩ nhiên chuyện nhà vệ sinh vẫn là công vụ, và rất bí mật.
Một chi tiết khác trong sự kiện đoàn Hội Chữ Thập Đỏ bị chỉ trích, qua vụ động đất ở Nepal, là chuyện chị cán bộ Hội khi bị áp lực dư luận đã nhờ đến luật sư để bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích cá nhân của mình.
Đây là một điều đáng mừng, vì theo lẽ thường, những cán bộ trong quá trình công vụ và bí mật của mình, vẫn nhờ cơ quan công an “vào cuộc”, như một thói quen lâu ngày ở xã hội không coi trọng giá trị ngành tư pháp. Ý thức về tư hữu và những “quyền” con người đầy tính hội nhập với thế giới tư bản, đang giới thiệu cho thấy rằng trước khi bày tỏ được về những khả năng chuyên môn, giới cán bộ có cơ hội đi tắt đón đầu đã có thêm ít nhiều kinh nghiệm về cách bảo vệ mình, nhân danh luật pháp.
Chắc chắn, trong sự tức giận của đám đông mà người ta đang thấy mỗi ngày về chuyện Hội Chữ Thập Đỏ, vẫn có người vừa kể chuyện vừa cười. Như vậy đó, nụ cười không có tội. Nụ cười giờ đây chỉ là động tác trung gian đứng giữa 2 thế giới mộng và thật. Nụ cười mà chúng ta đang thấy trong xã hội đôi khi mở ra để giới thiệu những điều sâu thẳm khác, hoặc khép lại như tấm màn nhung kịp lúc của một sân khấu thô bỉ.
Trong L’homme qui rit (Người cười) của Victor Hugo, có những người được chọn để rạch miệng như đang cười, nhằm mua vui cho triều đình. Ngay cả khi họ khóc, cũng ngỡ như họ đang cười ra nước mắt. Sau khi triều đình sụp đổ, họ luôn phải mặc áo choàng cao cổ để tránh bị hiểu lầm là đang cười vào đời sống nghèo khó và hỗn loạn bấy giờ.
Cũng như những người ngồi vỉa hè, quanh ly cà phê và kể chuyện Nepal, kể chuyện chị cán bộ, trên những khuôn mặt nhân dân rất biểu trưng đó vẫn có những nụ cười, nhưng tôi nhìn rất lâu mà vẫn không dám chắc liệu đó có phải là nụ cười thật sự hay không nữa.
Tuấn Khanh

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Nguỵ biện

Nguồn : Vững Đại Phát 
Nguỵ biện
Tác Giả: Nguyễn Văn Tuấn – 3 May 2015
Cách đây trên 10 năm tôi căn cứ vào những gì mình học qua và có viết một bài khá dài để liệt kê những nguỵ biện phổ biến ở người Việt. Bài đó được phổ biến rất nhiều qua từng ấy năm. Nhưng hôm qua, nhân một cái note nhỏ về “Chứng từ của tội lỗi” (tôi không dùng chữ “tội ác”), tôi mới thấy thói nguỵ biện vẫn còn tồn tại trong khá nhiều bạn đọc.
Tôi thấy một nguỵ biện phổ biến nhất là đánh tráo vấn đề. Tiếng Anh gọi là distraction. Có nhiều thói trong nhóm nguỵ biện này, nhưng một số thói phổ biến tôi thấy trong thực tế là:
Thứ nhất là thói nguỵ biện có tên mà tiếng Anh gọi là “red herring”, hiểu theo nghĩa đánh tráo vấn đề. Chữ “red herring” có nguồn gốc từ thế kỉ 19 khi những người thợ săn dùng mùi cá để đánh lạc hướng và huấn luyện chó săn. Câu chuyện là cây búa được dùng cho việc giết người, người dùng nó là người của chính quyền đương thời, và việc sử dụng công cụ này được chính chính quyền xác định trên giấy trắng mực đen. Cây búa là một chứng từ nói lên tính man rợ trong thời chiến của phe chính quyền. Người đọc có suy tư phải suy nghĩ, tìm hiểu, lí giải vấn đề, và giúp người khác hiểu sâu thêm.
