Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Nguỵ biện

Nguồn : Vững Đại Phát 
Nguỵ biện
Tác Giả: Nguyễn Văn Tuấn – 3 May 2015
Cách đây trên 10 năm tôi căn cứ vào những gì mình học qua và có viết một bài khá dài để liệt kê những nguỵ biện phổ biến ở người Việt. Bài đó được phổ biến rất nhiều qua từng ấy năm. Nhưng hôm qua, nhân một cái note nhỏ về “Chứng từ của tội lỗi” (tôi không dùng chữ “tội ác”), tôi mới thấy thói nguỵ biện vẫn còn tồn tại trong khá nhiều bạn đọc.
Tôi thấy một nguỵ biện phổ biến nhất là đánh tráo vấn đề. Tiếng Anh gọi là distraction. Có nhiều thói trong nhóm nguỵ biện này, nhưng một số thói phổ biến tôi thấy trong thực tế là:
Thứ nhất là thói nguỵ biện có tên mà tiếng Anh gọi là “red herring”, hiểu theo nghĩa đánh tráo vấn đề. Chữ “red herring” có nguồn gốc từ thế kỉ 19 khi những người thợ săn dùng mùi cá để đánh lạc hướng và huấn luyện chó săn. Câu chuyện là cây búa được dùng cho việc giết người, người dùng nó là người của chính quyền đương thời, và việc sử dụng công cụ này được chính chính quyền xác định trên giấy trắng mực đen. Cây búa là một chứng từ nói lên tính man rợ trong thời chiến của phe chính quyền. Người đọc có suy tư phải suy nghĩ, tìm hiểu, lí giải vấn đề, và giúp người khác hiểu sâu thêm.
Nhưng có người lại đánh tráo vấn đề bằng cách cho rằng phía VNCH cũng ác ôn không kém. Nhưng đối tượng chính ở đây là chứng từ tội lỗi ngày xưa của phía chính quyền hiện hành, chứ không phải là VNCH. Bằng cách lái vấn đề sang VNCH, người ta, hoặc cố ý hoặc vô ý, đánh tráo từ một vấn đề A sang vấn đề B. Hệ quả của sự đánh tráo như thế là làm cho người khác, nếu không tinh ý và tập trung, sẽ bị lẫn lộn vấn đề. Từ lẫn lộn dẫn đến việc bàn luận chẳng đi đến đâu, và cuối cùng chỉ là những lời qua tiếng lại một cách vô nghĩa. Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua những tội ác của VNCH, nhưng ở đây không phải là chủ đề đó, nên đánh tráo sang nó là rất không có ích.
Một loại nguỵ biện khác là tấn công cá nhân. Tiếng Anh gọi là ad hominem. Thật ra, thói nguỵ biện này rất ư phổ biến trong báo chí Việt Nam. Thay vì bàn luận về vấn đề thì người ngụy biện đem người đặt vấn đề ra chửi bới cá nhân. Ví dụ về thói này thì rất rất nhiều, nhưng tôi nghĩ biểu nhất là sự việc chung quanh ông Cù Huy Hà Vũ. Ông Hà Vũ là người bất đồng chính kiến với chính quyền, ông kêu gọi hợp – hoà giải dân tộc, ông kêu gọi dân chủ, ông nêu những vấn đề “dân oan”, v.v. Nhưng thay vì đối thoại với ông, thì những người trong chính quyền (và báo chí) bơi móc đời tư cá nhân của ông, và những tranh chấp trong gia đình ông. Người ta có lẽ muốn chứng minh rằng ông Hà Vũ đời thường cá nhân là tệ thế thì những gì ông ấy nói là không đáng để nghe. (Nói như thế thì đời tư các lãnh đạo từ ông Lê Duẩn đến ông Clinton, ông nào cũng có vấn đề đời tư cá nhân cả, thì không tin họ sao?) Không phân biệt được cá nhân và quan điểm của cá nhân là dễ dẫn đến bàn luận chẳng đi đến đâu.
Tuy nhiên, thói tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất thấp kém nhưng lại rất lợi hại. Lợi hại là vì công chúng thích những chuyện đời tư cá nhân hơn là động não suy nghĩ chuyện lớn. Hệ quả của ad hominem cũng là đánh tráo vấn đề: chuyển đối tượng bàn luận sang chuyện cá nhân.
Một thói nguỵ biện hay được đem ra sử dụng là ví von bất xứng (false analogy). Thông thường, đây là thói nguỵ biện so sánh một sự việc đang bàn với một sự việc khác, nhưng các yếu tố trong so sánh không tương đồng với nhau. Tiêu biểu cho thói ngụy biện này là cách nói “nếu xem gói thuốc nổ trong bánh là khủng bố, thì việc bỏ bom cũng là khủng bố”. Nhưng hai sự việc rất khác nhau. Việc giả cái bánh để giết người là hành động lén lút ám sát, còn việc bỏ bom là hành động được tuyên bố trong một cuộc chiến. Không thể so sánh và đánh đồng hai sự việc như nhau được. Tương tự, cây búa và cây súng khác nhau xa về ý nghĩa trong chiến tranh, nhưng có người nói dùng súng để bắn chết người trong chiến tranh là ok thì dùng búa cũng ok. Nhưng cây búa không phải là công cụ để tự vệ trong chiến tranh, không phải là “conventional war”, mà nếu dùng nó để giết người trong chiến tranh thì phải xem đó là tội phạm. Không thể đánh đồng cây búa và cây súng được. Chiến tranh cũng có luật chơi của nó.
Thói nguỵ biện hay thấy ở người Việt là thói mà tiếng Anh gọi là ignorance – tức là thiếu thông tin (hay có người dịch là “dốt”). Một số đông các bạn trẻ trong nước bị tuyên truyền và nhồi sọ quá lâu, nên họ không phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Đến thời điểm này mà vẫn đem những Lê Văn Tám, những tay không kéo máy bay trực thăng, những “lê máy chém khắp nơi”, v.v. là rất đáng trách. Đó không phải là những sự thật, mà chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và giả dối. Mà, những sự kiện giả dối thì không thể dùng trong bàn luận nghiêm chỉnh được.
Tôi thấy thỉnh thoảng có thói nguỵ biện đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua cách nói “Nếu VNCH thắng thì tình hình cũng thế”, và hàm ý là “tình hình tồi tệ hiện nay là chấp nhận được”. Thói nguỵ biện này phạm phải 2 cái sai lầm. Thứ nhất là sự việc đã không xảy ra, và cách nói chỉ là giả thuyết. Thứ hai, cách nói đó giả định rằng chế độ VNCH là chuẩn mực, một điều rất khó kiểm chứng trong thực tế. Tuy nhiên, cách nói như thế là rất thấp, vì nó là kiểu đánh vào … không khí (vì sự việc không xảy ra).
Điều đáng tiếc là những nguỵ biện như thế vẫn xảy ra hàng ngày trong thế giới mạng. Chẳng những thế mà còn xảy ra ở nhiều quan chức cao cấp. Có những nguỵ biện rất hài hước như IQ và đường sắt cao tốc, như số báo chí và đài truyền hình là tự do báo chí, như học tập cải tạo là thể hiện lòng nhân ái, vân vân và vân vân.
Nguỵ biện là hệ quả của sự lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta phải sử dụng những gì sẵn có. Những gì sẵn có là khẩu hiệu nhan nhãn từ mấy chục năm nay. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy sinh viên (và những người lười suy nghĩ) thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ thì họ cho ngay cái nhận xét “phản động”. Thấy ai nói về hành động tàn ác trong chiến tranh, họ nghĩ ngay đến “phía bên kia cũng ác ôn”. Dùng phía bên kia để biện minh cho sự ác ôn của mình là khó thuyết phục, nhưng nó làm cho họ cảm thấy an lòng. Họ chỉ thốt cái chữ đó ra theo quán tính, chứ chưa chắc họ biết cái nghĩa thật của chữ đó là gì.
Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Loạt Bài Về Hướng Đi Cho Nông Nghiệp

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bài 1:
Vì sao ngành nông nghiệp Mỹ đứng hàng đầu thế giới?
Tổng Hợp của Nhật Hạ – Theo Đại Kỷ Nguyên – 4 May 2015
Nước Mỹ có ngành nông nghiệp tân tiến, hiện đại nhất thế giới. Lao động nông nghiệp chiếm khoảng 1% trong tổng dân số 322 triệu người. Nếu tính dưới góc độ lực lượng lao động thì lao động ngành nông nghiệp của Mỹ chỉ chiếm 0,7% tổng số lực lượng lao động của toàn nước Mỹ tính đến thời điểm năm 2014 (với 155.421.000 người).
Diện tích nước Mỹ là 9,161,923 km2, trong đó diện tích đất có thể canh tác được chiếm 18,1%. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ, tháng 02/2014, Mỹ có 2,109,363 tổng số nông trại, trung bình mỗi trại có diện tích 174 héc ta.
Năm 2012, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp đạt 394.6 tỷ đô la Mỹ, tăng 33% so với năm 2007, trong đó giá trị các sản phẩm trồng trọt là 219.6 tỷ đô la, giá trị sản phẩm chăn nuôi đạt 171.7 tỷ đô la.
Xuất nhập khẩu nông sản, Mỹ là nước dẫn đầu thế giới, ước tính chiếm 18% thị phần thương mại nông sản của toàn cầu.Từ năm 1960 đến năm 2014, Mỹ luôn thặng dư về thương mai các sản phẩm nông nghiệp, ví dụ như xuất khẩu nông sản năm năm 2014 ước tính đạt 149.5 tỷ đô la, chiếm hơn 10% tổng số kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng và thặng dư mậu dịch nông nghiệp lên đến hơn 38.5 tỷ đô la Mỹ.
Dưới đây là một số lý do giải thích vì sao nước Mỹ có một tỷ lệ nông dân rất nhỏ so với tổng lực lượng lao động, mà lại có một nền nông nghiệp lớn mạnh như vậy.
1- Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của chính phủ
Các chính sách ủng hộ việc phát triển nông nghiệp của chính phủ Mỹ đã làm nên sự thành công của ngành nông nghiệp Mỹ. Ngay từ thời kỳ đầu, Chính phủ đã ban hành luật đất đai vào năm 1862 quy định phát không đất đai cho những người đến sống và làm việc trên các mảnh đất trống tại miền Tây nước Mỹ, tạo điều kiện cho một số nông dân được định cư, lập nghiệp dễ dàng.
Vào năm 1914, Quốc hội Mỹ đã lập ra cơ quan Dịch vụ phát triển nông nghiệp, cơ quan này tuyển dụng đội ngũ cán bộ để cố vấn cho các hộ nông dân từ bước sử dụng phân bón cho đến các khâu sau của quy trình sản xuất nông nghiệp. Bộ Nông nghiệp đảm nhiệm tiến hành các nghiên cứu mới, cho ra đời những loại phân bón làm tăng sản lượng hạt, các loại giống lai cho cây trồng khoẻ hơn, các phương pháp chữa trị nhằm bảo vệ và cứu chữa cây trồng vật nuôi chống được bệnh tật, và nhiều phương pháp khác kiểm soát các loài vật gây hại.
Vào năm 1929, tổng thống Herbert Hoover thành lập ban nông nghiệp liên bang nhằm bảo đảm sự ổn định kinh tế cho nông dân. Năm 1933, Tổng thống Franklin D. Roosevelt cho phép thực hiện một hệ thống trợ giá cho nông dân một mức giá gần bằng giá lúc thị trường ở điều kiện ổn định bình thường. Đồng thời, trong khoảng thời gian từ 1933 đến 1996, chính phủ cho nông dân vay tiền canh tác, nông dân có quyền trả nợ theo giá quy định trong hợp đồng. Cụ thể là vào những thời điểm sản xuất dư thừa, nông dân bán sản phẩm cho chính phủ, còn vào lúc giá nông phẩm cao, nông dân có quyền bán sản phẩm cho các công ty kinh doanh lương thực để tăng lợi tức.
)Ngoài ra, chính phủ còn đề ra chính sách bảo tồn, dưỡng đất dự trữ. Sự can thiệp với quy mô lớn vào ngành nông nghiệp Mỹ được kéo dài cho đến tận cuối những năm 1990. Sau đó, chính sách trợ giá nông nghiệp chỉ duy trì ở mức thấp, chính phủ tập trung vào chương trình dự trữ chiến lược, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học, để phục vụ hiệu quả cho ngành nông nghiệp Mỹ.
Hiện nay, chính phủ đang chú trọng đến xuất khẩu nông sản, và đặc biệt quan tâm đến tính vững bền của lực lượng lao động nông nghiệp. Thượng viện vừa thông qua dự luật di dân nhằm mục đích bảo đảm có đủ số công nhân cần thiết cho nền nông nghiệp, đặc biệt là vào mùa gặt hái, chăn nuôi gia súc, và sản xuất nông phẩm cần thiết cho xuất khẩu. Đạo luật này cũng mở đường cho những người làm việc trong ngành nông nghiệp Mỹ mà chưa có giấy tờ hợp lệ được phép nhập cư vào Mỹ.
Chính nhờ các chính sách hỗ trợ một cách hiệu quả này đã mang lại cho ngành nông nghiệp Mỹ một kết quả tốt đẹp như ngày hôm nay.
2. Tính tự chủ và sáng kiến của nông dân
Xét trên giác độ lịch sử, nông dân Mỹ được nhìn nhận với tính tự chủ rất cao, cần cù, sáng tạo, kiên nhẫn và đầy nhiệt huyết. Và thời kỳ đầu, những người nông dân này đến Mỹ với bàn tay trắng, tự làm việc trên những mảnh đất không có giấy tờ sở hữu. Năm 1790 nông dân Mỹ chiếm 90% dân số. Số lượng nông dân giảm liên tiếp qua thời gian, đến năm 1920, nông dân Mỹ chiếm 30.8% tổng dân số, đến năm 1960, họ chiếm 8,3% tổng dân số và đến thời điểm năm 2014, ước tính số lượng nông dân Mỹ thực sự hoạt động trên đồng ruộng chỉ chiếm khoảng 1% trong tổng số toàn dân Mỹ.
Những người nông dân này thực hiện vận hành các nông trại nhỏ và vừa được của chính gia đình họ, hay họ thành lập nên những công ty do chính họ làm chủ, chiếm tới 95% tổng diện tích đất nông nghiệp được canh tác, 5% còn lại thuộc về các tập đoàn lớn làm chủ
Nông dân Mỹ sử dụng máy móc rất thành thạo, có trình độ hiểu biết cao về nông nghiệp và kinh tế, nhiều người có bằng đại học. Họ chú trọng vào việc cải thiện kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật chăn nuôi gia súc dẫn đến sản lượng nông nghiệp tăng mạnh. Hình ảnh người nông dân Mỹ ngày nay là hình ảnh của người công nhân nông nghiệp. Họ hay mặc quần jean, áo carô màu, sống trong những khu vực đầy đủ tiện nghi.Thu nhập của người làm nghề nông ở Mỹ khá cao, mức lương trung bình hiện nay của một công nhân nông nghiệp Mỹ là 61.000 đô la/năm. Tính trên hộ gia đình thì thu nhập trung bình của một gia đình nông dân năm 1960 là 4.654 đô la, đến năm 2012 thì thu nhập trung bình là 108.814 đô la, tăng 23,38 lần trong thời gian 52 năm.
3. Áp dụng phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong sản xuất nông nghiệp
Nước Mỹ đặc biệt nhấn mạnh đến việc cơ giới hóa các phương tiện canh tác, sử dụng máy móc thay thế cho sức người và sức súc vật. Chi phí máy móc chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng chi phí đầu tư vào sản xuất nông nghiệp. Việc cơ giới hóa máy móc không chỉ đơn thuần là tăng số lượng máy móc trên cánh đồng mà còn chú ý đến thực hiện kết hợp các tính năng để tạo ra các máy liên hoàn, kết hợp máy kéo với máy cày, máy gieo trồng, máy gặt. Hay các sáng kiến về các loại máy móc có thể canh tác được ở những vùng đất cứng mà sức người khó có thể làm được. Hầu như mọi hoạt đông trong sản xuất nông nghiệp đều thực hiện bằng máy móc, từ làm đất, gieo trồng, bón phân, tưới tiêu đến gặt hái. Nông dân còn dùng máy bay để phun thuốc trừ sâu, dùng máy điện toán đề theo dõi kết quả thu hoạch. Ngày nay, không có gì lạ khi nhìn thấy những người nông dân lái máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và rất đắt tiền.
Vào đầu thế kỷ 20, phải có 4 nông dân mới sản xuất nông phẩm đủ nuôi cho 10 người, ngày nay, một nông dân Mỹ có thể cung cấp đủ lương thực nuôi 100 người Mỹ và 32 người đang sống tại các nước trên thế giới.
Với diện tích đất canh tác rộng lớn nên việc áp dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong sản xuất nông nghiệp đã khiến cho năng suất lao động tăng mạnh. Bên cạnh đó, mặc dù có những đợt lũ lụt và hạn hán nhưng nhìn chung lượng nước mưa tương đối đấy đủ, nước sông và nước ngầm cho phép tưới tiêu tại các tiểu bang thiếu nước. Vùng đất phía Tây thuộc miền Trung nước Mỹ có đất đai canh tác màu mỡ. Chính vì vậy khi đến Mỹ, người ta thường thấy những cánh đồng ngô, đậu nành, lúa mì, cam, cánh đồng cỏ, rộng mênh mông, xanh tươi, bát ngát.
Với những lý do trên, ngành nông nghiệp Mỹ đã đạt được những thành tựu to lớn, thực sự đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Mỹ, với các loại thực phẩm dồi dào với giá rẻ, tạo thêm công ăn, việc làm cho các ngành chế biến, sản xuất máy móc, và đặc biệt dịch vụ xuất khẩu nông phẩm đi khắp các nước trên thế giới.
4. Bài học cho chúng ta
Nhìn lại ngành nông nghiệp Việt Nam, cho đến thời điểm này, năng suất lao động trong ngành nông nghiệp của Việt Nam luôn thấp nhất trong nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thấp và không thể bắt kịp được năng suất lao động của các nước này kể từ năm 2005. Trong khi đó, năng suất lao động của ngành nông nghiệp lại đang có xu hướng chững lại, hiện chỉ bằng 1/3 so với năng suất chung của cả nước. Theo thông tin từ Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), giá trị gia tăng nông nghiệp trên mỗi lao động của Việt Nam năm 2011 đạt chưa tới 400 USD/người, thấp hơn cả Lào và Campuchia. Mặc dù nông nghiệp cũng là lĩnh vực duy nhất của Việt Nam luôn có xuất siêu trong nền kinh tế. Trong vòng gần 3 thập niên, nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng đều đặn, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới với các sản phẩm như gạo, tiêu, điều, sắn, chè, cao su.
Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là tăng trưởng nông nghiệp và năng suất có xu hướng chững lại, tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nông nghiệp giảm dần từ mức bình quân 4,5% giai đoạn 1995-2000 xuống 3,8% giai đoạn 2000-2005 và chỉ còn 3,4% giai đoạn 2006-2012.
Chính vì vậy, để có được những bước đột phá cho ngành nông nghiệp Việt Nam, có lẽ cần có những chính sách sát hữu hiệu giúp đỡ người nông dân một cách toàn diện hơn nữa. Có như vậy ngành nông nghiệp Việt Nam mới có thể phát triển bền vững.
Nhật Hạ tổng hợp

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

Saigon : Cái tên của ngày ….?

Nguồn : Vững Đại Phát 
Saigon : Cái tên của ngày hôm qua
Tác Giả: Phúc Tiến – Người Đô Thị – 4 May 2015
(GNA: Bài viết “khen” Saigon của báo lề đảng?)