Nhưng có người lại đánh tráo vấn đề bằng cách cho rằng phía VNCH cũng ác ôn không kém. Nhưng đối tượng chính ở đây là chứng từ tội lỗi ngày xưa của phía chính quyền hiện hành, chứ không phải là VNCH. Bằng cách lái vấn đề sang VNCH, người ta, hoặc cố ý hoặc vô ý, đánh tráo từ một vấn đề A sang vấn đề B. Hệ quả của sự đánh tráo như thế là làm cho người khác, nếu không tinh ý và tập trung, sẽ bị lẫn lộn vấn đề. Từ lẫn lộn dẫn đến việc bàn luận chẳng đi đến đâu, và cuối cùng chỉ là những lời qua tiếng lại một cách vô nghĩa. Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua những tội ác của VNCH, nhưng ở đây không phải là chủ đề đó, nên đánh tráo sang nó là rất không có ích.
Một loại nguỵ biện khác là tấn công cá nhân. Tiếng Anh gọi là ad hominem. Thật ra, thói nguỵ biện này rất ư phổ biến trong báo chí Việt Nam. Thay vì bàn luận về vấn đề thì người ngụy biện đem người đặt vấn đề ra chửi bới cá nhân. Ví dụ về thói này thì rất rất nhiều, nhưng tôi nghĩ biểu nhất là sự việc chung quanh ông Cù Huy Hà Vũ. Ông Hà Vũ là người bất đồng chính kiến với chính quyền, ông kêu gọi hợp – hoà giải dân tộc, ông kêu gọi dân chủ, ông nêu những vấn đề “dân oan”, v.v. Nhưng thay vì đối thoại với ông, thì những người trong chính quyền (và báo chí) bơi móc đời tư cá nhân của ông, và những tranh chấp trong gia đình ông. Người ta có lẽ muốn chứng minh rằng ông Hà Vũ đời thường cá nhân là tệ thế thì những gì ông ấy nói là không đáng để nghe. (Nói như thế thì đời tư các lãnh đạo từ ông Lê Duẩn đến ông Clinton, ông nào cũng có vấn đề đời tư cá nhân cả, thì không tin họ sao?) Không phân biệt được cá nhân và quan điểm của cá nhân là dễ dẫn đến bàn luận chẳng đi đến đâu.
Tuy nhiên, thói tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất thấp kém nhưng lại rất lợi hại. Lợi hại là vì công chúng thích những chuyện đời tư cá nhân hơn là động não suy nghĩ chuyện lớn. Hệ quả của ad hominem cũng là đánh tráo vấn đề: chuyển đối tượng bàn luận sang chuyện cá nhân.
Một thói nguỵ biện hay được đem ra sử dụng là ví von bất xứng (false analogy). Thông thường, đây là thói nguỵ biện so sánh một sự việc đang bàn với một sự việc khác, nhưng các yếu tố trong so sánh không tương đồng với nhau. Tiêu biểu cho thói ngụy biện này là cách nói “nếu xem gói thuốc nổ trong bánh là khủng bố, thì việc bỏ bom cũng là khủng bố”. Nhưng hai sự việc rất khác nhau. Việc giả cái bánh để giết người là hành động lén lút ám sát, còn việc bỏ bom là hành động được tuyên bố trong một cuộc chiến. Không thể so sánh và đánh đồng hai sự việc như nhau được. Tương tự, cây búa và cây súng khác nhau xa về ý nghĩa trong chiến tranh, nhưng có người nói dùng súng để bắn chết người trong chiến tranh là ok thì dùng búa cũng ok. Nhưng cây búa không phải là công cụ để tự vệ trong chiến tranh, không phải là “conventional war”, mà nếu dùng nó để giết người trong chiến tranh thì phải xem đó là tội phạm. Không thể đánh đồng cây búa và cây súng được. Chiến tranh cũng có luật chơi của nó.
Thói nguỵ biện hay thấy ở người Việt là thói mà tiếng Anh gọi là ignorance – tức là thiếu thông tin (hay có người dịch là “dốt”). Một số đông các bạn trẻ trong nước bị tuyên truyền và nhồi sọ quá lâu, nên họ không phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Đến thời điểm này mà vẫn đem những Lê Văn Tám, những tay không kéo máy bay trực thăng, những “lê máy chém khắp nơi”, v.v. là rất đáng trách. Đó không phải là những sự thật, mà chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và giả dối. Mà, những sự kiện giả dối thì không thể dùng trong bàn luận nghiêm chỉnh được.