Không biết từ bao giờ, trong phòng lưu niệm trên tầng chót của tháp Eiffel – Paris, đã có tên “Sài Gòn” trên bảng tên khoảng cách từ đây đến những thành phố lớn trên thế giới. Trong khi đó, tại đài thiên văn Greenwich, London – nằm ngay trên kinh tuyến gốc số 0, tên “Sài Gòn” được khắc trên bảng tọa độ các đô thị tiêu biểu cho các múi giờ. Tọa độ Sài Gòn là kinh tuyến Đông 106 độ – 43 phút.
Sau năm 1975, nhiều bản đồ thế giới xuất bản ở nước ngoài có ghi tên địa điểm Ho Chi Minh city với hàng chữ chú thích: “formerly Saigon“ (nguyên là Sài Gòn). Thế nhưng, trong mắt nhiều người Việt và nước ngoài, tên Sài Gòn không chỉ là địa danh, không chỉ là hoài niệm xa vắng mà cao hơn nữa từ lâu rồi, đó còn là một địa chỉ quốc tế, một icon – biểu tượng – đầy sức sống kỳ lạ của Việt Nam qua nhiều thế kỷ thương đau.
Poster quảng bá du lich Sài Gòn những năm 1970 của hãng máy bay Air Vietnam
Mở cửa 200 năm trước
Tôi tìm thấy tên Sài Gòn được người Anh viết là “Sai-gong” trong quyển A voyage to Cochinchina in the years 1792-1793 của John Barrow, in năm 1806, cách đây 209 năm! Có lẽ đây là quyển sách xưa nhất bằng tiếng Anh viết về Việt Nam và cũng là quyển sách nước ngoài xưa nhất nhắc đến tên Sài Gòn. Tác giả quyển sách là một nhà nghiên cứu Anh đã từ Batavia (Jakarta-Indonesia) cập bến Sài Gòn vào thời kỳ Nguyễn Ánh đang xây dựng kinh thành Gia Định trở thành hậu cứ lớn để tiến công Tây Sơn. John Barrow ghi nhận “Sai-gong” là nơi nhà vua xứ Đàng Trong đóng đô, hơn nữa còn là thương cảng nhộn nhịp tàu bè đến mua bán, nhất là xuất khẩu gạo. Mặc dầu còn mới mẻ nhưng Sài Gòn đã thay thế được Hội An và Quy Nhơn – hai cảng thị trở nên tiêu điều vì chiến tranh, để mở cửa Đàng Trong ra với bên ngoài. Rất đáng kể, Sài Gòn còn có xưởng đóng tàu theo kiểu Tây dương (châu Âu) và có quân cảng – hậu cứ của hải quân nhà Nguyễn. Khi tác giả có mặt tại “Sai-gong”, tại cảng đã có 7 thương thuyền của Bồ Đào Nha, một chiến hạm Pháp thuộc đội quân của Giám mục Bá Đa Lộc – người hỗ trợ Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn và nhiều thương thuyền khác. Chính chiến hạm Pháp đã đưa Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh đi cầu viện vua Napoleon đệ tam…
Và rồi, hơn 50 năm sau cuộc gặp gỡ Việt-Pháp đó, éo le thay, thực dân Pháp đã đến xâm lược Việt Nam vào năm 1858. Không hạ được Đà Nẵng để tiến chiếm kinh đô Huế, quân Pháp chuyển qua đánh Sài Gòn. Quân nhà Nguyễn gắng sức nhưng rồi thành Gia Định thất thủ ngày 17.2.1859. Cuộc chiếm đóng của người Pháp ở Sài Gòn và đất Nam kỳ sau đó không dễ dàng. Sau bốn năm bình định, đến ngày 15.6.1865, chính quyền Pháp mới chính thức ban hành sắc lệnh lập ra “Ville de Saigon ” – thành phố Sài Gòn. Từ đó, Sài Gòn chuyển qua một quỹ đạo văn minh mới.
Công nghiệp hóa sớm nhất
Người Pháp đã đem văn minh phương Tây đến Sài Gòn trộn với chất phương Đông sẵn có của nó để tạo ra một Sài Gòn mới mẻ và độc đáo. Rất thuận lợi, Sài Gòn đi vào công nghiệp hóa cùng thời những phát minh kỳ vĩ của loài người: xe lửa, máy bay, đèn điện, đường dây thép, điện ảnh… Sau 30 năm xây dựng, người Pháp đã cải biến Sài Gòn thành đô thị hiện đại đầu tiên ở Việt Nam sánh vai cùng nhiều đô thị châu Á đã phát triển trước đó như Singapore, Penang, Hồng Kông, Thượng Hải, Tokyo. Cho đến đầu thế kỷ 20, Sài Gòn đã có được hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và hoàn chỉnh: bưu điện, nhà máy điện, nhà máy nước, công nghiệp đóng tàu, đường nhựa, đường xe lửa, bến cảng và sân bay… Chính nhờ kinh nghiệm xây dựng Sài Gòn và ngay cả phương tiện và nhân lực của Sài Gòn mà người Pháp đã xây dựng tiếp “Hanoi ville”, “Tourane ville” (Đà Nẵng) và một loạt thành phố khác vẫn tồn tại ở Việt Nam.
Nhà hàng và phố xá mang tên Sài Gòn đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới: Paris, London, Sydney… Trong ảnh: “Sài Gòn nhỏ” tại California – Hoa Kỳ
Thời cơ và số phận đã bắt Sài Gòn đi trước trong công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Những nhà máy, công ty, chợ đầu mối, thương xá, ngân hàng, hãng xe đò, xe lửa đầu tiên của Việt Nam đều ra đời từ Sài Gòn. Cũng từ đây, hình thành nên những nghề nghiệp mới: thợ thuyền, kỹ sư, doanh nhân và ngay cả những ngành nghề mới: nhật trình (báo chí), tiểu thuyết, nhà in, nhà sách… Ngay cả về giáo dục, từ Sài Gòn đã “khai sinh” việc giảng dạy chữ quốc ngữ trong trường học và sử dụng chữ quốc ngữ trong công sở và báo chí. Cũng từ Sài Gòn, đã hình thành hệ thống tiểu học – trung học, trường dạy nghề, trường sư phạm, trường cấp tỉnh, trường cấp miền (chỉ riêng đại học, người Pháp mới lập ra trước nhất ở Hà Nội để tạo ra một đối trọng mạnh mẽ với nền giáo dục Nho học lâu đời).
Dòng sông ra biển lớn
Sông Sài Gòn là dòng sông lớn, dễ dàng ngược xuôi ra biển. Vựa lúa Nam bộ và hàng hóa cả nước theo sông Sài Gòn ra với thế giới. Những tuyến đường viễn dương lần lượt ra đời: Sài Gòn-Singapore-Marseille, Sài Gòn-Hongkong-Thượng Hải-Yokohama và xa hơn nữa đến San Francisco và New York. Chẳng mấy chốc, có thêm đường hàng không Sài Gòn-Paris nối châu Âu, Sài Gòn-Hongkong nối với Đông Bắc Á và Mỹ. Những tuyến đường biển đường không, báo chí và viễn thông xuất phát từ Sài Gòn đã mở rộng chân trời, mở rộng tầm nhìn không chỉ cho người Sài Gòn mà còn cho người Việt Nam, người Đông Dương ra với năm châu. Đầu thế kỷ 20, một thế hệ thanh niên mới được các sĩ phu yêu nước nhóm lửa đã mau chóng từ Sài Gòn “xuất dương”, tìm đến những đất nước tiên tiến cả Đông lẫn Tây để học hỏi, kiếm sống và khám phá những tư tưởng cách mạng.
Sài Gòn đã và đang có những giá trị quốc gia và quốc tế không thay thế được. Hãy yêu Sài Gòn hơn nữa, đừng để Sài Gòn bị lãng quên và sa chân vào những tai ương trên những con đường phát triển đô thị thiếu tầm nhìn.
Cho đến trước 1945, Sài Gòn đã rõ nét là một trung tâm giao thương và hàng hải nhộn nhịp, một trung tâm công nghiệp lớn, nhất là sơ chế nông sản, có vị trí quan trọng. Nói như ngôn ngữ bây giờ, Sài Gòn là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng từ Á sang Âu và từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á. Sài Gòn còn là một thành phố mang phong vị Á-Âu, với gần 500 ngàn dân đến từ tứ xứ và nhiều châu lục. Sài Gòn là “thủ đô kinh tế” của Đông Dương, nơi có dinh Toàn quyền, có các tòa lãnh sự và thương vụ của các cường quốc Anh, Mỹ, Nhật và nhiều nước khác. Khi chiến tranh Thái Bình Dương xảy ra năm 1941, người Nhật đã đặt đại bản doanh tại Sài Gòn để điều hành cuộc chiến Đông Nam Á. Sài Gòn đã hứng bom không quân Mỹ nhưng may mắn không bị nhiều tàn phá. Những diễn biến chiến tranh khốc liệt hơn 30 năm sau đó càng làm thế giới biết đến tên Sài Gòn không chỉ liên quan vận mệnh kinh tế mà còn là vận mệnh chính trị của cả Đông Dương và khu vực.
Yêu kiều giữa chiến tranh
Năm 1948, chính quyền Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại và Pháp dựng lên, đặt thủ đô ở Sài Gòn. Lần đầu tiên trong lịch sử, Sài Gòn trở thành trung tâm đầu não về cả hành chính và quân sự cả nước cho một bên trong cuộc chiến. Kế đến năm 1955, Sài Gòn lại tiếp tục làm thủ đô cho miền đất từ vĩ tuyến 17 trở vào của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Trong nửa đầu thập niên 1950, phố xá Sài Gòn bắt đầu có biến đổi một ít so với thời kỳ trước 1945. Nhiều công sở trung ương, công sở ngoại giao, nhiều phố phường thương mại mọc lên. Sài Gòn bắt đầu có cấp quận. Người các tỉnh đổ về tỵ nạn chiến tranh và kiếm sống gia tăng làm thành phố từ 500 ngàn dân tăng lên gấp đôi, gấp ba. Nhiều khu ổ chuột, định cư tạm bợ ra đời: Bàn Cờ, Vườn Chuối, quận 4… Những con kênh lớn như kênh Tàu Hũ bị nhà dân lấn chiếm hai bên bờ. Thành phố phát triển trong chiến tranh, không giữ được quy hoạch cũ, mau chóng xộc xệch.
Từ 1955 đến 1965, Sài Gòn có mười năm yên bình để phục hồi lại vẻ yêu kiều trước chiến tranh. Song sau đó, mười năm kế tiếp từ lúc có những xáo trộn chính trị dồn dập, quân Mỹ đổ vào, cường độ chiến tranh gia tăng khốc liệt thì Sài Gòn bước qua một giai đoạn phát triển gấp gáp. Sài Gòn trở nên một thành phố có đủ sự lãng mạn, cái đẹp vốn có từ thời thuộc địa Pháp đến những dấu ấn mới tự do theo kiểu Mỹ. Cùng lúc đó, Sài Gòn lại phải mang vào những tác động thô bạo và tàn bạo của chiến tranh. Song cũng chính vào thời kỳ phát triển với nhiều mâu thuẫn như thế, Sài Gòn vẫn được thế giới biết đến như một thành phố có sức sống đa dạng, mạnh mẽ, năng động. Tất cả các hoạt động và thành tựu kinh tế, văn hóa, giáo dục, giao lưu quốc tế của Sài Gòn, nhất là con người Sài Gòn, phong cách Sài Gòn có được từ 1865-1975, đã trở thành một tài sản quý giá không thể thiếu, một dấu ấn không thể bác bỏ khi lịch sử sang trang.
Sài Gòn với vốn liếng lịch sử hơn 100 năm đi ra biển lớn, hơn 100 năm đấu tranh và xây dựng đã trở thành một cái tên tự hào chung cho cả nước. Sài Gòn còn là một cái tên quốc tế đã thành danh, một thương hiệu được tin cậy trong và ngoài nước. Những thế hệ Việt Nam đương đại và sau này có hiểu biết được bề dày độc đáo của Sài Gòn mới có thể yêu Sài Gòn sâu hơn nữa. Và không thể không đồng thuận với những thế hệ trước về việc giữ gìn và tôn vinh những giá trị đẹp của Sài Gòn, từ những hàng cây cho đến những kiến trúc và cảnh quan độc đáo, từ những con người cá tính và đóng góp phong phú, từ những ý tưởng và cách nghĩ, cách làm phóng khoáng. Sài Gòn đã và đang có những giá trị quốc gia và quốc tế không thay thế được. Hãy yêu Sài Gòn hơn nữa, đừng để Sài Gòn bị lãng quên và sa chân vào những tai ương trên những con đường phát triển đô thị thiếu tầm nhìn. Đừng để Sài Gòn trở thành một đô thị vắng tên trên bản đồ thế giới!

Bill Nguyễn, triệu phú IT gốc Việt

Nguồn : Vững Đại Phát 
Bill Nguyễn, triệu phú gốc Việt đi lên từ hai bàn tay trắng
Theo Tô Đức – Zing News – 3 May 2015
Xuất thân nghèo khó khi sinh ra trong một gia đình lao động nhập cư vào Mỹ, Bill Nguyen đã tự hứa khi lớn lên sẽ không bao giờ để bản thân phải sống khổ thêm một lần nào nữa
Trở thành triệu phú nhờ biết cách tiêu tiền của người khác
Năm 1992 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong cuộc đời Bill Nguyen. Chàng trai trẻ đến từ Houston, khi đó 21 tuổi, bắt đầu hành trình trở thành triệu phú khi đảm nhiệm vai trò điều hành tại Forefront. Forefront là công ty phần mềm mà chỉ 6 năm sau đã có giá trị lên tới gần 150 triệu USD.
Tiếp tục con đường, gặt hái thành công trong vai trò điều hành 2 công ty khác là Freeloader và Support.com, song chỉ tới khi thành lập Onebox năm 1999, tên tuổi của Bill mới thực sự được biết tới rộng rãi. Đó cũng là lần đầu tiên, Bill sáng lập một và làm chủ một công ty của riêng mình, theo ghi nhận từ FastCompany.
Onebox được thành lập một cách tình cờ. Bắt nguồn từ ý tưởng “gửi fax qua mạng Internet”, Bill tìm đến các công ty đầu tư mạo hiểm để tìm nguồn vốn thực hiện kế hoạch. Onebox đã trở thành một “cú nổ” lớn vào thời điểm đó, khi trang web này giúp các tổ chức, cá nhân gửi các bản fax ảo một cách dễ dàng.
Chỉ sau 18 tháng, Bill bán Onebox với giá 850 triệu USD. Trước đó, tổng số tiền Bill huy động được để gây dựng Onebox chỉ vẻn vẹn 60 triệu USD. Đây cũng là thương vụ thành công nhất của Bill cho tới thời điểm này.
“Có thể ví Bill như một chiếc máy bay. Anh ta biết cách cất cánh một công ty, và cũng biết khi nào nên hạ cánh”, một nhà đầu tư từng làm việc với Bill nhận xét. Thương vụ Onebox đã giúp tên tuổi chàng trai này nổi tiếng và được các nhà đầu tư chú ý.
Sau đó, mặc dù không thực sự thành công với Lala và đặc biệt là ColorLabs, Bill Nguyen vẫn được biết tới như một cái tên mà các nhà đầu tư “không mảy may nghi ngờ”. Thương vụ Lala với số vốn huy động 35 triệu USD, mặc dù không được coi là thành công, vẫn mang về 80 triệu USD khi được Apple mua lại vào năm 2009.
Không muốn lớn lên trong cảnh nghèo khó
Bill không thực sự có mối quan hệ êm ả với cha mẹ mình, những người vốn là dân nhập cư vào Mỹ. Lớn lên trong gia đình những người có thu nhập thấp, sự nghèo khó từ nhỏ đã luôn ám ảnh Bill.
“Tôi lớn lên với suy nghĩ sẽ không để mình tiếp tục có cuộc sống thiếu thốn. Tôi trăn trở và suy nghĩ rất nhiều”, Bill hồi tưởng về thời thơ ấu. 16 tuổi, anh đã chuyển ra ngoài sống tự lập và bắt đầu tham gia những công việc kinh doanh nhỏ đầu tiên.
Năm 16 tuổi, anh kiếm được những khoản lớn đầu tiên với công việc bán hàng, mà cụ thể là xe hơi cũ. Số tiền kiếm được từ công việc này đủ cho chàng trai trẻ trang trải tiền nhà, học phí, và, thậm chí mua được một chiếc Porsche.
Thời gian học đại học, Bill đồng thời đảm nhiệm công việc phân tích tài chính cho American Express, công ty hiện nắm giữ 24% lượng giao dịch tín dụng tại Mỹ. Bỏ học giữa chừng, song 3 năm kinh nghiệm làm việc trong ngành tài chính đã giúp anh biết mình phải làm gì để có thể thành công trong tương lai.
“Bill có khả năng thuyết phục người khác tin vào những gì anh ta nói, cũng như sẵn sàng bỏ tiền ra để mua chúng. Anh ta là nhà thương thuyết giỏi nhất tôi từng biết”, Ross Bott, cựu CEO của Onebox nói. Chính khả năng này đã giúp Bill thành công trong rất nhiều dự án sau này của mình, khi anh thuyết phục được các nhà đầu tư bỏ tiền túi ra để hỗ trợ.
Trăn trở khi chưa thể trở thành tỷ phú
“Luôn tràn đầy năng lượng” là cụm từ người ta thường sử dụng để nói về Bill. Người đàn ông nhỏ con với cân nặng chỉ trên dưới 61 kg này có thể thức xuyên đêm làm việc. Và ngay sáng hôm sau, anh đã cầm vợt chơi bóng bàn với nhân viên. Đã 44 tuổi, song Bill vẫn tràn đầy năng lượng như một chàng trai 20.
Sự hăng hái, năng động của Bill đã thuyết phục được các sinh viên da màu khi họ bầu chàng trai này vào vị trí chủ tịch của hiệp hội sinh viên gốc Phi khi còn học đại học. Bill không có chút liên quan nào về nguồn gốc với lục địa đen, và điều này càng khẳng định sự đặc biệt của triệu phú này.
Điều trăn trở lớn nhất đối với Bill lúc này, là việc chưa thể trở thành tỷ phú. “Đúng là điều đó làm tôi suy nghĩ rất nhiều”, triệu phú này nói trong một bài phỏng vấn với FastCompany. “Tôi có khả năng chịu đựng gian khổ giỏi hơn bất kỳ ai khác, và sẽ tồn tại lâu hơn, bởi vì tôi có thể”

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

Kinh Tế và Chính Trị Xứ Lạ

Nguồn : Vững Đại Phát 
Kinh Tế và Chính Trị Xứ Lạ
Alan Phan
1 May 2015
Dù Mỹ không có ngày lễ vào 30/4 hay 1/5, các đối tác từ châu Á của tôi đều quay về nhà, cho tôi chút thảnh thơi bất ngờ từ hôm nay. Thật thú vị khi buổi sáng mùa xuân, nắng ấm lên, ngồi ăn sáng ở ban công, nhìn thiên nhiên rộng rãi bao dung quanh mình. Lá lại trổi xanh, những cánh hoa magnolia đã rụng hết, thay vào là những hàng cây phượng tím, bàng bạc ký ức về tình yêu học trò. Chỉ những khoảnh khắc khi tâm hồn có dịp chùng xuống, trong yên tĩnh, mới thấy đời đẹp đến thế nào.
Có lẽ các bạn BCA cũng đã nhiều lần tận hưởng những ân phúc “miễn phí” này, khi quyền lực, danh vọng, tài sản, ham muốn…đều tạm biến vào hư không, cho chúng ta “sống” thực với con người của mình.