Tôi thấy thỉnh thoảng có thói nguỵ biện đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua cách nói “Nếu VNCH thắng thì tình hình cũng thế”, và hàm ý là “tình hình tồi tệ hiện nay là chấp nhận được”. Thói nguỵ biện này phạm phải 2 cái sai lầm. Thứ nhất là sự việc đã không xảy ra, và cách nói chỉ là giả thuyết. Thứ hai, cách nói đó giả định rằng chế độ VNCH là chuẩn mực, một điều rất khó kiểm chứng trong thực tế. Tuy nhiên, cách nói như thế là rất thấp, vì nó là kiểu đánh vào … không khí (vì sự việc không xảy ra).
Điều đáng tiếc là những nguỵ biện như thế vẫn xảy ra hàng ngày trong thế giới mạng. Chẳng những thế mà còn xảy ra ở nhiều quan chức cao cấp. Có những nguỵ biện rất hài hước như IQ và đường sắt cao tốc, như số báo chí và đài truyền hình là tự do báo chí, như học tập cải tạo là thể hiện lòng nhân ái, vân vân và vân vân.
Nguỵ biện là hệ quả của sự lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta phải sử dụng những gì sẵn có. Những gì sẵn có là khẩu hiệu nhan nhãn từ mấy chục năm nay. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy sinh viên (và những người lười suy nghĩ) thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ thì họ cho ngay cái nhận xét “phản động”. Thấy ai nói về hành động tàn ác trong chiến tranh, họ nghĩ ngay đến “phía bên kia cũng ác ôn”. Dùng phía bên kia để biện minh cho sự ác ôn của mình là khó thuyết phục, nhưng nó làm cho họ cảm thấy an lòng. Họ chỉ thốt cái chữ đó ra theo quán tính, chứ chưa chắc họ biết cái nghĩa thật của chữ đó là gì.
Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Loạt Bài Về Hướng Đi Cho Nông Nghiệp

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bài 1:
Vì sao ngành nông nghiệp Mỹ đứng hàng đầu thế giới?
Tổng Hợp của Nhật Hạ – Theo Đại Kỷ Nguyên – 4 May 2015
Nước Mỹ có ngành nông nghiệp tân tiến, hiện đại nhất thế giới. Lao động nông nghiệp chiếm khoảng 1% trong tổng dân số 322 triệu người. Nếu tính dưới góc độ lực lượng lao động thì lao động ngành nông nghiệp của Mỹ chỉ chiếm 0,7% tổng số lực lượng lao động của toàn nước Mỹ tính đến thời điểm năm 2014 (với 155.421.000 người).
Diện tích nước Mỹ là 9,161,923 km2, trong đó diện tích đất có thể canh tác được chiếm 18,1%. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tháng 02/2014, Mỹ có 2,109,363 tổng số nông trại, trung bình mỗi trại có diện tích 174 héc ta.
Năm 2012, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp đạt 394.6 tỷ đô la Mỹ, tăng 33% so với năm 2007, trong đó giá trị các sản phẩm trồng trọt là 219.6 tỷ đô la, giá trị sản phẩm chăn nuôi đạt 171.7 tỷ đô la.
Xuất nhập khẩu nông sản, Mỹ là nước dẫn đầu thế giới, ước tính chiếm 18% thị phần thương mại nông sản của toàn cầu.Từ năm 1960 đến năm 2014, Mỹ luôn thặng dư về thương mai các sản phẩm nông nghiệp, ví dụ như xuất khẩu nông sản năm năm 2014 ước tính đạt 149.5 tỷ đô la, chiếm hơn 10% tổng số kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng và thặng dư mậu dịch nông nghiệp lên đến hơn 38.5 tỷ đô la Mỹ.
Dưới đây là một số lý do giải thích vì sao nước Mỹ có một tỷ lệ nông dân rất nhỏ so với tổng lực lượng lao động, mà lại có một nền nông nghiệp lớn mạnh như vậy.
1- Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của chính phủ
Các chính sách ủng hộ việc phát triển nông nghiệp của chính phủ Mỹ đã làm nên sự thành công của ngành nông nghiệp Mỹ. Ngay từ thời kỳ đầu, Chính phủ đã ban hành luật đất đai vào năm 1862 quy định phát không đất đai cho những người đến sống và làm việc trên các mảnh đất trống tại miền Tây nước Mỹ, tạo điều kiện cho một số nông dân được định cư, lập nghiệp dễ dàng.