Tuy vậy, hạnh phúc lúc nào cũng chóng qua. Quay về bàn làm việc, trả lời các Emails cần thiết, liếc qua những tin “xe cán chó” trên những trang mạng Mỹ, Việt….tự nhủ sao thiên hạ có nhiều thì giờ để quan tâm đến các rác rưởi này nhỉ? Rồi đọc những comments trên GNA, Facebook…đôi khi bật cười với những ấu trĩ của các ngài Dư Luận Viên. Hơi ngạc nhiên vì nghe nói nhà nước đang thiếu hụt ngân sách, không biết tiền đâu lại moi ra để gia tăng số lượng Dư Luận Viên? Trung Quốc có đạo binh hơn 400 ngàn chiến sĩ mạng, Việt Nam chắc cũng có hơn 50 ngàn? Đủ thành lập vài sư đoàn bảo vệ Trường Sa thay vì trả lương để các bạn trẻ này chém gió trên mạng?
Những phản hồi của các bạn này thường rất dễ đoán: copy và paste các khẩu hiệu, tuyên truyền…từ báo Nhân Dân nên không liên quan gì đến đề tài thảo luận; mỗi comments phải gồm vài chữ “phản động”; yêu nước là phải yêu đảng, yêu Trung Quốc; và lời khuyên thú vị là “ông già Alan” chỉ nên viết hay cho đăng những bài về kinh tế (theo họ, ở Việt Nam, chính trị và quyền lực hành xử rất độc lập với mọi diễn biến của xã hội…?).
Tôi nhớ có đọc một cuốn sách về nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản Trung Quốc, trong đó Mao Chủ Tịch có vài hướng dẫn cho ban Tuyên Giáo Trung Quốc, đại khái là các đồng chí phải luôn luôn kèm theo những ví dụ sống thực trong những tiểu luận về chính trị về kẻ thù. Không có chuyện thì cứ “bịa” ra, nói chung chung, đừng ghi rõ chi tiết hay thời điểm địa danh (không ai kiểm chứng được). Miễn là ví dụ phải kích động tâm lý quần chúng, gây xúc cảm cao độ. Lập đi lập lại liên tục năm này qua tháng nọ, mọi lời nói dối ngu xuẩn nhất cũng đều trở thành sự thực….
Thực ra, chắc Mao cũng chỉ học phương thức tuyên truyền từ Goebbels của Đức Quốc Xã; hay từ các đàn anh Liên Xô trước đó. Câu diễu nhạo thịnh hành thời đó là Liên Xô có 2 tờ báo : Pravda (Sự Thật) và Izvestia (Tin Tức). Pravda thì không bao giờ có tin tức và Izvestia thì không bao giờ có sự thật.
Ngoài ra, các bạn Dư Luận Viên còn phải hiểu tâm lý là ông già Alan cũng như các đối tượng đánh đấm của các bạn khá bướng bỉnh; luôn luôn làm ngược lại những lời khuyên hay khích tướng.
Nhưng thực ra, có nhiều lý do để tôi không muốn viết về kinh tế Việt Nam:
- Tôi hoàn toàn không tin vào những số liệu từ thống kê hay từ các tài liệu biên soạn (đúng ra là sáng tác) từ các bộ ngành hay doanh nghiệp công, tư. Phần lớn vận hành kinh tế toàn cầu hiện nay đều dựa trên “số liệu” và nếu một bác sĩ biết kết quả thử máu của bệnh nhân là ngụy tạo, thì ông không ngu dại gì để chẩn bệnh hay điều trị.
- Ngoài số liệu, các doanh nhân hay chuyên viên còn dựa dự đoán trên những quyết định của chính quyền và trên trào lưu thay đổi về nhu cầu của thị trường. Hai yếu tố cần: hệ thống chính trị phải “mở” và “kết” với sự tham gia của nhiều nhóm ảnh hưởng; và người tiêu dùng phải có đầy đủ phương tiện và khả năng để thay đổi nhu cầu. Đây là 2 yếu tố không có ớ Việt Nam.
- Mặc cho bao nhiêu tuyên cáo, khuyến nghị, bàn luận…về tái cấu trúc kinh tế (hay chính trị), cơ chế quyền lực và hệ thống ban phát bổng lộc cho phe nhóm…không bao giờ thay đổi; ngay cả sau thời “mở cửa” để cứu nguy. Tôi không tin là nền kinh tế chỉ huy có thể cạnh tranh trong môi trường tự do liên thông của thị trường toàn cầu. Và tôi không nghĩ là nhà cầm quyền muốn thay đổi điều gì trừ khi sự “sống còn” bị đe dọa.
- Hiện giờ, các doanh nghiệp FDI chiếm đến gần 70% của xuất khẩu cũng như tổng lượng sản xuất của Việt Nam. Sự lệ thuộc này sẽ gia tăng thêm khi các hiệp thương tự do (free trade agreements) như TPP, AFTA với Asean, EAEC với Nga, EU, Korean…bắt đầu thực hiện. Phần còn lại của miếng bánh, 30%, thì đã có các tư bản thân hữu và doanh nghiệp nhà nước chia nhau. Cho nên, phân khúc tư nhân sẽ nhỏ hẹp và co cụm không đáng kể trong bức tranh tổng thể. Nếu phân tích hướng đi của kinh tế Việt Nam, chúng ta sẽ có một kết quả chính xác hơn nếu nghiên khảo đào sâu vào khuynh hướng phát triển của FDI, hay tư bản đỏ hay doanh nghiệp nhà nước.
- Thực ra, nhiều đọc giả của GNA cũng không mấy quan tâm đến kinh tế hay chính trị vĩ mô. Những bài viết về kinh tế hấp dẫn với họ là những dự đoán về giá cả chứng khoán, bất động sản, vàng, cách kiếm tiền nhanh vả gọn nhất ….Tôi không phải là chuyên gia về các lĩnh vực này, nhất là sau khi đã mất tiền liên tục ở Việt Nam.
Trên 2 sàn chứng khoán, người kiếm tiền phải là “insider” và dĩ nhiên các đội lái tàu không đăng “quảng cáo”. Bất động sản thì nhiêu khê vì quá nhiều phân khúc và sản phẩm, trong đó yếu tố “địa phương” mang tầm quan trọng nhất. Tôi chỉ biết cảnh báo người mua hãy coi chừng các đồn thổi, đầu cơ và nợ cao…Nếu có khởi nghiệp, các bạn trẻ nên giới hạn mục tiêu ở Việt Nam rồi tìm cách nhân rộng “business model” ra các nước lân cận hay Âu, Mỹ, Úc.
&&&&&&
Nếu nói chuyện kinh tế không được thì phải lảm nhảm về đề tài gì nhỉ? Chuyện thú vị trong tuần rồi là một học sinh 11 tuổi ở Maryland đã sửa lưng TT Obama trong cuộc gặp tại lớp học của em. Trước các bạn học và mạng truyền thông quốc tế, chú bé Osman đã ngắt lời Obama vài lần và ông Obama phải gãi đầu,” có lẽ tôi nói hơi nhiều”. Trong 85 năm qua, tôi cũng rất mong đợi một cậu bé nào biết bảo các ông già “lãnh tụ”, hãy “shut up”.
Một anh bạn trong nhóm Newport Country Club ghé ngang mời đi ăn trưa. Gia tộc anh là người Mỹ đi trên thuyền Mayflower (nhóm tị nạn Âu khai phá Mỹ quốc). Giàu có, thuộc cánh bảo thủ đảng Cộng Hòa, ghét Obama. Trước khi đi, ông hí hửng,” Mày có đọc về chuyện ông TT Việt Nam vừa chửi Mỹ là dã man, phạm bao nhiêu tội ác ở Việt nam không? Việt Nam chỉ biết có Trung Quốc là ân nhân trong mọi tình huống? Đúng là một cái tát vào mặt Obama, vào cái pivot quay về châu Á của ông Tổng Thống và bọn liberals ngây thơ của đảng Dân Chủ. Tao đã nói, Mỹ chỉ nên làm ăn trực tiếp với Trung Quốc, 2 bên phải là đồng minh chiến lược về business. Tránh khiêu khích Trung Quốc và hãy để họ giải quyết các đàn em quanh xứ họ”.
Bữa ăn trưa bây giờ có thể hào hứng hơn vì tôi đang chuẩn bị một tranh luận với anh bạn này. Ít nhất nó sẽ không buồn tẻ như nói chuyện kinh tế Việt Nam với một doanh nhân tử tế.
Alan Phan

Nghề Bồi Bút

Nguồn : Vững Đại Phát 
Nghĩ về chuyện cầm bút và bồi bút
Tác Giả: VietTuSaiGon – RFA – 3 May 2015
Trong vài ngày trở lại đây, kể từ khi lễ kỉ niệm “40 năm giải phóng miền nam” bắt đầu rục rịch cho đến khi nó kết thúc, rồi sang ngày Báo Chí Thế Giới, báo chí ở Việt Nam xuất hiện khá nhiều nhân vật “gương mẫu”, tiêu biểu, từ các đồng chí cựu chiến binh xuất hiện trên truyền hình với những chuyện xuất thần cho đến các đồng chí xuất hiện trên báo, nếu không xuất thần thì cũng xuất chúng, nói chung là xuất…!
Câu chuyện đầu tiên phải nói đến đồng chí Lái, một cựu quân nhân Bắc Việt, từng có thành tích đang bị thương nhưng thấy địch tới, liền xé vải băng vết thương ngay tức thời và nhờ một đồng chí trinh sát kéo giùm khẩu 37mm Canon tới để tiếp tục chiến đấu.
Cái hay ở chỗ loại súng này phải được một tổ tám người nam và mười đến mười hai nữ thanh niên xung phong vừa hè vừa kéo theo từng nhịp mới có thể di chuyển được bởi nó có trọng lượng trên 2000kg khi đứng không và có thể lên đến trên 2500kg khi mang cơ số đạn bên mình nó. Vậy mà một đồng chí trinh sát đã nhanh chóng kéo bốn khẩu lại vị trí chiến đẩu để đồng chí Lái cho “nổ”. Kết quả là có mấy tên địch nữa đi toi!
Chuyện này khá buồn cười bởi nó không thể có thật, người ta nổ đến mức một ông lính Cộng sản có thể ngang với thần thánh, trong phút chốc làm Phù Đổng Thiên Vương. Nhưng thời đại bây giờ không phải như ngày xưa mà khó tìm kiếm thông tin để đọc, để biết về đặc điểm cũng như tính năng của loại vũ khí tương đối cũ hoặc phổ biến nào đó như 37mm Cannon. Vậy mà anh nhà báo tác giả bài viết vẫn hồn nhiên viết bài, gửi đăng và người biên tập, đặc biệt là đồng chí tổng biên tập vốn dĩ có thói quen săm soi từng chữ cũng hồn nhiên cho đăng. Bài hot mà!
Kết quả là câu chuyện chém gió này gây trò cười cho không ít người và một lần nữa nó làm nhiều người cảm thấy buồn, thậm chí tổn thương bởi sự trung thực đã biến mất (chí ít là) trong người cầm bút (này). Bởi vô hình trung, một cách hết sức tự nhiên, một lần nữa, khái niệm bồi bút lại được nhắc đến, nó cho thấy người cầm bút không những cẩu thả, thiếu lòng tự trọng mà còn thiếu cả những kiến thức rất cơ bản trước khi xây dựng một câu chuyện (dù là chuyện để tô son, trét phấn).
Đương nhiên, trong cái buồn cũng có cái vui, bởi lẽ, qua đó, độc giả một lần nữa xác tín về những gì họ hoài nghi, nhìn thấy ở giới cầm bút nhà nước, họ không còn phải phân vân hay lưỡng lự trong chuyện có nên chọn thông tin báo chí nhà nước để làm tiêu điểm truyền thống troing cuộc sống hằng ngày hay không? Và nhiều người chắc chắn đã có câu trả lời dứt khoát, tránh tình trạng nấn ná, lưỡng lự. Đó cũng là cái hay.
Câu chuyện thứ hai, cũng là chuyện nâng bi cho nhân vật, nhưng có khác câu chuyện thứ nhất. Ở câu chuyện thứ hai, nói về một viên công an ở thành phố Đà Nẵng trong đêm sau lễ hội bắn pháo bông, anh đã cúi xuống nhặt rác bỏ vào bao tải giúp người phu quét đường. Và bài báo này xem đây là hành vi đẹp, hết lời ca ngợi viên công an này.
Mới đọc qua cũng thấy rằng xã hội Việt Nam lộn xộn cỡ nào và cách định nghĩa cũng như hiểu về chức năng công việc của một nhà báo như tác giả bài báo này bị cụt cỡ nào. Bởi chức năng cơ bản của một công an không phải là đi nhặt rác. Đương nhiên việc này cũng không thừa nếu như anh ta thực hiện chức năng của mình đầy đủ và nếu thấy thừa thời gian, anh có thể giúp người khác, đó là chuyện rất bình thường, giống như hàng triệu con người khác đang giúp đỡ nhau trong xã hội, chẳng có gì đáng bàn.
Nhưng ở đây, có hai vấn đề, thử hỏi, công an Việt nam có bao giờ làm đúng và đủ chức năng bảo vệ an ninh cho nhân dân? Nếu không muốn nói là họ từng đánh chết người, từng cưỡng chế nhân dân và từng “thấy là hốt liền” những người biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm lãnh hải Việt Nam.
Hơn nữa, nếu là chuyện bình thường thì có gì đáng nói? Sao lại phải ca ngợi như thế? Phải chăng bài báo này muốn lột trần sự xấu tệ của ngành công an và xem hành vì của viên công an trên là một sự bất thường, là tiêu biểu hay gì gì đó?
Khả năng thứ hai là lột trần cái xấu có vẻ như không xãy ra. Nhưng khả năng viết bài để ca ngợi “công an nhân dân” là chắn chắn có. Trong khi đó, một nhà báo, khi ca ngợi một vấn đề gì đó, trước nhất phải coi lại bản chất cũng như sứ mệnh và chức năng của đối tượng. Khi mà ngay trong chức năng, sứ mệnh của bản thân chưa bao giờ trọn vẹn lại đi diễn trò để được ca ngợi là chuyện quá tệ, không đáng bàn, thậm chí đáng khinh.
Ngược lại, nếu như đối tượng đã làm xong chức năng, sứ mệnh của bản thân và muốn chia sẻ thời gian rảnh rỗi của bản thân bằng cách giúp một ai đó thì cũng là chuyện bình thường. Trừ khi xã hội đó không bình thường, cách định nghĩa xã hội của người chứng kiến sự việc cũng không bình thường thì cái nhìn của người ta trở nên bất thường và bất kì việc cỏn con nào cũng xé cho to.
Và hơn hết, khi xã hội quá hiếm chuyện tốt, hiếm nghĩa cử hay hành vi tốt, một chuyện cỏn con cũng mang ra ca ngợi, nhào nặn nó thành một hành vi tiêu biểu hoặc một hiện tượng có tầm vóc thì rõ ràng là xã hội đó bất ổn. Và kẻ ca ngợi, thần thánh hóa nó quá thiển cận, nếu không muốn nói là đánh mất lòng tự trọng cũng như khả năng nhận định giá trị con người thông qua chức năng và sứ mệnh của công việc ở một người cầm bút.
Điều này chỉ chứng minh rằng báo chí nhà nước vốn quen ca ngợi của Việt Nam hiện tại đã trở nên trơ trẽn và không còn khả năng căn bản nhất của báo chí là ghi chép thực tại, nhìn nhận và đánh giá thực tại bằng một cách nào đó khách quan nhất.
Ngày Báo Chí Quốc Tế, tự dưng thấy báo chí Việt Nam vừa có chút gì đó khôi hài, lại vừa có điều gì đó thật khó nói, chí ít là cũng khó nói về giá trị, phẩm cách của người cầm bút nhà nước trong hiện tại. Thật đáng buồn và khôi hài!
VietTuSaiGon

Bướm Việt Trong Đêm Mã Lai

Nguồn : Vững Đại Phát 
Những cánh bướm đêm dập dìu trong bóng tối
Mặc Lâm, phóng sự từ Malaysia – RFA – 2 May 2015
Nếu người Việt hải ngoại tự hào với con phố Bolsa nơi có Little Saigon mà họ gọi một cách thân thương là Sài Gòn nhỏ thì khách du lịch từ Việt Nam sang Singapore có thể ghé quán Little Việt Nam nằm trên đại lộ Guillemard gần với con lộ Geylang để thưởng thức các món thuần Việt, hay xa hơn, tại Kuala Lumpur, một quán Little Việt Nam khác nằm trên đường Jalan Alor sẽ làm người xa nhà ngạc nhiên vì ở thành phố mà món ăn do người Hoa làm chủ nhưng một quán ăn nhỏ bé Việt Nam lại có thể đông đúc như vậy.
Một bài toán không lời giải
Singapore và Malaysia không những chỉ có nhà hàng mang tên Little Việt Nam mà nó còn những thứ Việt Nam khác đang sinh hoạt tại hai quốc gia này. Sự nhộn nhịp khi đêm xuống của một cộng đồng các cô gái từ các nước trong đó nhiều nhất là Việt Nam sang bán dâm đang là một bài toán không lời giải cho các tổ chức quan tâm về vấn đề buôn người trên khắp thế giới.
Singapore cũng giống như Thái Lan, cho phép thành lập các khu đèn đỏ hoạt động dưới sự kiểm soát trong một chừng mực nào đó của chính phủ. Khu Keong Saik trước đây và Geylang hay Joo Chiat bây giờ được vận hành bởi những hội kín của người Hoa. Giống như các hoạt động mãi dâm bất hợp pháp, dù hợp pháp chăng đi nữa thì nguồn hàng mới vẫn cần tìm kiếm, dụ dỗ có khi lừa bịp để cung cấp cho khách làng chơi. Việt Nam đã có sẵn đường giây lâu đời của các má mì người Việt lẫn Hoa hoạt động mà hơn một lần báo chí Việt Nam khui ra là xuất phát từ Trung Quốc.
Những cô gái Việt sang Singapore phần lớn đi một mình được sự hướng dẫn bằng điện thoại từ Geylang. Chấp nhận ra đi cô sẽ được ứng trước một số tiền tương đương 1.000 đô la Mỹ và sau đó mỗi tháng cộng với tiền lời 20% khiến cô khó mà trả hết số nợ ngày một tăng cao này. Ở Singapore các cô còn phải cạnh tranh với các cô gái đến từ nhiều nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka ngay cả với Campuchia nữa nên thu nhập không thể đủ để thanh toán các khoản chi tiêu trong đó có món nợ của các má mì đàn ông lẫn đàn bà, đa số là người Tàu nói tiếng Việt.
Khác với Singapore, chỉ cần băng qua biên giới thì thành phố Johor Bahru của Malaysia sẽ chào đón các cô gái Việt với nhiều cơ hội thành công hơn.
Johor Bahru có không ít tụ điểm về đêm và mặc dù là một quốc gia Hồi giáo trên 60% tín đồ, Malaysia tỏ ra khoan dung hơn Indonesia và các quốc gia hồi giáo khác.
Điểm đặc biệt mà người ta có thể nhận ra không cần bàn cãi đó là phụ nữ của quốc gia này không bán dâm trong tất cả các khu vực ăn chơi. Phụ nữ Mã ra phố trong trang phục phương Tây lẫn trong những khăn choàng của Hồi giáo. Những chiếc hijab choàng đầu sặc sỡ làm cho đất nước này xinh xắn hơn so với những bộ trang phục màu đen lạnh lùng và khép kín.