Vào năm 1914, Quốc hội Mỹ đã lập ra cơ quan Dịch vụ phát triển nông nghiệp, cơ quan này tuyển dụng đội ngũ cán bộ để cố vấn cho các hộ nông dân từ bước sử dụng phân bón cho đến các khâu sau của quy trình sản xuất nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp đảm nhiệm tiến hành các nghiên cứu mới, cho ra đời những loại phân bón làm tăng sản lượng hạt, các loại giống lai cho cây trồng khoẻ hơn, các phương pháp chữa trị nhằm bảo vệ và cứu chữa cây trồng vật nuôi chống được bệnh tật, và nhiều phương pháp khác kiểm soát các loài vật gây hại.
Vào năm 1929, tổng thống Herbert Hoover thành lập ban nông nghiệp liên bang nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế cho nông dân. Năm 1933, Tổng thống Franklin D. Roosevelt cho phép thực hiện một hệ thống trợ giá cho nông dân một mức giá gần bằng giá lúc thị trường ở điều kiện ổn định bình thường. Đồng thời, trong khoảng thời gian từ 1933 đến 1996, chính phủ cho nông dân vay tiền canh tác, nông dân có quyền trả nợ theo giá quy định trong hợp đồng. Cụ thể là vào những thời điểm sản xuất dư thừa, nông dân bán sản phẩm cho chính phủ, còn vào lúc giá nông phẩm cao, nông dân có quyền bán sản phẩm cho các công ty kinh doanh lương thực để tăng lợi tức.
)Ngoài ra, chính phủ còn đề ra chính sách bảo tồn, dưỡng đất dự trữ. Sự can thiệp với quy mô lớn vào ngành nông nghiệp Mỹ được kéo dài cho đến tận cuối những năm 1990. Sau đó, chính sách trợ giá nông nghiệp chỉ duy trì ở mức thấp, chính phủ tập trung vào chương trình dự trữ chiến lược, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, để phục vụ hiệu quả cho ngành nông nghiệp Mỹ.
Hiện nay, chính phủ đang chú trọng đến xuất khẩu nông sản, và đặc biệt quan tâm đến tính vững bền của lực lượng lao động nông nghiệp. Thượng viện vừa thông qua dự luật di dân nhằm mục đích bảo đảm có đủ số công nhân cần thiết cho nền nông nghiệp, đặc biệt là vào mùa gặt hái, chăn nuôi gia súc, và sản xuất nông phẩm cần thiết cho xuất khẩu. Đạo luật này cũng mở đường cho những người làm việc trong ngành nông nghiệp Mỹ mà chưa có giấy tờ hợp lệ được phép nhập cư vào Mỹ.
Chính nhờ các chính sách hỗ trợ một cách hiệu quả này đã mang lại cho ngành nông nghiệp Mỹ một kết quả tốt đẹp như ngày hôm nay.
2. Tính tự chủ và sáng kiến của nông dân
Xét trên giác độ lịch sử, nông dân Mỹ được nhìn nhận với tính tự chủ rất cao, cần cù, sáng tạo, kiên nhẫn và đầy nhiệt huyết. Và thời kỳ đầu, những người nông dân này đến Mỹ với bàn tay trắng, tự làm việc trên những mảnh đất không có giấy tờ sở hữu. Năm 1790 nông dân Mỹ chiếm 90% dân số. Số lượng nông dân giảm liên tiếp qua thời gian, đến năm 1920, nông dân Mỹ chiếm 30.8% tổng dân số, đến năm 1960, họ chiếm 8,3% tổng dân số và đến thời điểm năm 2014, ước tính số lượng nông dân Mỹ thực sự hoạt động trên đồng ruộng chỉ chiếm khoảng 1% trong tổng số toàn dân Mỹ.
Những người nông dân này thực hiện vận hành các nông trại nhỏ và vừa được của chính gia đình họ, hay họ thành lập nên những công ty do chính họ làm chủ, chiếm tới 95% tổng diện tích đất nông nghiệp được canh tác, 5% còn lại thuộc về các tập đoàn lớn làm chủ
Nông dân Mỹ sử dụng máy móc rất thành thạo, có trình độ hiểu biết cao về nông nghiệp và kinh tế, nhiều người có bằng đại học. Họ chú trọng vào việc cải thiện kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi gia súc dẫn đến sản lượng nông nghiệp tăng mạnh. Hình ảnh người nông dân Mỹ ngày nay là hình ảnh của người công nhân nông nghiệp. Họ hay mặc quần jean, áo carô màu, sống trong những khu vực đầy đủ tiện nghi.Thu nhập của người làm nghề nông ở Mỹ khá cao, mức lương trung bình hiện nay của một công nhân nông nghiệp Mỹ là 61.000 đô la/năm. Tính trên hộ gia đình thì thu nhập trung bình của một gia đình nông dân năm 1960 là 4.654 đô la, đến năm 2012 thì thu nhập trung bình là 108.814 đô la, tăng 23,38 lần trong thời gian 52 năm.
3. Áp dụng phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong sản xuất nông nghiệp
Nước Mỹ đặc biệt nhấn mạnh đến việc cơ giới hóa các phương tiện canh tác, sử dụng máy móc thay thế cho sức người và sức súc vật. Chi phí máy móc chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng chi phí đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Việc cơ giới hóa máy móc không chỉ đơn thuần là tăng số lượng máy móc trên cánh đồng mà còn chú ý đến thực hiện kết hợp các tính năng để tạo ra các máy liên hoàn, kết hợp máy kéo với máy cày, máy gieo trồng, máy gặt. Hay các sáng kiến về các loại máy móc có thể canh tác được ở những vùng đất cứng mà sức người khó có thể làm được. Hầu như mọi hoạt đông trong sản xuất nông nghiệp đều thực hiện bằng máy móc, từ làm đất, gieo trồng, bón phân, tưới tiêu đến gặt hái. Nông dân còn dùng máy bay để phun thuốc trừ sâu, dùng máy điện toán đề theo dõi kết quả thu hoạch. Ngày nay, không có gì lạ khi nhìn thấy những người nông dân lái máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và rất đắt tiền.
Vào đầu thế kỷ 20, phải có 4 nông dân mới sản xuất nông phẩm đủ nuôi cho 10 người, ngày nay, một nông dân Mỹ có thể cung cấp đủ lương thực nuôi 100 người Mỹ và 32 người đang sống tại các nước trên thế giới.
Với diện tích đất canh tác rộng lớn nên việc áp dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong sản xuất nông nghiệp đã khiến cho năng suất lao động tăng mạnh. Bên cạnh đó, mặc dù có những đợt lũ lụt và hạn hán nhưng nhìn chung lượng nước mưa tương đối đấy đủ, nước sông và nước ngầm cho phép tưới tiêu tại các tiểu bang thiếu nước. Vùng đất phía Tây thuộc miền Trung nước Mỹ có đất đai canh tác màu mỡ. Chính vì vậy khi đến Mỹ, người ta thường thấy những cánh đồng ngô, đậu nành, lúa mì, cam, cánh đồng cỏ, rộng mênh mông, xanh tươi, bát ngát.
Với những lý do trên, ngành nông nghiệp Mỹ đã đạt được những thành tựu to lớn, thực sự đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Mỹ, với các loại thực phẩm dồi dào với giá rẻ, tạo thêm công ăn, việc làm cho các ngành chế biến, sản xuất máy móc, và đặc biệt dịch vụ xuất khẩu nông phẩm đi khắp các nước trên thế giới.
4. Bài học cho chúng ta
Nhìn lại ngành nông nghiệp Việt Nam, cho đến thời điểm này, năng suất lao động trong ngành nông nghiệp của Việt Nam luôn thấp nhất trong nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thấp và không thể bắt kịp được năng suất lao động của các nước này kể từ năm 2005. Trong khi đó, năng suất lao động của ngành nông nghiệp lại đang có xu hướng chững lại, hiện chỉ bằng 1/3 so với năng suất chung của cả nước. Theo thông tin từ Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), giá trị gia tăng nông nghiệp trên mỗi lao động của Việt Nam năm 2011 đạt chưa tới 400 USD/người, thấp hơn cả Lào và Campuchia. Mặc dù nông nghiệp cũng là lĩnh vực duy nhất của Việt Nam luôn có xuất siêu trong nền kinh tế. Trong vòng gần 3 thập niên, nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng đều đặn, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới với các sản phẩm như gạo, tiêu, điều, sắn, chè, cao su.
Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là tăng trưởng nông nghiệp và năng suất có xu hướng chững lại, tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nông nghiệp giảm dần từ mức bình quân 4,5% giai đoạn 1995-2000 xuống 3,8% giai đoạn 2000-2005 và chỉ còn 3,4% giai đoạn 2006-2012.
Chính vì vậy, để có được những bước đột phá cho ngành nông nghiệp Việt Nam, có lẽ cần có những chính sách sát hữu hiệu giúp đỡ người nông dân một cách toàn diện hơn nữa. Có như vậy ngành nông nghiệp Việt Nam mới có thể phát triển bền vững.
Nhật Hạ tổng hợp