Bộ luật Sharia của Hồi giáo Malaysia không bao giờ tha thứ cho việc mua bán dâm. Đây là tội ác và báng bổ thần thánh có thể bị ném đá đến chết hay ít nhất cũng phạt roi cho tới tàn tật cả đời
Công việc mà người phụ nữ Malaysia cho là đáng xấu hổ này lại là nguồn khai thác cho các cô gái Việt. Nếu so với Singapore thì Malaysia là chốn thiên đàng cho nghề mãi dâm mặc dù lâu lâu cũng có một vụ càn quét của cảnh sát Mã. Cách đây ít lâu vào đêm 19 tháng 12 năm 2014 quán The Zone ở đường Ibrahim Sultan, thành phố Johor Bahru cảnh sát đã bắt giữ một số gái Việt nhưng các cô lại xuất hiện vài ngày sau đó và ánh đèn của The Zone tiếp tục nhấp nháy trở lại.
Từ Johor Bahru, 184 cây số về hướng Nam là thành phố cổ kính Malacca. Nơi đây ban ngày du khách không thấy hình dạng nào của sự ăn chơi nhưng khi màn đêm buông xuống thì những tụ điểm lên đèn và trong những quán bar đó toàn những cô gái Việt Nam ngồi rót bia cho khách với một thứ ngôn ngữ duy nhất là tiếng Hoa.
Khách làng chơi tại Malacca hầu hết du lịch tour từ nhiều nước của cộng đồng nói tiếng Hoa như Đài Loan, Macau, Hongkong, Singapore và dĩ nhiên nhiều nhất vẫn là Trung Quốc đại lục. Tất cả những quốc gia nói tiếng Hoa ấy được các cô gái Việt gọi chung là người Tàu hay tiếng Tàu và khi giao tiếp với họ chỉ cần học vài tiếng phổ thông là đủ.
Chấp nhận hoàn cảnh
Giống như hầu hết các quán Bar nổi tiếng khác của Malaysia, tại Malacca tiếp viên được chia 20 Ringgit (tiền Mã) khi khui được 5 chai bia cho khách với giá bán 25 Ringgit một chai, tương đương với 7 đô la Mỹ. Mỗi đêm nếu may mắn có nhiều khách tiền khui bia có thể lên tới 50 đô la đó là chưa kể tiền bo khi ngồi với khách.
Tuy nhiên hiếm khi cô gái nào chịu ngồi với khách mà không rủ rê họ để bán dâm. Nếu có nhan sắc và giỏi tiếng Tàu thì có thể ngồi với khách nhưng thiếu hai yếu tố này thì con đường duy nhất kiếm tiền là phải bán thân. Không ít người trong các cô gái ấy là công nhân xuất khẩu lao động, họ đến từ khắp nơi trên đất nước Việt Nam chứ không riêng gì gái miền Tây như định kiến của báo chí trong nước. Do việc làm không đủ họ bỏ trốn ra ngoài làm chui và con đường mãi dâm đến với họ không phải là khó khăn dưới sự săn đuổi của những cô gái giống như họ nhưng bây giờ đã trở thành mối lái do tuổi tác hay bệnh tật.
Một cô gái kể lại hoàn cảnh khó khăn khi đi lao động tại Malaysia, từ Ayer Hiltam cách Malacca 40 cây số cô nói:
“Nói chung là theo hoàn cảnh nào phải chấp nhận. Gia đình khó khăn thì bên này phải chịu khó làm kiếm tiền giúp gia đình. Chồng cháu bị tai nạn ở chân không đi làm được cháu phải sang đây làm. Cháu ký hai năm nhưng hơn năm thì công ty không có việc nên lên đây làm chui. Làm có tiền rời mới tính sau này nhờ các anh này làm giấy tờ rồi về.”
Không phải ai cũng chịu đựng như cô Lam, một cô gái khác gốc gác Thanh Hóa cho biết con đường mà cô theo từ khi sang Malaysia 2 năm về trước:
“Nhà em ngoài Bắc thì làm lúa làm rẫy, trồng mía trồng trà làm ruộng. Lần đầu tiên thì con bạn hồi đó đi làm công nhân nhưng hồi đó lương thấp thấy bạn đi về nhiều tiền nên ham. Nó nói cho số điện thoại bên đây rồi tự ra sân bay, vé thì nó đặt giúm cứ tự ra sân bay tự đi. Cũng sợ lắm nhưng kệ, đi tới đâu thì điện thoại dẫn tới đấy. Thấy người ta nói chuyện giống như bên Việt Nam xem phim mà không có phiên dịch, chẳng hiểu gì hết cứ lắc lắc không thôi.”
Từ Malacca cách thủ đô Kuala Lumpur 145 cây số là ngôi tháp đôi nổi tiếng Petronas Twin Tower. Dọc bên hông ngôi tháp đôi này là đường Jalan P. Ramlee nơi có hai tụ điểm cũng nổi tiếng không kém ngôi tháp Petronas đó là câu lạc bộ Beach và Thai Club, hai quán bar có chiêu đãi viên toàn người Việt Nam.
Beach nổi tiếng đến nỗi bất cứ xe taxi nào tại Kuala Lumpur cũng đều phải biết. Dáng vẻ sang trọng chứa bên trong hàng trăm cô gái Việt mỗi đêm đã làm cho Beach có tên tuổi so với các nơi ăn chơi về đêm khác của Kuala Lumpur. 80% khách vào đây là người Tàu còn lại là Tây và hiếm lắm mới có vài người đàn ông bản xứ. Những cô gái trẻ từ 18 tới 25 lượn lờ trong quán và sẵn lòng chia sẻ tiếng cười của mình với khách mặc dù trước đó họ có bị chủ nợ đòi hay một cú phone xin tiền từ nhà gọi sang báo tin người thân trong gia đình mang trọng bệnh
Các cô không hẳn là trẻ hết, trong đó cũng có người mà tuổi tác đã làm cho khách phải kín đáo nhăn mặt. Trang là một cô gái như thế mặc dù tuổi chưa quá 35 nhưng sự lo âu đã nằm trọn trên đuôi mắt. Nói với chúng tôi trước chai bia sắp cạn Trang kể:
“Có bà chị kêu em qua nấu ăn cho đào, phụ nấu ăn cho nhà bả. Qua nấu ăn thời gian thì kinh tế bả khó khăn bả nói thôi giờ nghĩ nấu ăn đi vì đào nó ăn tự túc hết rồi, vậy thì thôi giờ em đi làm luôn đi. Ba tháng sau học tiếng, ráng học. Nói chung còn thiếu bả 3.000 giờ ráng làm để trả.”
Sau một hồi chạy quanh đâu đó, Trang trở lại bàn và kể nhiều hơn về gia đình cô tại Long An, trong đó động cơ thúc đẩy cô sang Malaysia chính là chồng mình do đã liên tục sách nhiễu tình dục đối với người vợ đã quá kiệt sức sau những giờ làm việc tất bật, Trang kể:
“Bây giờ nói chung em không biết may giày nhưng mà cách xếp giày thì em biết hết rồi, giày Nike đó chuyên nghiệp về giày Nike. Cứ 6 giờ là có mặt và ngày nào cũng tăng ca bắt buộc phải tăng ca tới 7 giờ sau 7 giờ ngày em tăng ca thì nhà em gần nhà mấy chị hàng bông, trước khi làm Nike nhà em bán hàng bông mà, sau giờ đó thì em chở ra chợ em sang rồi 7 giờ tới 8 giờ em về tới nhà. Cơm nước giặt đồ quay qua quay lại tắm rửa con cái ngủ hết thì em lặt ớt. Lặt ớt tới 11-12 giờ khuya ngủ được một miếng tới 3 giờ em dậy đi bán rồi.
Nói chung là nó đòi quan hệ. Thật sự thì quá mỏi mệt luôn ngày nào cũng như ngày nấy làm sao chịu nỗi? Em mới nói một tuần em chỉ cho quan hệ một lần vợ chồng ai cũng vậy không có ai quan hệ nhiều, phụ nữ mà.”
Đối diện xéo góc với Beach là Thai Club, có lẽ do một người Thái làm chủ. Phong cách Thái lộ rõ khi bên hông của quán bar này là một chiếc miếu thờ Phật bốn mặt mà trước khi vào quán các cô gái Việt ghé vào thắp nhang thành kính cầu xin cho buôn may bán đắt. Sát với Thái Club là quán bán thức ăn Việt Nam có tên Tiệm Cà Phê Việt Nam. Ngôi quán nhỏ nhắn có nhân viên người Việt rất dễ thương trải lòng mọi chuyện xảy ra tại đây để khách thấy được bức tranh tổng thể cuộc sống của hàng ngàn cô gái Việt đang bơi lội trong chiếc ao nhỏ bé mang tên Kuala Lumpur để bán thân xứ người.
Từ con đường Jalan P. Ramlee đến một con đường nhỏ khác có tên Jalan Alor không bao xa các cô gái thường ghé một quán Việt Nam ở đó để ăn uống, tán gẫu trước và sau khi làm việc tại Beach hay Thai Club. Quán nhỏ, bán nhiều thức ăn Việt và khách chủ yếu là công nhân xuất khẩu lao động hay những cánh bướm đêm của Việt Nam. Người ta có thể thưởng thức một tô phở nóng đặc trưng Hà Nội hay bánh hỏi heo quay đặc sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chủ quán có vẻ biết khai thác tâm lý người xa quê khi không quên một món mà không người miền Nam nào lại không biết đó là bánh mì Việt Nam.
Trước cửa quán là chiếc xe bánh mì đầy thịt ba rọi, xíu mại, thịt nướng cùng rau chua khiến hình ảnh một Sài Gòn trong lòng bùng dậy ấm áp xoa dịu chút gì đó trăn trở và chen lẫn hối hận của các cô gái tha phương
Họ như những cánh bướm đêm, sặc sỡ và lười biếng từ ăn nói tới đi đứng, chuyện trò. Có lẽ họ quá mỏi mệt khi phải đối phó với nhiều thứ bên cạnh việc hằng đêm phải làm chuyện mà không người đàn bà nào muốn. Những khuôn mặt của nhiều vùng quê Việt Nam từ Cà Mau đến Thanh Hóa, Lạng Sơn…tại đây họ không còn phân biệt vùng miền mà chính yếu sự phân loại ấy nằm ở trong ruột những cuốn hộ chiếu mang giòng chữ Hộ chiếu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các con dấu ở phi trường hay cửa khẩu của Malaysia sẽ nói lên người cầm nó trong tình trạng nào, hợp pháp hay bất hợp pháp trước pháp luật của Malaysia.
Nghị định khung miễn thị thực Visa trong khối ASEAN được ký từ năm 2006 cho phép thời gian lưu trú của công dân các nước trong khối ASEAN không quá 14 ngày đối với Brunei và Myanmar, không quá 21 ngày đối với Philippines, không quá 30 ngày đối với Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Thái Lan Việt Nam và Singapore.
Ba mươi ngày nhập cảnh vào các nước Đông nam á là khoảng thời gian mà ASEAN tính tới nhằm ngăn chặn tệ nạn lao động chui qua con đường du lịch. Thời gian ít ỏi không cho phép người nước khác mua vé máy bay trở về nhà rồi tiếp tục sang làm việc với một lần nhập cảnh mới. Tuy nhiên sự tính toán này tỏ ra không hiệu quả đối với lao động xuất khẩu của Việt Nam và lại càng không thể áp dụng với các cô gái hành nghề mãi dâm đang tràn ngập đất nước Malaysia.
Cầm trên tay cuốn hộ chiếu chưa một lần đóng dấu không ít các cô gái Việt Nam bây giờ mới biết sự quan trọng của những trang giấy trắng tinh này. Từ Việt Nam có cô nhờ luôn công ty môi giới làm sẵn hộ chiếu cho mình, khi lên máy bay cuốn hộ chiếu ấy do người đại diện công ty cầm giữ, bước xuống phi trường về tới chỗ làm việc họ cũng không có cơ hội nhìn thấy nó vì chủ nhân giữ lại để tránh việc họ trốn ra ngoài làm chui.
Con đường của một cuốn hộ chiếu theo chân công dân Việt còn lắm gian nan nữa nếu chủ nhân của nó có ý định trốn lại Malaysia để làm việc bất kể tình trạng di dân bất hợp pháp của mình.
Sự liều lĩnh ấy dù sao tồn tại được cũng nhờ vào các mánh khóe cộng với sự tiếp tay của các nhân viên chính phủ của hai nước cấp và chấp nhận hộ chiếu Việt Nam. Các cô gái hành nghề mãi dâm trên toàn đất nước Malaysia có cùng một cách để ở lại cho dù tấm hộ chiếu của họ thuộc loại nào. Có ba loại hộ chiếu cùng xuất hiện tại đây: Hộ chiếu chết, hộ chiếu chốt và hộ chiếu trắng.
Hộ chiếu chết là hộ chiếu đã hết hạn từ lâu nhưng chủ nhân của nó không buồn ngó ngàng gì tới cho đến khi có ý định trở về Việt Nam thì tính sau. Hộ chiếu “chốt” là khi hết hạn người cầm nó quay về Thái Lan, sau đó nhập cảnh lại vào Malaysia để có con dấu thị thực mới. Hộ hiếu trắng là người cầm nó quay hẳn về Việt Nam làm một cuốn hộ chiếu mới để quay lại Mã.
Cô gái đến từ Thanh Hóa tên Thuần cho biết cách mà một người muốn vào lại Malaysia qua việc đi chốt, tức là đi đóng dấu tại cửa khẩu Malaysia và Thái Lan:
“Đi chốt (hay chốp) là cứ một tháng đi một lần. Thí dụ như mùng bốn tháng trước mùng bốn tháng này là một tháng nhưng phải đi trước khoảng 27-28 chứ không để tới mùng bốn. Hai bảy hai tám ra bến xe mua vé đi Thái. Từ Malacca sang tới Thái Lan sáng hôm sau qua khỏi cửa khẩu của Mã xong rồi vô Thái nhập cảnh trong Thái đi chốt là qua Thái xong nhập cảnh vô Mã Lai lại thì tốn ít tiền chứ vể Việt Nam qua lại rất khó. Ba tháng mới về nhà về Việt Nam một lần. Bên này đi chốt sang Thái thì ba lần phải về Việt Nam xong quay sang bằng hộ chiếu mới. Về Việt Nam đổi passport mới xong lại quay sang đi chốt tiếp.”
Nếu hộ chiếu quá cũ thì đi chốt sẽ bị từ chối và có thể vào tù. Có hai cách để tránh tình trạng đi chốt liên tục mỗi tháng. Cách thứ nhất đóng dấu nhập cảnh giả, cách thứ hai quay về việt Nam làm hộ chiếu mới hay hộ chiếu trắng.
Cách thứ nhất có rất nhiều người theo vì ít tốn kém hơn nữa cảnh sát Mã có hỏi thì cũng không biết được con dấu giả hay thật ngoại trừ nhân viên của sở di trú dưới tên tắt là ZELA.
Theo cô Thuận thì cô chọn cách thứ hai vì chỉ với một số tiền vừa phải là có thể an tâm quay lại Malaysia mà không sợ pháp luật gõ cửa:
“Mình không muốn bản cũ nên đổi cái mới. Ra Hà Nội đổi thì có hai trăm ngàn nhưng mà lâu và lằng nhằng lắm. Môi giới thì nhanh cho tiền chúng nó là xong. Làm đổi mới chỉ trong ngày lấy thì một triệu ba. Nếu ba ngày lấy thì 600 ngàn còn nửa tháng mới lấy thì 200 ngàn.”
Không có tiền như các cô gái sống về đêm, công nhân xuất khẩu lao động mỗi khi muốn trở về Việt Nam thì cách duy nhất là nhờ môi giới với đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia, một công nhân người Phú Thọ cho biết:
“Thì chúng cháu phải nhờ môi giới ở đây để đưa lên Đại sứ quán người ta làm thù tục giấy tờ cho bọn cháu về. Có nghĩa là trả tiền người ta lo cho mình về chắc cũng tầm 2 nghìn hay 2 nghìn mốt gì đó. Hai nghìn đó thì bọn cháu phải làm việc trong 3 tháng.”
Vài ngày trước, hôm thứ ba ngày 21 tháng 4 năm 2015 một cuộc hội thảo mang tên Xây dựng chương trình hành động phòng chống mua bán người giai đoạn 2016-2020 do Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm của Chính phủ tổ chức tại TP.HCM cho biết mỗi năm có 5.000 phụ nữ sang Singapore và Malaysia hành nghể mãi dâm. Con số này thật ra đã bớt xuống nếu so với thống kê của Cơ quan di trú Malaysia cho biết có ít nhất 18 ngàn người hành nghề mãi dâm trong đó gái Việt Nam là hơn 8 ngàn người.
Đầu năm nay một quán bar tại vùng Sitiawan bị cơ quan ZELA ập vào bắt giữ hơn 40 cô gái Việt nhưng chỉ sáng hôm sau hầu hết các cô đều được chủ nhân chuộc ra và diễn tiến này lập lại sau đó hai tháng đối với hai câu lạc bộ Beach và Thai Club tại Kuala Lumpur.
Luật Malaysia quy định nếu bị phát hiện nhập cảnh và ở quá thời hạn người cầm hộ chiếu sẽ bị giam giữ hai tháng sau đó trục xuất về nơi xuất phát. Tuy nhiên ít có người bị giam hay trục xuất vì đa số đã được lót tay để cho qua và tiếp tục ở lại hành nghề.
Chính phủ cũng không thể truy tố chủ nhân các quán bar về tội buôn người cho dù chỉ cần bằng chứng họ cho mượn tiền và buộc phải làm việc cho họ là đủ cấu thành tội phạm. Lý do là không một cô gái Việt nào dám nói ra sự thật vì sợ trả thù và cũng sợ hết đường làm ăn. Hơn nữa đối với các nạn nhân thì việc má mì cho mượn tiền xuất phát từ lòng tốt và truyền thống người Việt không nên lấy oán trả ơn.
Những ký sinh sống bám vào mồ hôi của các cô gái Việt dưới nhiều hình thức: cho thuê nhà, cho vay lấy lãi, môi giới hộ chiếu, môi giới bán dâm…tất cả đều là dạng buôn người nhưng nếu tìm người chứng thì không ai dám đứng ra vì hệ thống dày dặc của bang hội người Hoa.
Đã từng có vụ giết người được cảnh sát cho là bịt miệng nhân chứng xảy ra và hình ảnh cô gái Việt Nam nằm chết sóng xoài trong một quán bar đã khiến hầu hết các cô gái Việt chết khiếp.
Mạng lưới mafia hay đường dây buôn người tại Mã chưa bao giờ bị phát hiện mặc dù liên tục bị cảnh sát theo dõi. Giống như hầu hết các tổ chức buôn người trên thế giới, những đồng tiền hối lộ luôn là đồng tiền khôn và sự thật hiển nhiên không một quốc gia Đông nam á nào lại từ chối việc được hối lộ.
Nhưng có lẽ sức mạnh đồng tiền mới chính là lý do khiến các cô im lặng. Thu nhập một đêm tại Beach hay Thai Club có thể từ 1 tới 2 trăm đô la Mỹ đã vây hãm thân thể họ trong vòng tròn son phấn. Cho tới khi son phấn phai nhạt thì con đường trở thành má mì dẫn dắt các cô gái khác lại tiếp tục làm cho vòng tròn sinh sản của những cánh bướm đêm sang một chu kỳ khác.
Bốn mươi năm đã qua kể từ ngày Văn Cao sáng tác bài Mùa Xuân đầu tiên, người Việt những tưởng cái mùa xuân đáng ao ước ấy sẽ vĩnh viễn trở về trên đất nước Việt Nam. Có đâu 40 năm đã qua mà mùa xuân chỉ xuất hiện về đêm, qua những cánh bướm tả tơi nơi thành phố xa lạ và không hề được thông cảm cho nhịp đập của những đôi cánh ấy.